II. TỐNG THÁI TÔNG
QUYỂN 32: NĂM THUẦN HÓA THỨ 2 (TÂN MÃO, 991)
Bắt đầu từ tháng giêng năm Thuần Hóa thứ 2 đời Thái Tông đến tháng chạp cùng năm.
[1] Mùa xuân, tháng giêng, trước đây các chức Cung phụng quan, Điện trực có người không được thăng chức suốt 40 năm. Ngày Ất Dậu, bắt đầu đặt chức Nội điện Sùng ban trên Cung phụng quan, chức Tả hữu Thị cấm trên Điện trực, định mức lương bổng và lần lượt bổ nhiệm. Đổi chức Điện tiền Thừa chỉ thành Tam ban Phụng chức; năm Đoan Củng từng đặt chức Tá chức Thừa chỉ, đến nay đổi thành Tam ban Tá chức. Trước kia có chức Văn ban Thừa chỉ, thường chọn người có tài văn võ qua thi tuyển cung tên để đảm nhiệm. Sau năm Đoan Củng, các chức này đều được thăng chức hoặc qua đời, nên không đặt lại nữa.
[2] Vua từng bàn luận với các cận thần về tướng soái, nói rằng: “Võ thần đời trước khó kiểm soát. Nếu muốn di chuyển họ, trước tiên phải điều binh phòng ngự, sau đó mới ban chiếu. Nếu ân huệ quá dễ dãi, hơi có chút sơ suất, thì các phiên trấn bốn phương sẽ như bầy chó sủa loạn. Đời Chu Thế Tông, An Thẩm Kỳ từ Tương Dương về triều, vui mừng khôn xiết, Vua thân hành đến phủ ông ta. Nay không còn việc như vậy nữa.”
Lữ Mông Chính nói: “Bề trên kiểm soát kẻ dưới, như tay điều khiển ngón tay, như vậy mới hợp lý. Nếu đuôi to không lay được, làm sao đạt được trật tự?”
Vua nói: “Hiện nay từ Mục bá đến quân sĩ đều hiểu ý Trẫm. Nếu hơi nghe thấy điều sai trái, sẽ không thể nào khoan dung, vì vậy ai nấy đều cố gắng kiểm điểm bản thân.”
Vương Miễn nói: “Đời Chu, Lý Cốc làm Tể tướng đi chiêu thảo Hoài Nam, cuối cùng không có hiệu quả gì nổi bật.”
Vua nói: “Trẫm khi ấy còn ở trong quân đội, đã chứng kiến tất cả. Lý Cốc chỉ ngồi trên cao, các tướng hiếm khi gặp mặt. Nếu có gặp, thì lại sai quan lại dắt vào, với vị trí của một tướng quân mà phải cúi chào như thế, thật quá sơ sài. Lúc rút trại, nếu không có Lý Trọng Tiến dẫn quân tinh nhuệ đến cứu viện, suýt nữa đã gặp cảnh thất bại thảm hại.”
[3] Tháng hai, Vua sửa sang chính điện, trang trí nhiều màu sắc. Tả Chánh ngôn, Trực Sử quán Tạ Bí dâng sớ can ngăn. Ngày Quý Sửu, Vua ra lệnh bỏ hết các họa tiết màu, chỉ tô bằng màu đất đỏ và trắng.
[4] Ngày Đinh Tỵ, Lương Châu quan sát sứ, phán Hùng Châu sự Lưu Phúc mất, được truy tặng Thái phó, Trung Chính tiết độ sứ. Phúc là người võ biền, không biết chữ, nhưng cai quản thuộc hạ có phương lược, chính sự giản dị, người dân rất tiện lợi. Ông ở Hùng Châu năm năm, trong cõi yên ổn, dân chúng chặn quan chuyển vận sứ, xin được kể lại công tích trị an của ông, dâng tấu về triều đình, Vua xuống chiếu cho dựng bia “Di Ái” ngoài cửa nha môn. Khi đã quý hiển, các con thường khuyên Phúc xây nhà lớn, Phúc nổi giận mà rằng: “Ta hưởng bổng lộc dày, đủ để thuê nhà che chở cho các ngươi, vốn nên dâng mình cho nước, chưa có tấc thành tích nào để báo đền ơn nước, há có thể lo xây nhà cửa để an thân sao!” Rốt cuộc không cho phép. Sau khi mất, Vua nghe lời đó, ban cho các con ông năm ngàn lạng bạc trắng, sai mua nhà để ở.
[5] Tam ty từng dâng kiến nghị rằng thuế má ở Kiếm Ngoại nhẹ, Vua xuống chiếu sai Giám sát ngự sử Trương Quan đi xe trạm đi khắp các châu, nhân đó lệnh tăng thuế nhẹ. Quan dâng sớ nói: “Dân xa dễ động mà khó yên, chuyên tâm vỗ về, còn lo họ mất chỗ nương thân, huống chi tăng thuế để làm phiền họ? Giả sử tích trữ lúa gạo đầy đủ để chuyển về kinh đô, càng thêm làm mệt sức vận chuyển, vốn không thể được. Phân binh để kiếm ăn, cũng chẳng phải kế an toàn, chỉ chuốc thêm oán giận từ dân, chưa thấy lợi ích gì cho quốc gia.” Vua rất đồng ý lời tâu, bèn giữ Quan lại, không sai đi nữa.
Sau đó, Quan dâng sớ tâu rằng:
“Thần nhờ ân sủng của bệ hạ, được giữ chức vụ giám sát, mỗi khi đến ngày các quan vào chầu, đứng phân ban ở sân triều, xem xét những kẻ không tuân nghi lễ thì tâu lên, nhân thấy bệ hạ nhân từ khoan dung, thường cùng các cận thần bàn luận chính sự, lời nói đức hạnh qua lại, cũng khá phiền lao. Đến như các quan phụ trách việc hành chính, vâng lệnh thuận theo, sổ sách bề bộn, đều tâu lên trên, không chỉ làm mất lễ tôn kính bề trên, mà thực cũng làm hỏng phép nước. Huống chi đạo của đế vương, hành động thì sử quan bên trái ghi chép, lời nói thì sử quan bên phải ghi chép, lưu lại trong sử sách, truyền làm khuôn phép, không thể không thận trọng. Còn những việc cấp bách hiện nay, Hung Nô chưa diệt, biên cương còn náo động, âm dương chưa điều hòa, kho tàng còn trống rỗng, thuần phác chưa trở lại, xa xỉ còn thịnh hành, huyện đạo chưa yên ổn, dân phiêu tán còn nhiều, hình pháp chưa định, lệnh cấm còn nghiêm ngặt, điển chương hỏng bỏ chưa khôi phục, đại lễ phong thiện còn thiếu, những việc này đều là việc cấp bách của triều đình. Thành mong bệ hạ trong lúc ngơi nghỉ sau khi xử lý việc triều chính, hãy đối đãi tử tế với các đại thần[1], cùng bàn luận, để họ có thể thổ lộ tâm can, cùng nhau suy nghĩ tận lực, thì nguồn gốc của việc trị nước, có gì mà không đạt được.
Thần từng đọc sử nhà Đường, thấy vào đầu niên hiệu Trinh Quan, triều đình thiết lập Sùng Văn Quán, lệnh cho các học sĩ và bậc kỳ lão thay nhau vào cung, khi nhà Vua rảnh việc triều chính thì dẫn họ vào nội điện, giảng luận văn nghĩa, thảo luận chính sự thời cuộc. Đôi khi kéo dài đến tối mà không biết mệt, hoặc đến nửa đêm mới nghỉ. Những việc này đều được ghi chép trong sử sách, lưu truyền mãi mãi. Huống chi bệ hạ hiện tại, tả hữu trước sau đều là bậc đại nhân quân tử, mong bệ hạ ngồi ngay ngắn, thu thập tinh thần, buông bỏ những việc thường ngày[2], nuôi dưỡng khí chất thanh cao, ra sắc chỉ sâu sắc cho các cận thần[3], phát huy phong tục chân chính, trên thì làm rạng rỡ công đức vô lượng của tổ tiên, dưới thì xây dựng sự nghiệp vững chắc cho con cháu. Nhờ đó, thời kỳ Thành, Khang, Văn, Cảnh sẽ không còn là chuyện riêng của quá khứ, mà Nghiêu, Thuấn, Vũ, Thang cũng có thể được noi gương ở hiện tại. So với việc chỉ lo tính toán tiền bạc, xem xét chi ly, dùng thời gian hạn hẹp để làm những việc vụn vặt không cùng, thì sao có thể đem ra so sánh được!”
Vua xem xong tỏ ý hài lòng, triệu đến ban cho áo lụa năm phẩm, và bổ nhiệm làm Độ chi phán quan.
[6] Tháng hai nhuận, lấy Trịnh Văn Bảo làm Thiểm Tây Chuyển vận sứ[4], cho phép xử lý công việc một cách linh hoạt, tự do sử dụng tiền trong kho. Gặp năm mất mùa, Văn Bảo khuyên nhủ các hào phú xuất ba mươi ngàn hộc thóc, cứu sống hơn tám mươi sáu ngàn người đói.
[7] Ngày Mậu Dần, Bí thư giám Lý Chí dâng lên mới hiệu đính sách ngự thư gồm 380 quyển. Vua nhân dịp từ tốn nói với ông rằng: “Sở thích của con người không thể không cảnh giác. Không cần lấy ví dụ từ thời cổ xưa, chỉ như gần đây Phù Ngạn Khanh, trải qua nhiều chức Tiết độ sứ, lấy việc săn bắn và đuổi chạy làm thú vui, bởi vậy những kẻ thân cận dò xét ý ông, tranh nhau dâng chó săn và chim ưng. Ngạn Khanh vui vẻ mà nhận lấy, kẻ dưới quyền nhân đó mà càn quấy, xâm phạm. Vì vậy biết rằng bậc quân chủ nên giữ lòng thanh đạm, không để sở thích lộ ra bên ngoài, thì kẻ gian nịnh sẽ không có cơ hội xâm nhập. Trẫm tuổi đã cao, không còn yêu thích gì khác, chỉ thích đọc sách, thấy được nhiều thành bại trong cổ kim, việc tốt thì noi theo, việc xấu thì sửa đổi, chỉ vậy thôi.” Lý Chí quỳ lạy tạ ơn.
[8] Ngày Canh Thìn, lấy An Thủ Trung – Phòng ngự sứ Doanh Châu, làm Tri châu Hùng Châu. Thủ Trung từng cùng thuộc hạ yến tiệc, có viên quân hiệu mưu phản, mặc áo giáp đến cổng. Người giữ cửa vội vàng vào báo, Thủ Trung vẫn nói cười như thường, từ tốn quay lại nói với khách ngồi: “Bọn này chỉ say rượu thôi!” Lập tức bắt giữ, mọi người đều khâm phục sự điềm tĩnh của ông.
[9] Ngày Kỷ Sửu, ban chiếu rằng: “Bọn vô lại trong kinh thành tụ tập đánh bạc, mở quán đổi tiền, giết trâu ngựa lừa chó để ăn, nấu chảy tiền đồng làm đồ dùng tạp vật. Nay lệnh cho Khai Phong phủ cảnh cáo các phường chợ, nghiêm ngặt bắt giữ, kẻ phạm tội sẽ bị chém, ai giấu giếm không tố cáo, hoặc chủ nhà cho thuê nhà cho bọn ác thiếu mở quán đổi tiền, cũng sẽ bị tội như vậy.”
[10] Tháng này, sai Hàn lâm học sĩ Giả Hoàng Trung, Tô Dịch Giản phụ trách viện Sai khiển, Lý Hãng cùng phán xét Lại bộ Lưu nội tuyển. Học sĩ kiêm nhiệm cơ quan bên ngoài, bắt đầu từ đây.
(Sử thần Lương Chu Hàn bàn việc này không đúng, nay không chấp nhận.)
[11] Trong cung xuất ra hai thế cờ ‘Phi thiên nga’ và ‘Đại hải cầu minh châu’ do Vua chế tác, đưa cho các học sĩ ở Tam quán xem, nhưng không ai hiểu được. Vua triệu Trung sứ Bùi Dũ, dạy cho ông những chỉ dẫn cơ bản, Sử quán tu soạn Phạm Cảo cùng mọi người cùng dâng biểu tạ ơn.
[12] Tháng ba, ngày Kỷ Tỵ, Vua thấy năm ấy có hạn hán và nạn châu chấu, bèn viết chiếu cho Lữ Mông Chính và các quan rằng: “Dân đen có tội gì mà trời giáng họa như thế? Đó ắt là do đức kém của Trẫm mà ra. Các khanh hãy xây một đài trước điện Văn Đức, Trẫm sẽ đứng trần trụi trên đó. Ba ngày mà không mưa, các khanh hãy cùng thiêu Trẫm để đáp lại trời.” Mông Chính và các quan vô cùng sợ hãi, nhận tội, rồi giấu bức chiếu đi. Ngày hôm sau mưa xuống, châu chấu chết sạch.
[13] Trước đó, Vua triệu tập các quan thân cận để hỏi về tình hình chính sự, Khấu Chuẩn, chức Xu mật trực học sĩ, tâu rằng: “Sách ‘Hồng Phạm’ nói về mối quan hệ giữa trời và người, ứng nghiệm như bóng với hình[5]. Chứng cứ của đại hạn là do hình pháp bất công. Trước đây, Tổ Cát và Vương Hoài đều phạm pháp nhận hối lộ, số tiền lên đến hàng vạn. Tổ Cát đã bị xử tử, gia đình bị tịch thu tài sản, còn Vương Hoài là em trai của Miễn, chức Tham tri chính sự, chỉ bị đánh đòn tại nhà riêng, vẫn giữ chức Chủ bạ ở huyện Định Viễn. Dùng hình pháp nặng nhẹ bất nhất như thế, tai họa của hạn hán chắc không phải là không có nguyên nhân.” Vua nghe xong chợt hiểu ra. Hôm sau gặp Miễn, nghiêm khắc trách mắng.
[14] Tháng này[6], các quan Hàn lâm học sĩ là Tống Bạch và những người khác dâng lên ‘Tân Định Thuần Hóa Biên Sắc’ gồm 30 quyển.
[15] Tháng tư mùa hạ, ngày Canh Ngọ mùng một, Vua xuống chiếu bãi bỏ lệ cống hằng năm đá nghiên của châu Đoan.
[16] Ngày Tân Tỵ, Vua bổ nhiệm Xu mật phó sứ Trương Tề Hiền, Cấp sự trung Trần Thụ cùng giữ chức Tham tri chính sự, Tuyên huy Bắc viện sứ, Thiêm thư Xu mật sự là Trương Tốn làm Xu mật phó sứ, Xu mật trực học sĩ Ôn Trọng Thư và Khấu Chuẩn cùng giữ chức Xu mật phó sứ, còn Xu mật phó sứ Trương Hoành bị bãi nhiệm, giáng làm Lại bộ Thị lang. Hoành tính nhu nhược, cẩn thận, không có mưu lược gì. Khi ở trong triều, gặp lại tất cả cung kính cúi chào. Tính keo kiệt, thích tích trữ. Không được người đời coi trọng.
[17] Độ chi sứ Lý Duy Thanh được bổ nhiệm làm Diêm thiết sứ. Lý Duy Thanh từng dùng sổ sách tâu lên, Vua nói: “Chi phí như thế này, sức dân lâu dài sao chịu nổi! Hãy tìm cách giảm bớt, sớm quyết định.” Duy Thanh tâu: “So với thời Khai Bảo, Hưng Quốc, số lượng chi phí gấp bội. Nguyên nhân là việc biên giới chưa yên, quân đồn trú quá đông, thần thấy các tướng lĩnh thực sự chưa phù hợp. Thần nghe nói thời Hán có Vệ Thanh, Hoắc Khứ Bệnh, thời Đường có Quách Tử Nghi, Lý Thịnh, tây nhung bắc địch nhìn thấy đều sợ hãi. Như thế, biên sự sẽ yên và chi phí giảm. Mong quốc gia chọn lựa kỹ các tướng lĩnh, dùng người có uy danh trấn giữ biên cương, để tiết kiệm chi phí.”
Vua nói: “Lúc này khác, lúc đó khác. Quân Hiểm Duẫn ngày nay nhiều mưu mẹo, khác xưa. Trẫm thường tính toán, đã có sẵn kế hoạch. Còn việc chọn tướng, cũng phải hiểu rõ tình thế hiện tại. Như Hàn Tín, Bành Việt tuy là danh tướng xưa, nhưng dùng cách nhìn thời ấy để đối phó với kẻ địch ngày nay, e cũng khó lập công danh. Nay dù có được người tài, cũng không thể như trước, trao quyền là có thể thành công. Đây là việc mật, khanh chưa hiểu hết.”
[18] Ban đầu, Triệu Phổ ra trấn thủ Tây Lạc, Lữ Mông Chính chủ trương khoan dung giản dị, Vương Miễn cậy ơn lộng quyền, việc chính sự phần lớn do Miễn quyết định. Miễn trước cùng Trương Tề Hiền được thăng chức, giữ việc xu vụ[7], nhưng không hòa hợp. Tề Hiền ra trấn thủ Đại Châu, Miễn liền làm phó sứ. Tham tri chính sự Trần Thứ quản diêm thiết, tính cách khắt khe, cũng từng không đồng ý với Miễn. Do đó, Tề Hiền và Thứ cùng ở Trung thư, Miễn trong lòng không yên, lo rằng các quan sẽ đem việc cũ của Trung thư kể lại cho Tề Hiền.
Ngày Kỷ Sửu, Tả ty gián, Tri chế cáo Vương Vũ Xứng tâu: “Xin từ nay, các quan đến yết kiến Tể tướng và Xu mật sứ, đều phải vào buổi triều tan tại Đô đường xin gặp, không được ở phòng riêng tiếp khách, để tránh việc nhờ vả.” Miễn vui mừng, liền tâu Vua thi hành, và lệnh cho Ngự sử đài tuyên bố trong ngoài.
Tả chánh ngôn, Trực sử quán là Tạ Bí dâng lời tâu, cho rằng: “Như vậy là nghi ngờ đại thần có tư ý. Sách viết: ‘Dùng người hiền thì đừng nghi ngờ, trừ kẻ gian thì đừng do dự.’ Trương Thuyết nói Diêu Sùng bề ngoài giản dị khi tiếp xúc với người khác, bên trong thì cẩn trọng trong việc phụng sự quân vương, thật là xứng đáng với tư cách của bậc đại thần. Hiện nay thiên hạ rộng lớn[8], việc nước nhiều bề, Bệ hạ gửi gắm trí tuệ vào các bậc phụ thần, nếu không gặp gỡ các quan, làm sao biết hết việc bên ngoài! Nếu ra lệnh cho họ đợi chờ ở đô đường để gặp gỡ, thì các quan sẽ xin được vào yết kiến[9], hỏi việc không có giờ giấc, khiến đại thần phải thường xuyên làm việc ở đô đường, không có thời gian nghỉ ngơi. Người xưa có câu: ‘Nghi thì đừng dùng, dùng thì đừng nghi’. Nếu việc chính sự nằm trong tay đại phu, bổng lộc rời khỏi công thất, quốc vận suy vong, kẻ mạnh chuyên quyền, lúc đó mới đáng lo. Nay Bệ hạ trừng phạt thiên hạ, tập hợp hào kiệt[10], triều đình không có kẻ nịnh thần, các phương diện không có quan lại dung túng, lễ nhạc chinh chiến đều xuất phát từ thiên tử. Sách viết: ‘Không thiên vị không phe phái, vương đạo rộng lớn.’ Đó là nói về thời nay vậy. Sao lại nghi ngờ các đại thần đang cầm quyền, làm việc như thời suy vong?
Xưa Khổng Quang không nói về cây trong nhà ấm, Cố Ung được phong hầu ba ngày mà gia nhân không biết, Tạ An Thạch đánh cờ với khách, tin thắng trận đến mà khách không hay, bậc đại thần nên cẩn mật như vậy, ngay cả vợ con còn không biết, huống chi người ngoài! Nếu người đó không xứng đáng, nên cách chức rồi đuổi đi, nếu đã chọn được người, giao phó chính sự, thì còn nghi ngờ gì nữa! Nếu bỏ lễ yết kiến ở đô đường, lẽ nào không có phòng riêng sao? Đóng cửa phủ tể tướng không nhận yêu cầu, lẽ nào không có đường khác sao?
Đó không phải là cách Bệ hạ dùng lòng thành để đối đãi đại thần, đại thần mở rộng thân thể để báo đáp Bệ hạ vậy.
Vương Vũ Xứng kiến thức nông cạn, mù mờ về đại thể, ngạo mạn theo ý riêng che mất sáng suốt, lời lẽ cuồng loạn, không thể dùng được.” Vua xem tấu khen ngợi, liền ra lệnh thu hồi chiếu trước, đem biểu của Tạ Bí gửi đến Sử quán.
(Thời đầu nhà Tống, không thích người ta theo phe quyền thế, nên đại thần không tiếp khách ở nhà riêng, trăm quan cũng ít đến cửa, chỉ đến Trung thư xin yết kiến, mỗi ngày không dưới trăm người. Tể tướng thường đến giữa trưa chưa kịp ăn, sắc lệnh chưa kịp đóng dấu, chất đống trên bàn, chính sự bị tắc nghẽn, trong đó có đến tám chín phần là vụ riêng. Người bàn luận cho rằng lời của Vương Vũ Xứng không phải không đúng, chỉ chê việc ông muốn mời tể tướng gặp ở chính sự đường là khó thực hiện. Điều này theo ‘Chương Đức Tượng hội yếu’, Vương Khuê nhắc lại, nên xem xét.)
[19] Tháng 5, ngày Ất Tỵ, tái lập kho Chiết Bác.
(Kho Chiết Bác tức là kho Chiết Trung, ban đầu được lập vào tháng 9 năm Đoan Củng thứ hai, sau đó tạm ngưng vì hạn hán, nay lại khôi phục.)
[20] Tả chánh ngôn Tạ Bí nhiều lần dâng tấu bàn về được mất của thời chính. Vua khen ngợi lòng trung thành của ông. Ngày Bính Thìn, thăng làm Tả tư gián, ban tước Kim Tử và ba mươi vạn tiền. Một hôm, Bí được vào gặp Vua ở điện tiện, Vua lại khen ngợi và khích lệ trực tiếp. Bí tạ rằng: “Bệ hạ tiếp nhận lời can gián như dòng nước, nên thần mới dám hết lòng. Thuở cuối Đường có Mạnh Chiêu Đồ sáng dâng tấu can gián, chiều đã không biết đi đâu. Tiền triều như thế, sao chẳng loạn!” Vua xúc động, lặng đi hồi lâu.
[21] Tháng 6, ngày Giáp Tuất, Trung Vũ tiết độ sứ, đồng bình chương sự Phan Mỹ qua đời, được truy tặng chức Trung thư lệnh, thụy hiệu Vũ Huệ.
[22] Ngày Ất Dậu, nước sông Biện vỡ đê tại huyện Tuấn Nghi, làm hư hỏng đê liên, tràn ngập ruộng dân. Vua sáng sớm ngồi kiệu ra cửa Càn Nguyên, Tể tướng và Xu mật sứ đón chào bên đường. Vua nói: “Đông Kinh nuôi dưỡng hàng chục vạn binh lính, hơn trăm vạn dân cư, tất cả đều trông cậy vào con sông này. Trẫm sao không lo nghĩ!” Xa giá đi vào vũng lầy, đi được trăm bước, các quan theo hầu đều kinh hãi. Điện tiền đô chỉ huy sứ Đái Hưng quỳ gối khẩn cầu Vua quay lại, rồi đỡ kiệu đưa Vua ra khỏi bùn lầy. Vua ra lệnh cho Hưng chỉ huy vài nghìn lính bộ binh đắp đê. Chưa đến trưa, đê đã vững chắc, nước rút dần. Vua vào nghỉ, Thái quan dâng cơm, các thân vương và cận thần đều lấm lem bùn đất. Tri huyện sự Tống Viêm trốn tránh không dám ra mắt, Vua đặc xá cho ông ta không bị tội.
[23] Ngày Đinh Hợi, Vua ban chiếu cho Hữu chánh ngôn, Trực sử quán Vương Thế Tắc, Điện trung thừa, Trực sử quán Vương Đán, Trương Phục, Điện trung thừa, Trực tập hiền viện Trình Túc, Tán thiện đại phu, Sử quán kiểm thảo, kiêm Bí các hiệu lí Đỗ Hạo, Bí thư lang, Trực sử quán Lý Tông Ngạc cùng nhau kiểm tra các việc cũ về Hoàng thái tử, Thân vương, Hoàng tộc, Hậu tộc. Lại sai Sử quán tu soạn Giả Hoàng Trung cùng các người biên tập và dâng lên. Trương Phục là người Khai Phong.
[24] Đô quan viên ngoại lang, Tri tạp sự Phạm Dương Trương Uất [11] dâng lời rằng: “Việc thiết lập Chính nha là để gọi là Ngoại triều. Quần thần từ biệt, gặp mặt và tạ ơn đều phải đến Chính nha trước, sau khi gặp, Ngự sử đài ghi đủ chức vụ, tên họ để báo, rồi Cáp môn mới cho vào tâu, đây là chế độ cũ của quốc gia. Từ niên hiệu Càn Đức về sau, mới ban chiếu cho đến Trung tạ trước, rồi mới đến Chính nha, đến nay các cơ quan vẫn tuân theo. Nhưng sau khi văn vũ các quan Trung tạ, từ biệt gặp mặt, phần nhiều không đến ngay Chính nha, khiến triều cương suy đồi. Kính mong từ nay các quan trong ngoài sau khi Trung tạ, ngày hôm sau đều đến Chính nha [12]. Các chức vụ trong nội các như Thứ sử từ xa kiêm nhiệm, cùng các chức từ Cáp môn thông sự xá nhân trở lên mới nhận chức, đều theo lệ của bách quan, cùng đến Chính nha từ biệt, tạ ơn. Những người đi sứ gấp mà được miễn đến Chính nha, cũng phải làm tờ khai báo đài [13], người vi phạm phạt một tháng lương.”
Uất lại tâu: “Theo phép lệ, ngày nghỉ, trăm quan không được tấu việc. Bệ hạ lo lắng chăm chỉ vạn việc, dù gặp ngày nghỉ trong tuần cũng tự thân nghe xét việc[14]. Gần đây, văn võ bá quan phần nhiều nhân ngày nghỉ đến từ tạ, muốn được ngồi chỗ tiện[15], để khỏi phải làm lễ múa. Xin từ nay ngày nghỉ, trừ nội chức và tướng hiệu[16], cửa cáp không được dẫn tiếp ai vào từ tạ, trừ người nhận mệnh khẩn cấp, không thuộc trường hợp này.”
Lại tâu: “Lúc thiết triều ở nội điện, trăm quan đều đứng trần dưới hiên. Xin từ nay, ngày trước đó bố trí lều trại ngoài cửa cáp, và lệnh Ngự sử đội mũ trọng đái.” Vua đều nghe theo. Trọng đái là hình dáng còn lại của loại mũ lớn, vốn là trang phục của dân chài lưới, làm bằng lụa, Hậu Ngụy Văn Đế từ Vân Trung dời về Đại đã ban cho trăm quan. Đầu triều, chỉ có Ngự sử đội, sau đó, Vua ban chiếu cho các quan Lưỡng tỉnh và Thượng thư tỉnh từ ngũ phẩm trở lên đều đội, còn Xu mật, Tam ty sứ phó thì không.
(Thái Tông mới lên ngôi, nghiêm khắc chế độ từ tạ ở chính nha, Trương Uất vẫn cho rằng điều này nên được thực hiện, có phải chiếu Thái Bình Hưng Quốc chưa thi hành chăng? Cần xét lại.)
[25] Mùa thu, tháng bảy, ngày Kỷ Hợi (mùng 2), Vua nói với Tam ty sứ Lý Duy Thanh và các quan rằng: “Của cải là để dùng vào việc chi tiêu, nhưng nếu lấy không hợp đạo lý, trái với ý của Trẫm là muốn nuôi dưỡng dân chúng, thì làm sao có thể gọi là hòa khí được! Các ngươi phải cùng nhau cân nhắc, đừng để dân chúng bị thu thuế quá nặng.”
(Kỷ Hợi là ngày mùng 2. ‘Bản kỷ’ chép riêng lời của Vua, không liên quan đến việc khác. ‘Thực lục’ không ghi chép. ‘Bảo huấn’ thì gán lời này vào tháng hai năm Đoan Củng thứ hai, sau khi Lý Duy Thanh xin điều động dân Hà Nam vận lương. Không rõ ‘Bảo huấn’ căn cứ vào đâu? Tuy nhiên, ‘Bảo huấn’ thường không chuẩn xác về thời gian, còn ‘Bản kỷ’ lại chuyên ghi chép điều này, chắc chắn không sai, nên theo đó.)
[26] Lý Kế Thiên nghe tin Trạch Thủ Tố sẽ đem quân đến đánh, liền sợ hãi, dâng biểu xin quy thuận. Ngày Bính Ngọ, Vua phong cho Kế Thiên làm Ngân châu quan sát sứ, ban quốc tính, đặt tên là Bảo Cát[17]. Triệu Bảo Trung lại tiến cử em trai ruột là Kế Xung[18], Vua cũng ban quốc tính, đổi tên là Bảo Ninh, phong làm Tuy châu đoàn luyện sứ. Phong mẹ của Kế Thiên là Võng thị làm Tây Hà quận thái phu nhân.
(Vương Vũ Xứng soạn chiếu thư về Kế Thiên[19].)
[27] Trước đây, văn tế trong các lễ tế thường do quan thuộc ở Trứ tác cục soạn dâng lên, nhiều phần không hợp với điển lễ. Bí thư giám Lý Chí đã soạn thành hàng trăm bài, gọi là ‘Chính từ lục’, gồm ba quyển, dâng lên, được chiếu lệnh làm thành quy tắc vĩnh viễn.
[28] Tháng tám, ngày Đinh Mão (mùng 1), chiếu cho các châu ở Lưỡng Chiết, trước đây dưới thời Tiền Thục, chiêu mộ dân giữ quyền thuế rượu, rượu hỏng, quan lại vẫn bắt đóng thuế, dân không thể trả nổi, ở Hồ châu là 13.349 bình, Cù châu là 17.283 bình, Đài châu là 1.144 thạch, Việt châu là 2.904 thạch 7 đấu, đều cho hủy bỏ, không bắt đền nữa.
[29] Vua lo lắng việc xét xử các vụ án trong dân chúng, sợ rằng các quan lại ở Đại Lý tự và hình bộ dùng lời lẽ quanh co để bẻ cong sự thật. Ngày Kỷ Mão, thiết lập Viện Thẩm hình trong cung cấm, giao cho Xu mật trực học sĩ Lý Xương Linh quản lý viện, đồng thời bổ nhiệm sáu viên quan tường nghị. Tất cả các vụ án đệ trình lên, trước tiên phải qua Viện Thẩm hình đóng dấu[20], sau đó giao cho Đại Lý tự và hình bứ xử lý lại rồi báo cáo. Sau đó, Viện Thẩm hình sẽ xem xét kỹ lưỡng, quyết định xong rồi giao cho Trung thư. Những vụ án đã được phê chuẩn thì thi hành ngay, còn những vụ chưa được đồng ý, tể tướng sẽ lại báo cáo lên, mới được quyết định xử lý. Đây là sự thận trọng tối đa.
(Theo ‘Hội yếu’, quan xét án khi xử vụ Cư Đạo An đã làm việc thiếu cẩn thận, đều bị giáng chức hoặc đi đày, vì vậy mới lập Viện Thẩm hình. Nay ‘Thực lục’ ghi rằng ngày Kỷ Mão, tháng 8, mới lập Viện Thẩm hình, ngày Kỷ Mão là ngày 12. Ngày Mậu Tuất, tháng 9, Vương Vũ Xứng và những người khác mới bị cách chức, ngày Mậu Tuất là ngày mùng 2. Có thể thứ tự thời gian đã bị nhầm lẫn, chẳng lẽ Vương Vũ Xứng và những người khác bị giam hơn 20 ngày mới xử? Nếu không, có lẽ ‘Hội yếu’ đã nhầm. Nay chỉ theo ghi chép trong ‘Thực lục’, cần phải tra cứu thêm. Tư Mã Quang trong ‘Ký văn’ cho rằng khi Triệu Phổ ra trấn nhậm, Thái Tông lo quyền lực của Trung thư quá lớn, lại thêm công việc nhiều, tể tướng không thể quản lý hết, lúc đó Hướng Mẫn Trung đang làm gián quan, đã dâng sớ xin tách phòng hình của Trung thư để lập Viện Thẩm hình. Xem ‘Thực lục’, tuy Hướng Mẫn Trung lúc đó đang giữ chức Tư gián tri chế cáo, nhưng không thấy ghi chép về việc này, ‘Quốc sử’ và các sách khác cũng không đề cập, không biết Tư Mã Quang căn cứ vào đâu. Hơn nữa, việc lập Viện Thẩm hình chỉ là để cẩn trọng trong xử án, đâu có thể làm giảm quyền lực của Trung thư hay giảm bớt công việc? Có lẽ lời này cũng nhầm, cần tra cứu thêm. Trong ‘Đàm uyển’, Dương Ức chỉ viết “Viện Thẩm hình vốn là phòng hình của Trung thư, chức trách do tể tướng quản lý, từ đó tách ra”, cũng không nói là do quyền lực của Trung thư quá lớn.)
[30] Ngày Đinh Hợi, châu Tịnh tâu rằng 73 hộ người Nhung với hơn 400 khẩu đã quy phục. Vua bèn bảo các cận thần: “Quốc gia nếu không có lo ngoài, ắt sẽ có lo trong. Lo ngoài chỉ là việc biên cương, đều có thể phòng ngừa từ trước. Chỉ có bọn gian tà không hình tướng, nếu trở thành nỗi lo trong, mới thực sự đáng sợ. Bậc đế vương dùng tâm, luôn phải cẩn thận điều này.”
[31] Tháng chín, ngày Đinh Sửu, hộ bộ Thị lang, Tham tri chính sự Vương Miễn, Cấp sự trung, Tham tri chính sự Trần Thứ, đều bị cách chức và giữ nguyên chức cũ. Trước đó, Cấp sự Phàn Tri Cổ nhiều lần đảm nhiệm chức Chuyển vận sứ, được tiếng khen đương thời, nhưng khi làm việc ở hộ bộ, thường vì không hoàn thành nhiệm vụ, bị chiếu thư khiển trách, danh tiếng ngày càng giảm. Ông vốn thân thiết với Trần Thứ[21], Vua mỗi khi nhắc đến việc kế ty có sai lầm, Trần Thứ đều báo lại, muốn Phàn Tri Cổ cố gắng. Sau đó, Phàn Tri Cổ nhân việc tấu đối, tự biện minh. Vua hỏi Tri Cổ: “Ngươi biết điều này từ đâu?” Tri Cổ đáp: “Trần Thứ báo với thần.” Vua giận Trần Thứ tiết lộ lời trong cung, ghét Phàn Tri Cổ khinh suất, nên cả hai đều bị cách chức. Vương Miễn vì em là Hoài, nhiều lần bị Xu mật phó sứ Khấu Chuẩn công kích, Vua cũng nhận ra Miễn hay dùng mưu mẹo, không phải là người tài đức trong triều, nên cùng ngày với Trần Thứ bị cách chức. Miễn vâng chiếu, vào gặp Vua, khóc lóc không muốn rời xa bên cạnh, chưa đầy mấy ngày, râu tóc đều bạc trắng.
[32] Hoàng đế thường nói với bề tôi gần gũi: “Đã nhiều lần có người bàn việc lập Thái tử, Trẫm cũng đọc sách, thấy việc trị loạn của các triều đại trước, há chẳng để tâm sao! Hơn nữa, thời nay đạo đức suy đồi, nếu lập Thái tử, thì các quan trong cung đều phải xưng thần. Quan chức trong cung cùng bậc với trên đài, trong tình cảm con người, rất bất an. Các con Trẫm còn nhỏ[22], chưa có tính cách người lớn, những người được sai phó đều chọn bậc lương thiện, còn những kẻ tôi tớ, Trẫm cũng tự chọn lựa[23], không để những kẻ gian hiểm, nịnh hót ở bên cạnh. Việc đọc sách, nghe giảng đều có chương trình, đợi chúng trưởng thành, tự có cách quyết định. Sao những người bàn việc chẳng hiểu lòng Trẫm?” Bấy giờ, Tả chánh ngôn, Độ chi phán quan Tống Hạng cùng năm người khác dâng sớ ở cửa cung[24], xin lập Hứa Vương Nguyên Hi làm Thái tử, lời lẽ ngạo mạn, Hoàng đế rất giận, định trừng phạt nặng để răn đe sự liều lĩnh. Hạng lại là người thân của vợ Tể tướng Lữ Mông Chính, do Mông Chính tiến cử, ngày Kỷ Hợi, Hoàng đế ra chiếu trách Mông Chính vì dẫn dắt người thân, ăn lộc an nhàn, bãi chức và giáng làm Lại bộ Thượng thư.
[33] Trước đây, Ôn Trọng Thư cùng Mông Chính đỗ cùng khoa, tình cảm rất thân thiết. Trọng Thư trước làm Tri châu Phần Châu, vì tư thông với con hầu của viên Giám quân nên bị tước bỏ quan chức, về làm dân, sống nghèo ở kinh đô nhiều năm. Mông Chính khi ở Trung thư, hết sức tiến cử, nên ông ta được khôi phục quan chức. Khi được trọng dụng[25], Trọng Thư lại công kích Mông Chính, khiến Mông Chính bị bãi chức Tể tướng, lúc ấy dư luận chê cười.
[34] Hoàng đế ra lệnh cho Tả bộc xạ Lý Phưởng kiêm chức Trung thư Thị lang, Tham tri chính sự Trương Tề Hiền làm Lại bộ Thị lang, cùng giữ chức Bình chương sự.
[35] Hàn lâm học sĩ Giả Hoàng Trung, Lý Hãng cùng được giữ chức Cấp sự trung, tham tri chính sự. Lý Hãng lúc đầu phụ trách việc tuyển dụng ở lại bộ, nhân dịp dự yến, Vua nhìn theo rồi nói: “Lý Hãng phong độ đoan trang, đúng là bậc quý nhân.” Chẳng bao lâu sau, ông cùng Giả Hoàng Trung đều được trọng dụng.
[36] Vua từng triệu kiến mẹ của Giả Hoàng Trung là Vương thị[26], cho ngồi và nói: “Dạy con như vậy, đúng là bà Mạnh Mẫu.” Vua làm thơ ban tặng và ban thưởng rất hậu.
[37] Ngày Canh Tý, lấy Hữu gián nghị đại phu, quyền Ngự sử trung thừa Vương Hóa Cơ làm Ngự sử trung thừa. Hóa Cơ từng ngưỡng mộ chí hướng “lãnh bí trừng thanh” của Phạm Bàng, dâng bản “Trừng thanh lược” nêu năm việc.
– Đoạn thứ nhất, tái lập Thượng thư tỉnh, có lời tâu rằng: “Quốc gia đặt ra chế độ, việc gì cũng phải noi theo trời, cùng thiết lập các quan thuộc để tôn vương thất. Huống chi Thượng thư tỉnh trên ứng với thiên tượng, đối diện với cung Tử Vi, sáu khanh như quan hầu thiệt, các lang lại ứng với vị trí tinh tú[27], đó chính là văn đạo của trời hiển hiện, việc chính sự đều rõ ràng. Hiện nay danh hiệu của các tỉnh bộ, không xứng với sự hưng thịnh của triều đình. Chức tam ty sứ ngạch[28], vốn là chế độ tạm thời của thời cận đại, các chức phán quan, suy quan, câu viện, khai chiết, ma khám, bằng do, lý khiếm, khổng mục, câu áp tiền hàng, hậu hàng, đều là tên gọi của các cơ quan nha lại thuộc châu quận.
Nay thần xin bãi bỏ tam ty, chỉ đặt trong Thượng thư tỉnh sáu thượng thư phân quản các việc. Bãi bỏ phán quan, suy quan, đặt các lang quan phân quản 24 ty cùng việc công của tả hữu ty, mỗi người quản một ty. Bãi bỏ khổng mục, câu áp tiền hàng, hậu hàng, thay bằng các chức đô sự, chủ sự, lệnh sử, thư lệnh sử. Bãi bỏ các ty câu viện, khai chiết, ma khám, bằng do, lý khiếm[29], giao về tỷ bộ và tả hữu ty. Như vậy, việc càng thêm tinh tường, đồng thời loại bỏ hết những tên gọi thô tục của các cơ quan châu quận. Nếu như chức sáu khanh khuyết, thì chọn người có danh phẩm tương đương, tài năng và tiếng tăm tạm quyền nhiệm. Nếu như chức thượng thư lang quan khuyết, thì từ lưỡng tỉnh tam viện chọn người sáng suốt, có thanh danh, căn cứ vào thứ bậc mà bổ nhiệm chính thức. Như vậy thì Thượng thư tỉnh không còn quan chức tạp loại.
Công việc của 24 ty, nếu có sự khác biệt giữa khoan dung và nghiêm khắc, xin giao cho các quan thuộc tham khảo, điều chỉnh cho phù hợp rồi thi hành.”
– Đoạn thứ hai, bàn về việc thận trọng trong tiến cử, viết rằng: “Triều đình nhiều năm nay ban chiếu, lấy loại mà cầu người. Nhưng chỉ nghe nói thường lệ được cử làm quan, chưa thấy chọn được người tiến cử. Mong rằng từ nay thiết lập riêng sổ danh sách, trước hết chọn các quan trong triều có thanh danh, mỗi người sai bảo cử người mình biết, số lượng quan chức được tiến cử, lại lập sổ sách, ghi tên họ người tiến cử vào sổ. Quan được tiến cử, nếu trải qua chức vụ, thực sự liêm chính tài năng, cơ quan chủ quản thi hành điển lệnh ban thưởng, đặc biệt khen ngợi người tiến cử. Nếu quan được tiến cử tham ô lộ rõ, người tiến cử cũng phải chịu tội liên đới. Thần lại nghĩ Bệ hạ lên ngôi, hơn mười năm qua, bảy lần tuyển chọn, được nhiều anh tài, nhưng lo rằng họ lâu ngày chìm ở chức thấp, hoặc ở xa, mong lệnh điều tra, và các quan chức châu xét người liêm chính báo lên, lần lượt thăng chức, cũng ghi vào sổ.”
– Đoạn thứ ba, bàn về trừng trị tham quan, viết rằng: “Tham quan đối với dân, gây hại rất lớn, hoặc bẻ cong pháp luật, hoặc lạm dụng hình pháp, hoặc nhân việc công để hại việc tư, hoặc nhân sự việc để hành ngược, khiến dân chịu thiệt hại nặng hơn sâu mọt. Sâu mọt nhiều thì cây rỗng, tham quan nhiều thì dân khổ. Nếu không nghe lời người, không dùng pháp luật răn đe, thì Di, Tề cũng không thể giữ quy tắc liêm chính, Nhan, Mẫn cũng không thể giữ đức hạnh. Người bình thường trở xuống, tính tình như nước, vật đựng vuông thì vuông, vật đựng tròn thì tròn, vốn không cố định, đều do ràng buộc mà thành. Mong lệnh các lộ chuyển vận sứ phó[30] kiêm chức danh điều tra, sai họ giám sát các quan chức đứng đầu châu, phủ, quân, giám. Khi một bộ yên ổn, thấy hiệu quả rõ rệt, đến khi về kinh, đãi ngộ đặc biệt không theo thứ bậc, ban chức danh Thị tòng điện đình. Điều quý là để tham vấn hiểu việc bốn phương, cũng là khuyến khích quan chức địa phương chăm lo trị an.”
– Thứ tư, bãi bỏ quan lại thừa, nói: “Xưa thời Đường, Ngu, thiết lập quan lại chỉ có trăm người, mà vẫn đủ để điều hành việc nước, nên cổ nhân bảo: ‘Quan không cần nhiều, chỉ cần người tài giỏi.’ Đây chính là thuận theo sự giản dị, bỏ đi những phiền nhiễu. Nay đất nước ta lãnh thổ rộng lớn, dân vật phồn thịnh, gấp nhiều lần thời trước, mọi việc mở rộng, phân chia thiết lập nhiều chức quan, so với triều đại gần đây, thực sự đã gấp đôi số lượng cũ. Ý tưởng là muốn làm giàu cho quốc khố, tăng lợi nhuận, nhưng kết quả lại làm hao tổn quốc lực, hao mòn dân chúng, khiến tình hình ngày càng suy yếu!
Thần nhớ hai mươi năm trước khi đi du lịch ở các quận Giang, Hoài, trong đó Dương Châu và Sở Châu là nơi trọng yếu, đường thủy lục đều là yết hầu của nhiều nước, việc nhiều, dân đông, đất rộng, nhưng chỉ bố trí một Tri châu ở nha môn để phân chia công việc, còn lại Thông phán bản châu, Thôi quan và các chức quan khác, đều phân công quản lý việc thuế muối, rượu, thương mại, kho tàng[31], lúc đó cũng nghe việc được xử lý gọn gàng, lại ít có kiện tụng hình sự. Trẫm mười năm trước[32] khi nhậm chức quan ở Dương Châu, thấy triều đình thêm vào các chức Giám lâm sự vụ và Sứ thần[33], số lượng vượt quá bản châu nhiều lần, thực sự lo sợ các châu khác cũng như thế, e rằng hao phí quốc khố, lại tăng thêm việc hình án.
Nay các quan triều đình, sứ thần các ngạch, cùng Huyện lệnh, Chủ bạ, Huyện úy, chi phí cao thấp đều một nửa, tính lại, mỗi người một tháng tiêu không dưới mười ngàn, tính theo một ngàn người, mỗi năm tốn hơn mười vạn, nhân lên gấp đôi, thì thành mười vạn, lại nhân thêm nữa. Nếu đây đều là quan lại thanh liêm, thì chỉ hao tổn công khố mà thôi. Nhưng nếu là quan lại tham lam, trải khắp thiên hạ, thì còn thu thêm từ dân chúng gấp nhiều lần, như trường hợp Tổ Cát. Như vậy, chẳng phải là làm hao tổn quốc lực, tổn hại dân chúng sao?
Mong lệnh các bộ Chuyển vận sứ phó, cùng Tri châu bàn bạc cắt giảm, các chức Huyện lệnh, Chủ bạ, Huyện úy, trước kia nhiều chỗ không đặt, Huyện úy do Chủ bạ kiêm nhiệm, cũng xin lệnh xem xét bãi bỏ.”
– Thứ năm, việc chọn quan viễn xứ nói rằng: “Những người phạm tội phần lớn không phải hạng lương thiện, có kẻ tham lam tàn bạo, hung hãn vượt quyền. Nếu cho họ giữ chức quản dân ở nơi xa, hoặc bản tính không chịu sửa đổi, tùy ý làm càn, lừa dối nơi vắng vẻ, tàn hại dân chúng, khiến dân xa xôi gặp họa mà cuối cùng không thể lên tiếng tố cáo, thì thực không phải là ý nghĩa an dân vỗ về đất xa. Mong từ nay về sau, những người có tội không được nhậm chức trưởng lại ở Tứ Xuyên, Quảng Nam.” Tấu chương dâng lên, Vua khen ngợi và chấp nhận lời tâu, bèn có ý trọng dụng.
[38] Ngày Tân Sửu, giáng Tống Hạng làm Nghi châu Đoàn luyện phó sứ.
[39] Ngày Giáp Thìn, lấy Xu mật phó sứ Trương Tốn làm Tri Xu mật viện sự, Ôn Trọng Thư, Khấu Chuẩn làm Đồng tri viện sự. Danh hiệu Tri viện bắt đầu từ đây. Tốn, Trọng Thư, Chuẩn vẫn kiêm chức Phó sứ, về sau có khi lấy chính quan hoặc kiêm hiệu quan làm việc này, phẩm hàm ngang với Phó sứ.
[40] Ban đầu, Tống Hạng cùng Tả chánh ngôn Doãn Hoàng Thường, Phùng Chửng, Hữu chánh ngôn Vương Thế Tắc, Hồng Trạm cùng nhau dâng sớ xin lập Hoàng thái tử[34]. Sau khi Hạng bị giáng chức, ngày Ất Tỵ, sai Hoàng Thường làm Tri Ung châu, Chửng làm Tri Đoan châu, Thế Tắc làm Tri Tượng châu, Trạm làm Tri Dung châu. Hoàng Thường, Thế Tắc, Trạm đều là Trực sử quán, đều bị giải chức. Trạm là người Thượng Nguyên.
[41] Vua nghe tin Điện trung thừa Quách Diên Trạch, Hữu tán thiện đại phu Đổng Nguyên Hanh đều là người hiếu học, thông thạo kinh sử, bèn xuống chiếu cho Tể tướng triệu đến hỏi về đại nghĩa kinh sử, trả lời từng mục rất hợp ý chỉ. Mùa đông, tháng 10, ngày Đinh Mão, cùng được lệnh làm Sử quán Kiểm thảo. Diên Trạch là con của Đình Vị[35].
(Đổng Nguyên Hanh được phụ trong truyện Diên Trạch, không rõ quê quán.)
[42] Ngày Tân Tỵ, Hàn lâm học sĩ Thừa chỉ Tô Dịch Giản dâng lên tác phẩm 2 quyển ‘Tục Hàn Lâm Chí’, Vua khen ngợi và ban cho ông hai bài thơ, ở cuối trang có lời phê: “Ý thơ ca ngợi khanh đang ở nơi thanh nhã.” Dịch Giản nguyện xin khắc những bài thơ được ban lên đá để lưu truyền mãi mãi. Vua lại viết ba thể chữ chân, thảo, hành bài thơ ấy, sai Đãi chiếu Ngô Văn Thưởng khắc lên đá, rồi ban tặng khắp bề tôi cận thần. Lại viết bốn chữ lớn “Ngọc đường chi thự” bằng lối phi bạch, sai Trung thư triệu Dịch Giản đến trao cho, treo lên trước sảnh đường. Vua nói: “Đây mãi là việc đẹp trong Hàn lâm.” Dịch Giản đáp: “Từ khi có Hàn lâm đến nay, chưa từng có vinh dự như ngày nay.”
[43] Ngày Kỷ Sửu, Tả gián nghị đại phu Hàn Phi vốn xuất thân bần hàn, sống khiêm tốn, không màng danh lợi, Vua rất khen ngợi và trọng dụng. Vua cho Phi giữ chức cũ, làm Tri chế cáo, kiêm Hàn lâm học sĩ.
[44] Tháng 11, ngày Bính Thân, ban chiếu rằng từ nay trở đi, vào các ngày thiết triều ở nội điện, lại cho phép hai quan thường tham luân phiên đối đáp, cửa sảnh nộp chương tấu.
(Sách ‘Thực Lục’ chép: Năm Can Hựu thứ 3 đời Hán, Cấp sự trung Đào Cốc tâu xin dừng việc luân phiên đối đáp năm ngày, triều đình theo đó, nên không còn việc luân phiên đối đáp. Đến lúc này, Vua chăm chỉ tìm cách trị nước, chú trọng mở rộng đường ngôn luận, bắt đầu khôi phục lại chế độ cũ. Xét sách ‘Tân Lục’, ‘Cựu Lục’ và ‘Bản Kỷ’ của Thái Tổ, năm Kiến Long thứ 3, tháng 2, ngày Giáp Ngọ, ban chiếu rằng từ nay mỗi khi thiết triều ở nội điện, các quan luân phiên đối đáp. Như vậy, chế độ luân phiên đối đáp đã được khôi phục từ thời Thái Tổ, không rõ Tiền Nhược Thủy căn cứ vào đâu mà nói là không còn nữa. Sách ‘Tân Lục’ cũng do Nhược Thủy biên soạn, sao lại có sai sót như vậy? Có lẽ Thái Tổ tuy khôi phục chế độ cũ, nhưng thực hiện chưa lâu lại bỏ, đến lúc này mới khôi phục lại, Nhược Thủy tra cứu không kỹ nên mới vậy. Ngày mùng một tháng 8 năm Kiến Long thứ 3, Vua ngự tại điện Sùng Nguyên, văn võ bách quan vào sảnh, Công bộ thượng thư Đậu Nghi đợi chế, Thái thường khanh Biên Quang Phạm luân phiên đối đáp, lễ xong ban yến. Mùa hè năm sau, ngày mùng một tháng 4 năm Nhâm Ngọ, Công bộ thị lang Ngải Dĩnh đợi chế, Cấp sự trung Mã Sĩ Nguyên luân phiên đối đáp. Ngày mùng một tháng 8 năm Canh Thìn, Cấp sự trung Lưu Tải đợi chế, Gián nghị đại phu Thôi Tụng luân phiên đối đáp. Sau đó không thấy ghi chép nữa. Ngày mùng một tháng 4 năm Càn Đức thứ 4, lại ghi Vua ngự điện, vào sảnh, ban yến theo nghi thức thường lệ, nhưng không thấy tên quan luân phiên đối đáp, nghi ngờ việc luân phiên đối đáp từ đó dừng lại, đến năm Thuần Hóa thứ 2 mới khôi phục, nên Nhược Thủy nhớ nhầm. Nói rằng không còn việc luân phiên đối đáp là sai vậy.)
[45] Ngày Canh Tuất, Tả gián nghị đại phu, Sử quán tu soạn Dương Huy Chi luân phiên đối đáp, tâu rằng: “Hiện nay học trò tuy đông, nhưng người thông hiểu kinh sách rất ít, mong chọn kỹ các bác sĩ ngũ kinh, tăng thêm số người, mỗi người chuyên một nghề để dạy các con em trong hoàng tộc, đây là gốc của giáo hóa.” Vua quay lại nói với tể tướng: “Huy Chi phẩm hạnh không tì vết, thực là bậc nho nhã, ra trị châu quận không phải sở trường của ông, để ở sử quán chính là hợp lý vậy.”
[46] Hình bộ lang trung, tri chế cáo Phạm Cảo nhiều lần gửi thư cho Tể tướng, xin vào làm Hàn lâm viện học sĩ. Ông từng đem một tập chế cáo ra cho Lý Phưởng xem, nói: “Cha tôi từng nói rằng tôi có tài đảm nhiệm học sĩ, nên đã giao lại tập này, không dám để thất lạc.” Phưởng thường khuyên giải ông. Sau đó, Cảo dâng sách “Ngọc Đường ký”, xin được đảm nhận chức vụ ấy. Tuy nhiên, Vua ghét sự hấp tấp cạnh tranh của ông, cuối cùng không cho ông ở lại nội thự, mà đổi làm Hữu gián nghị đại phu, đi nhậm chức Tri châu Hào.
[47] Lấy Khảo công viên ngoại lang, tri chế cáo Tất Sĩ An làm Hàn lâm học sĩ. Ban đầu, các quan chấp chính muốn dùng Hữu gián nghị đại phu Trương Kỵ, nhân dịp gặp Vua, họ tâu rằng Kỵ có học thức lâu năm, không thua kém Sĩ An. Vua nói: “Trẫm biết rõ tài học và năng lực của Kỵ không thua Sĩ An, chỉ là đức hạnh chưa bằng mà thôi.” Các quan chấp chính liền lui.
[48] Vua thấy bản đồ cổ về nghi lễ nhập các thừa lại từ thời Ngũ Đại, lễ nghi không đầy đủ, bèn sai sử quán tu soạn Dương Huy Chi cùng các quan thảo luận lại câu chuyện cổ, soạn thành bản đồ mới. Tháng 12, ngày Bính Dần mùng một, bèn thực hiện nghi lễ ở điện Văn Đức.
(Theo “Thực lục”, Từ thời Đường Cung Tông, nghi lễ nhập các bắt đầu được triển khai ở điện Tử Thần; nhưng từ Ngũ Đại trở đi, mọi việc đều sơ sài, lễ nghi thiếu sót. Triều đình ta đã bỏ nghi lễ này lâu ngày, đến đây mới khôi phục lại cựu chế. Cẩn xét: Năm Thái Tổ lên ngôi, tháng 8 mùng một, ngự ở điện Sùng Nguyên, văn võ vào các, nghi trượng đầy đủ, xong việc, ban yến cho trăm quan. Đến tháng 4 mùng một năm Càn Đức thứ 4, vẫn còn thực hiện nghi lễ này, không phải đã bỏ lâu. Năm Thái Bình Hưng Quốc thứ hai đời Thái Tông, có chiếu định ngày mùng một tháng 8 thực hiện nghi lễ nhập các, nhưng gặp mưa nên dừng lại. Đến ngày mùng một tháng 12 năm Thuần Hóa thứ hai, mới thực hiện lại. Nếu như ý chỉ của Vua chỉ thời Thái Tông, thì lời này là hợp.)
[49] Hữu gián nghị đại phu Trương Kỵ cùng với Huy Chi và các quan khác biên soạn nghi lễ mới, lại dâng sớ riêng nói:
“Trộm nghĩ rằng điện Càn Nguyên ngày nay, tức là điện Hàm Nguyên đời Đường, thời Chu là chốn ngoại triều, thời Đường là chốn đại triều, vào ngày Đông chí, Nguyên đán, dựng đầy đủ nghi trượng, tiếp kiến vạn quốc, đều ở điện này. Điện Văn Đức ngày nay, tức là điện Tuyên Chính đời Đường, thời Chu là chốn trung triều, thời Hán là điện Tiền điện, thời Đường là chính nha, mỗi khi lễ sóc vọng, tấu chương, sách phong phi tần, hoàng hậu, hoàng tử, vương công, đại thần, đối đáp với quân trưởng tứ di, thi chế sách cử nhân, đều ở điện này. Điện Sùng Đức ngày nay, tức là điện Tử Thần đời Đường, thời Chu là chốn nội triều, thời Hán là điện Tuyên Thất, thời Đường là thượng các, tức là điện thường triều vào ngày lẻ. Điện Thái Cực đời Đông Tấn có đông các và tây các, đời Đường dựng thượng các Tử Thần, theo phép này. Vả lại, bậc quân chủ kính cẩn hướng về phía nam, hướng về ánh sáng để trị quốc[36], màu tím cung điện, ngai vàng, là nơi tôn nghiêm nhất, nên khi tuần du thì có nghi thức đại giá pháp tòng uy nghi, khi ngự điện thì có nghi lễ bày trận hộ vệ nghiêm ngặt.
Vì vậy, dù là ngày thường triều, cũng phải dựng nghi trượng. Tiền triều gọi là nghi thức nhập các, tức vào ngày lẻ, khi ngự ở thượng các Tử Thần, trước tiên dựng cờ hoàng huy và nghi trượng Kim Ngô trước điện Tuyên Chính, đợi xem xét ấn khế xong, gọi nghi trượng từ đông các, tây các vào, nên gọi là nhập các. Nay triều đình tạm lấy điện Văn Đức chính nha làm thượng các, thật không đúng với phép tắc.
Huống chi, quốc gia kế thừa chính thống, trong nước thái bình, mọi phép tắc đều phải tuân theo sự thêm bớt, chỉ còn nghi lễ triều kiến vẫn theo lối cũ. Trộm thấy điện Trường Xuân chính đối diện với điện Văn Đức từ nam đến bắc, kính xin cải tạo điện này làm thượng các, làm nơi dựng nghi trượng vào ngày lẻ để thiết triều, còn điện Sùng Đức và điện Sùng Chính, tức là điện Diên Anh đời Đường, là nơi thường triều vào ngày chẵn[37], để hình thức ngự triều phù hợp với quy chế tiền triều. Nay dư luận lại cho rằng nghi thức nhập các là lễ nghi bất thường của triều đình, thật là vô nghĩa.
Thần lại tra xét sử cũ: Trung thư, Môn hạ, Ngự sử đài là ba cơ quan, gọi là quan thị tòng phụng sự. Nay vào ngày chầu, quan thị tòng vào sân điện trước, đứng yên ở hai phía đông tây, chờ chính ban vào, cùng một lúc làm lễ. Quan thị tòng đứng bái chào hai bên đông tây, rất trái với nghi thức bắc diện triều yết. Xin theo nghi thức cũ, quan thị tòng vào trước, làm lễ xong, chia hàng đứng hầu dưới thềm đan, gọi là “nga mi ban”. Sau đó, Thừa tướng dẫn chính ban vào làm lễ, hợp lễ nghi.
Thần lại nghe rằng, bậc Vương xưa tận lực xử lý việc chính sự, tần suất triều hội tùy thuộc vào việc chính sự rộng rãi hay giản lược. Đầu thời Đường, năm ngày một lần triều hội, từ niên hiệu Cảnh Vân mới bắt đầu sửa theo lệ cũ thời Trinh Quan. Từ sau loạn Thiên Bảo, bốn phương nhiều việc, từ Túc Tông trở đi, đều chỉ ngày lẻ triều hội, ngày chẵn nghỉ. Những ngày lẻ nếu gặp đại hàn, nắng nóng, mưa dầm, đường lầy lội, cũng cho bá quan nghỉ làm lễ. Các ngày chẵn, Thừa tướng trình việc, liền mở điện Diên Anh triệu đối, hoặc khi man di vào cống, huân thần về triều, cũng mở điện Tử Thần dẫn kiến. Bệ hạ lên ngôi đến nay đã mười lăm năm, chưa từng ngày nào không dậy từ lúc gà gáy, nghe việc chính sự thiên hạ. Tuy khỏe mạnh không ngừng, là đức tính thường của trời, nhưng nghỉ ngơi thư giãn cũng là lời dạy của thánh nhân. Nếu Vua cha mệt mỏi ở trên, bề tôi im lặng ở dưới, không dám nêu đại thể để tranh luận, thì tấm lòng trung thành thiếu sót. Thần mong Bệ hạ theo quy chế cũ, ngày lẻ triều hội, ngày chẵn nghỉ. Những ngày lẻ gặp đại hàn, nắng nóng, mưa dầm, đường lầy lội, cũng cho bá quan nghỉ làm lễ. Các ngày chẵn, ở hai điện Sùng Đức, Sùng Chính, triệu đối tể thần và quan thường tham, cùng khi man di vào cống, huân thần về triều, cũng mở cửa thượng cáp dẫn kiến, và xin theo quy định đời trước xử lý.”
Tấu lên, không được trả lời.
[50] Ngày Tân Mão, Hàn lâm học sĩ thừa chỉ Tô Dịch Giản cùng các học sĩ Hàn Phi, Tất Sĩ An, Bí thư giám Lý Chí[38], Sử quán tu soạn Dương Huy Chi, Lương Chu Hàn, Tri chế cáo Sài Thành Vụ, Lã Tá Chi[39], Tiền Nhược Thủy, Vương Đán, Trực bí các Phan Cẩn Tu, Hàn lâm thị thư Vương Trứ, Thị độc Lã Văn Trọng cùng chiêm ngưỡng bút tích “Ngọc Đường chi thự” của Vua viết theo lối Phi Bạch và các bài thơ khắc trên đá theo ba thể chữ. Vua nghe tin, ban rượu thượng hạng, Thái quan bày tiệc lớn, Lý Chí cùng mọi người đều làm thơ ghi lại sự việc ấy. Tể tướng Lý Phưởng, Trương Tề Hiền, Tham tri chính sự Giả Hoàng Trung, Lý Hãng cũng làm thơ gửi Tô Dịch Giản, Dịch Giản đều dâng lên Vua. Vua nói với Tể tướng: “Tô Dịch Giản đem thơ của các khanh dâng lên, điều này đủ thấy sự hưng thịnh của Nho gia, và sự cao quý của học sĩ. Hãy sao chép một bản khác để tiến vào, còn bản gốc thì ban cho Dịch Giản.”
[51] Trước đó, Tả ty gián, Trực sử quán Tạ Bí tuân chiếu phát giải cử nhân Quốc tử học, loại bỏ nhiều người, khiến họ tụ tập ồn ào, cầm gạch đá đợi ông rời khỏi. Bí biết chuyện, bí mật đi đường khác vào Sử quán, ở lại mấy đêm không dám về, xin được vào tâu trình. Vua hỏi: “Chức quan nào mà nghiêm chỉnh, khiến người trong kinh đều sợ tránh?” Có người trả lời là chức Đài tạp. Ngày Quý Hợi, Vua phong Tạ Bí làm Ngu bộ viên ngoại lang, kiêm Thị ngự sử tri tạp sự. Việc phát giải cử nhân Quốc tử học từ đó giao cho quan khác chủ trì, bắt đầu từ Tạ Bí.
[52] Năm đó, thủ lĩnh người Nữ Chân là Dã Lí Kê và những người khác dâng biểu tâu rằng, người Khiết Đan giận họ vì đã triều cống Trung Quốc, nên đã đặt ba trại cách bờ biển bốn trăm dặm, mỗi trại đặt ba nghìn quân[40], chặn đường triều cống của họ. Vì thế, họ đã đi đường biển vào triều, xin phát binh cùng ba mươi thủ lĩnh để dẹp ba trại này. Nếu được ngày khởi binh, họ sẽ trở về nước trước[41], tập hợp quân đội để chờ đợi. Nhà Vua chỉ ban chiếu an ủi mà không xuất quân. Sau đó, họ liền quy phục về Khiết Đan.
Lúc đó, Hoàng tử nước Định An là Đại Nguyên nhờ sứ giả Nữ Chân dâng biểu, nhưng sau cũng không đến nữa. Nhà Vua lại thấy nước Bột Hải không triều cống, bèn hạ chiếu cho Nữ Chân phát binh đánh, cứ chém được một đầu lính thì ban thưởng năm tấm lụa.
- Thể mạo đại thần, chữ 'Thể' nguyên bản là 'Lễ', căn cứ theo sách trên và quyển 4 của 'Biên niên cương mục' sửa lại. ↵
- 'Tuần' nguyên là 'Tầm', theo sách trên mà sửa ↵
- 'Thần', theo bản Các và sách 'Tống sử' nêu trên. Bản Tống, 'Tống toát yếu' và 'Biên niên cương mục' quyển 4 đều viết 'Vị'. ↵
- Lấy Trịnh Văn Bảo làm Thiểm Tây Chuyển vận sứ, 'Chuyển vận sứ', theo bản Các và 'Đông đô sự lược' quyển 115 Bản truyền, 'Biên niên cương mục' quyển 4 đều giống nhau. Bản Tống, 'Tống toát yếu' và 'Tống sử' quyển 277 Bản truyền thì viết 'Chuyển vận phó sứ'. ↵
- Chữ 'ảnh' nguyên bản thiếu, căn cứ vào bản Tống và bản Tống Toát Yếu cùng 'Tống sử' quyển 281, truyện Khấu Chuẩn mà bổ sung. ↵
- Nguyên bản viết 'ngày này', căn cứ vào các bản mà sửa. ↵
- 'Xu' nguyên văn là 'cơ', căn cứ vào bản Tống, Tống Toát Yếu và Biên Niên Lục quyển 2 sửa lại. ↵
- Chữ 'Kim' vốn bị sót, theo bản Tống, bản trích yếu Tống, bản các và 'Tống sử' quyển 36, truyện Tạ Bí bổ sung. ↵
- Chữ 'quan' nguyên là 'thần', theo bản Tống, bản trích yếu Tống, bản các và 'Biên niên lục' quyển 2 sửa lại. ↵
- Chữ 'lãm' nguyên là 'lãm', theo bản Tống, bản trích yếu Tống và 'Tống sử' quyển 36, truyện Tạ Bí sửa lại. ↵
- Trương Uất nguyên bản viết là 'Trương Đô', theo sách trên và 'Tống hội yếu' nghi chế 2-6, 4-3, 9-8 sửa lại. Dưới đây cũng vậy. ↵
- 'Ngày hôm sau đều đến Chính nha': chữ 'đến' nguyên bản viết là 'khởi', theo các bản sửa lại ↵
- 'Cũng phải làm tờ khai báo đài': chữ 'phải' nguyên bản viết là 'lĩnh', theo Tống bản, Tống toát yếu bản và 'Tống hội yếu' nghi chế 4-4 sửa lại ↵
- Tự thân nghe xét việc 'thân' nguyên bản là 'thị', căn cứ theo Tống bản, Tống toát yếu bản và Tống hội yếu nghi chế 9-8 mà đổi. ↵
- Muốn được ngồi chỗ tiện 'muốn' nguyên bản là 'hậu', căn cứ theo các bản và đoạn trên dẫn Tống hội yếu mà đổi. ↵
- Xin từ nay ngày nghỉ, trừ nội chức và tướng hiệu 'và' nguyên bản là 'cấp', căn cứ theo đoạn trên dẫn Tống hội yếu mà đổi. ↵
- Chữ 'Bảo Cát' nguyên có chữ 'Triệu' thừa, căn cứ vào Tống bản, Tống Toát yếu bản và 'Tục thông giám' quyển 15 mà bỏ. ↵
- Nguyên bản chữ 'Bảo Trung' viết nhầm thành 'Bảo Cát', căn cứ vào sách trên đã sửa lại. ↵
- Nguyên bản chữ 'chế' viết nhầm thành 'chiếu', căn cứ vào Tống bản, Tống Toát yếu bản mà sửa lại. ↵
- việc này được ghi chép giống nhau trong các bản. So sánh với 'Trường biên kỷ sự bản mạt' quyển 14, 'Biên niên cương mục' quyển 4, và 'Tống sử' quyển 287, truyện Lý Xương Linh, đều ghi là 'trước tiên trình lên Viện Thẩm hình đóng dấu', có lẽ là đúng ↵
- 'Vốn' chữ này nguyên bản thiếu, căn cứ theo bản Tống và bản Tóm tắt thời Tống mà bổ sung. ↵
- 'Các con Trẫm' nguyên văn là 'trữ nhị', theo bản Tống, Tống toát yếu, các bản khác và sách 'Biên niên cương mục' quyển 4 sửa lại. ↵
- 'Tự chọn lựa' nguyên văn là 'thị chọn lựa', theo bản Tống, Tống toát yếu và sách 'Biên niên cương mục' đã dẫn sửa lại. ↵
- 'Cửa cung' nguyên văn là 'khuyết', theo sách đã dẫn sửa lại. ↵
- 'Khi được' nguyên văn thiếu chữ 'cập', theo bản Tống, Tống toát yếu bổ sung. ↵
- Có chữ 'thượng' bị thiếu trong nguyên bản, căn cứ theo sách và bản trong các mà bổ sung. ↵
- Lang lại ứng với vị trí tinh tú, chữ 'lang lại' nguyên bản viết 'lang sử', căn cứ vào các bản và sách 'Biên niên cương mục' quyển 4, 'Tống sử toàn văn' quyển 4 sửa lại. ↵
- chức tam ty sứ ngạch, chữ 'sứ' nguyên bản viết 'lại', căn cứ vào sách Tống bản, 'Tống toát yếu bản' và 'Biên niên cương mục' quyển 4, 'Trị tích thống loại' quyển 29, 'Tống sử toàn văn' quyển 4 sửa lại. ↵
- lý khiếm đẳng ty, chữ 'ty' nguyên bản viết 'đồng', căn cứ vào 'Tống sử' quyển 266, 'Vương Hóa Cơ truyện' sửa lại. ↵
- Mong lệnh các lộ chuyển vận sứ phó 'Sứ phó' nguyên là 'Phó sứ', theo bản Tống, bản tóm tắt đời Tống, bản các đời và sách trên đều sửa lại. Sau đây cũng vậy. ↵
- cũng như quản lý thuế muối, rượu, thương mại, kho tàng, 'rượu' vốn ghi là 'sắt', theo các bản Tống, Tống toát yếu sửa lại ↵
- 'mười năm trước', 'mười' vốn ghi là 'ư', theo các bản sửa lại ↵
- thấy triều đình thêm vào các chức Giám lâm sự vụ và Sứ thần, 'và' vốn đảo lên trên 'triều quan', theo các bản Tống, Tống toát yếu và Biên niên cương mục sửa lại ↵
- Hữu chánh ngôn Vương Thế Tắc, Hồng Trạm cùng dâng sớ xin lập Hoàng thái tử, 'Cáp' nguyên bản viết 'Khuyết', theo bản Tống, Tống tóm tắt và Tục thông giám quyển 16 sửa lại ↵
- Diên Trạch là con của Đình Vị, 'Đình Vị' nguyên bản viết 'Đình Vĩ', theo các bản sửa lại. Xét sách 'Tống sử' quyển 271 truyện Quách Đình Vị, Diên Trạch là con của Đình Dụ, anh của Đình Vị, nghi ngờ nguyên bản thiếu chữ 'Tòng'. ↵
- 'hướng minh nhi lí': hai chữ 'nhi lí' vốn thiếu, căn cứ vào 'Tống hội yếu', 'Nghi chế nhất chi nhị nhị', 'Biên niên cương mục' quyển 4, 'Tấu nghị' quyển 119, 'Lễ nhạc bổ' mà thêm vào. ↵
- 'song nhật' nguyên là 'chích nhật', căn cứ vào bản Tống, 'Tống toát yếu', các bản và 'Tống hội yếu', 'Nghi chế nhất chi nhị nhị' mà sửa. ↵
- Bí thư giám Lý Chí: 'Bí thư giám' nguyên tác 'Bí thư viện', căn cứ Tống bản, Tống toát yếu bản sửa đổi. ↵
- Lã Tá Chi: Các bản đồng. Tống bản, Tống toát yếu bản đều chép 'Lã Hựu Chi'. Xét triều Thái Tông, không có ai tên 'Lã Tá Chi' giữ chức Tri chế cáo, theo sách này quyển 34 năm Thuần Hóa thứ 4 tháng 9 có ghi chép về Khởi cư xá nhân, Tri chế cáo Lã Hựu Chi. Lã Hựu Chi, 'Tống sử' quyển 296 có truyện. Nghi ngờ 'Lã Tá Chi' là sai lầm của 'Lã Hựu Chi'. ↵
- chữ 'trại' vốn bị thiếu, theo bản Tống, bản Tống toát yếu, bản Các và sách Tống hội yếu, phần Phiên di, chương 3, mục 2 bổ sung ↵
- chữ 'phó' vốn viết là 'phó', theo bản Tống, bản Tống toát yếu và sách Tống hội yếu đã dẫn ở trên sửa lại ↵