II. TỐNG THÁI TÔNG
QUYỂN 33: NĂM THUẦN HÓA THỨ 3 (NHÂM THÌN, 992)
Từ tháng giêng năm Thuần Hóa thứ 3 đời Thái Tông đến tháng 12 cùng năm.
[1] Tháng giêng, mùa xuân, ngày sóc Bính Thân[1], sau khi nhận lễ triều tại điện Triều Nguyên, Hoàng đế đổi sang mặc áo Thông Thiên quán và áo tía Sa bào, lại ngồi lên ngai, nhận lời chúc thọ từ quần thần. Rượu được dâng ba tuần, dùng nhã nhạc, hòa tấu cung đình, có hát xướng. Bãi bỏ lễ chúc thọ tại điện Đại Minh.
[2] Các đạo tiến cử tổng cộng 17.300 người, đều tập trung dưới cửa khuyết. Ngày Tân Sửu, sai Hàn lâm học sĩ Thừa chỉ Tô Dịch Giản và các đồng liêu cùng chủ trì việc tiến cử. Sau khi nhận chiếu, họ trực tiếp đến Viện Cống để tránh việc xin xỏ. Từ đó trở thành lệ thường.
[3] Ngày Ất Tỵ, lệnh cho các quan thường chánh mỗi người tiến cử một kinh quan để bổ sung vào chức triều quan.
[4] Ngày Bính Ngọ, lệnh cho các quan từ Tể tướng trở xuống đến Ngự sử Trung thừa, mỗi người tiến cử một triều quan làm Chuyển vận sứ. Lại có chiếu rằng những kinh quan được tiến cử, trừ những người đã được thăng chức tại Tam ty, Tam quán, chỉ những người có tài năng nhưng đang giữ chức ngoại nhiệm, chưa được triều đình biết đến, mới được tiến cử.
(Chiếu này theo bản khác ghi vào ngày Nhâm Thân tháng 2, nay dời lại ở phần tiến cử quan chức.)
[5] Ngày Mậu Ngọ, chiếu cho các Chuyển vận sứ từ nay về sau, nếu có cải cách việc dân sự, xử án oan sai, chuyên chở lương thực kim khí, đạt thành tích xuất sắc, hoặc có sáng kiến thực sự có lợi cho dân, thì các châu, phủ, quân, giám nơi đó, mỗi cuối năm phải trình bày chi tiết lên triều đình. Những việc không đặc biệt thì không được tâu trình.
[6] Tháng 2, tại Hàng châu, các quan chưởng canh Diệp Ngạn An cùng 122 người thiếu Tiền Thích kho lương 848.004 thạch, muối 50.446 thạch. Ngày Giáp Thân, chiếu xóa bỏ tất cả.
[7] Diêm thiết sứ Ngụy Vũ đương tâu rằng các châu, những quan viên phụ trách trà và muối, nhiều người nợ thuế của nhà nước, xin hành phạt quyết đoán. Vua nói: “Phải tra xét rõ sự thực. Nếu vì thiên tai lụt lội, hạn hán mà dẫn đến thiếu thuế, thì không thể xử phạt được. Đế Vương là người chủ tài sản của thiên hạ. Các khanh phụ trách việc kế toán, nên lấy công chính làm tâm, không nên cắt xén bừa bãi, đừng để hại dân mà tổn hại hòa khí.”
[8] Tháng ba, ngày Mậu Tuất, Vua ngự tại điện Sùng Chính, tiến hành phúc thí cho các tiến sĩ đã đỗ kỳ thi trước. Trước đó, Hồ Đán, Tô Dịch Giản, Vương Thế Tắc, Lương Hạo, Trần Nghiêu Tẩu đều hoàn thành bài thi sớm, được xếp hạng cao. Từ đó, sĩ tử tranh nhau học lối văn hoa phù phiếm, chú trọng tốc độ, có người trong một khắc làm mấy bài thơ, hoặc một ngày viết mười bài phú. Tướng tác giám thừa Phủ Điền Trần Tĩnh dâng sớ, xin thực hiện phương pháp “hồ danh” (che tên) khi chấm thi để khắc phục tình trạng này. Vua khen ngợi và chấp thuận.
Từ đó, triệu tập các văn sĩ của Lưỡng tỉnh và Tam quán, bắt đầu thực hiện việc hồ danh chấm thi, xếp hạng ưu liệt để phân chia thứ bậc. Trong kỳ thi, đề bài “Chi ngôn nhật xuất” (Lời nói xuất phát từ tấm lòng) được đưa ra, khiến thí sinh kinh ngạc, không biết diễn đạt thế nào, cùng nhau đến cửa điện xin đổi đề. Tiền Dịch người quận Hội Kê, lúc ấy mới mười bảy tuổi, chưa đến trưa đã hoàn thành cả ba đề thi, nhưng có người chỉ trích là quá khoe khoang, đặc biệt loại bỏ.
Kết quả, chọn được Tôn Hà người Nhữ Dương cùng 302 người khác, đều được ban đỗ tiến sĩ, và 51 người được xếp vào hạng đồng xuất thân. Vua dạy rằng: “Các người đều có chí hướng, đã được tuyển chọn vào triều đình, ngoài việc làm quan, cần cố gắng trau dồi văn chương, đừng để lãng phí công sức trước đây.” Tôn Hà cùng mọi người lễ bái tạ ơn.
[9] Ngày Tân Sửu, lại tổ chức thi lại các khoa, chọn được 784 người, đều ban cho học vị đệ và 180 người được ban xuất thân. Tổ chức yến tiệc, ban ba bài thơ ngự chế và một bài châm. Tiến sĩ Tôn Hà cùng bốn người dưới đều được bổ nhiệm làm Tướng tác giám thừa, Đại Lý bình sự thông phán các châu, những người còn lại và các khoa khác được bổ nhiệm làm quan chức sở ở các châu huyện. Vào tạ ơn tại điện Trường Xuân.
Vua nói với Thừa tướng: “Thiên hạ rộng lớn, cần dựa vào nhiều người tài cùng trị vì. Năm nay, những người đỗ đạt lại hơn nghìn người, đều là do Trẫm chọn lựa. Bọn họ chỉ cần tự kiểm điểm, thanh liêm đẹp lòng mà thay thế rồi trở về[2], thì sẽ dần tiến đến con đường hanh thông, khó lường trước được.” Khi đó, có chiếu khắc chương “Nho hạnh” trong sách ‘Lễ ký’, ban cho các quan gần gũi và các quan kinh đô được bổ nhiệm ở ngoài, đồng thời ban cho Tôn Hà và những người khác[3], lệnh làm lời răn đặt bên cạnh chỗ ngồi. Lúc đầu, trong điện sách sĩ, thường ban thơ ngự chế để nâng đỡ. Đến Trần Nghiêu Tẩu mới đổi ban châm, nhằm khuyên răn. Đến Tôn Hà thì thơ và châm đều được ban, người đời khen ngợi.
Sử quán tu soạn Lương Chu Hàn, Trực chiêu văn quán An Đức Dụ cùng làm quan khảo thí.
[10] Chiếu cho các quan xét định phép cân, soạn thành quy tắc mới ban hành. Trước đó, các lại tàng thủ nhận vàng bạc do các địa phương nộp hàng năm, nhưng cân đo của Thái phủ tự theo quy tắc cũ không chuẩn, các lại nhân đó làm bậy, những người trình báo thường bị buộc tội thất thoát đến mức phá sản. Lại có việc thay đổi lại tàng thủ, việc kiểm tra tranh chấp kéo dài nhiều năm. Đến lúc này, Giám nội tàng khố Lưu Thừa Khuê cùng các người khác xét rõ nguyên nhân, sửa đổi quy chế, trong ngoài đều thấy tiện lợi. Thừa Khuê là hoạn quan, người huyện Sơn Dương.
[11] Diêm thiết phán quan, Tả ty gián Hàn Quốc Hoa[4] đều tấu rằng: “Đảm nhiệm chức gián quan, kiêm chức kế ty, duy chỉ không được tham gia yến tiệc, mong được kiêm nhiệm chức vụ trong quán.” Ngày Ất Tỵ, Vua sai Hàn Quốc Hoa và những người khác trực tiếp làm việc tại Chiêu Văn quán. Từ đây, quan thuộc Tam ty kiêm nhiệm chức trực quán, bắt đầu từ Hàn Quốc Hoa và những người này.
[12] Ngày Tân Dậu, lệnh cho các cơ quan hữu trách dùng tháng hai mở băng, dâng lễ hiến dê tơ, tế bằng hẹ. Trước đây, thời cận đại quen dùng tháng tư, đó là lầm tưởng câu “Tứ chi nhật” trong thơ ‘Bân Thi’ là tháng Bốn hiện tại. Bí thư giám Lý Chí xin sửa lại. Vua nói: “Tháng tư hẹ đã già, có thể dùng để lợp nhà, sao có thể gọi là tiến hiến mới?” Bèn theo lời thỉnh cầu của Lý Chí.
[13] Ngày mùng một tháng năm, năm Giáp Ngọ, Vua ngự tại Văn Đức điện, bá quan vào hầu. Theo chế độ cũ, khi vào hầu, chỉ có điện trung tỉnh mang theo nghi trượng nhỏ, cùng các quan cung phụng thuộc lưỡng tỉnh vào trước, bày ở sân. Vua cho rằng nghi vệ quá đơn giản, bèn lệnh cho các cơ quan hữu trách bày thêm nghi trượng hoàng huy, còn nghi trượng nhỏ của điện trung tỉnh vẫn giữ nguyên, theo chế độ mới.
[14] Lệnh cho các châu dâng tấu chương, không được niêm phong chung; Chuyển vận sứ khi đi thanh tra các châu huyện, trước hết phải ghi chép lại các án hình và lệnh cấm.
[15] Vua lại sai Y quan biên tập bộ ‘Thái Bình Thánh Huệ phương’ 100 quyển, ngày Kỷ Hợi, ban bản in khắp thiên hạ. Mỗi châu chọn một người giỏi y thuật bổ làm Y bác sĩ, giao cho họ quản lý, cho phép quan lại và dân chúng sao chép.
[16] Ngày Nhâm Dần, chiếu cho Ngự sử đài xét các tội từ tù đày trở lên, khi án đã thành, lệnh Thượng thư thừa lang, lưỡng tỉnh cấp xá trở lên cử một người thân hành đến xem xét.
[17] Kỷ Dậu, Vua vì lâu ngày thiếu mưa, nét mặt lo lắng, bảo các tể thần rằng: “Khí dương quá thịnh, Trẫm đã thành khẩn cầu khấn, dâng lễ vật khắp nơi, nhưng vẫn chưa nhận được điềm lành, há chẳng phải do hình ngục bốn phương có oan khuất, quan lại quận huyện không xứng chức, việc chính trị triều đình có thiếu sót sao?” Bèn sai 17 vị thường tham quan đi các lộ xét xử những vụ án hình. Tối hôm ấy, trời mưa. Ngày Canh Tuất, các tể thần cùng nhau vào chúc mừng, Vua nói: “Trẫm cần mẫn cầu trị, xem dân như bị thương, tự xét lòng mình, không có gì phải thẹn. Việc lâu ngày thiếu mưa là do lẽ âm dương, không phải điều Trẫm lo. Trẫm chỉ lo quan ngục lợi dụng văn tự xảo trá để hãm hại, quan tài chính vơ vét bóc lột, quan địa phương không thi hành sắc chỉ, khanh sĩ không chịu làm tròn bổn phận.” Lý Phưởng, Trương Tề Hiền cùng Giả Hoàng Trung, Lý Hãng hổ thẹn sợ hãi, quỳ lạy rồi lui, dâng biểu chịu tội. Vua nói: “Trong lòng Trẫm nếu có điều gì, liền muốn nói cùng các khanh. Đã nói ra rồi, thì không còn việc gì nữa. Nhưng việc trong Trung thư, các khanh cần hết lòng làm tốt.” Phưởng và các người lại dâng biểu tạ ơn.
[18] Ngày Tân Hợi, đặt Lý kiểm viện, lấy Hữu chánh ngôn, Tri chế cáo Tiền Nhược Thủy đứng đầu, là phục chế lại đời Đường.
(Năm Chí Đạo thứ ba bãi bỏ. Không rõ tháng nào, ghi phụ vào cuối tháng 5.)
[19] Ngày Giáp Dần, bắt đầu sai tu bổ, mở rộng Bí các.
[20] Tháng sáu, ngày Canh Thân, có châu chấu bay từ hướng đông bắc đến, che kín trời, đi qua phía tây nam rồi biến mất. Vua nói với Thừa tướng: “Trẫm chưa từng thấy loài côn trùng này, chúng bay thành đàn, thế lực rất mạnh, chắc chắn sẽ gây hại đến hoa màu, lòng Trẫm lo lắng như bị bóp nghẹt. Hãy nhanh chóng sai người đến nơi chúng tập trung để xem xét, khanh có kế gì để đuổi chúng đi không?” Thừa tướng đáp: “Sâu bọ sinh ra do hạn hán, nếu mưa nhiều thì chúng không thể bay, việc thành tai hại hay không cũng tùy thuộc vào thời tiết. Thánh tâm lo lắng, thương xót dân chúng, tất sẽ cảm động đến trời đất. Thần đảm nhiệm việc điều hòa, thật lấy làm hổ thẹn và lo sợ.” Tối hôm đó, trời đổ mưa lớn, châu chấu đều chết. (Sách ‘Bảo Huấn’ chép lời Thánh vào năm thứ hai, nhưng năm thứ hai châu chấu không từng bay qua kinh sư. Nay theo ‘Thực Lục’. ‘Bảo Huấn’ ghi là Lữ Mông Chính, nhưng năm thứ ba Mông Chính đã bãi chức Thừa tướng, nên sửa lại tên.) Lúc đó, kinh đô được mùa lớn, giá cả rất rẻ.
[21] Ngày Tân Mão, sai sứ thần phân bố đến bốn cửa thành kinh đô, đặt trường thu mua, nâng giá lên, lệnh các cơ quan mở kho gần đó để chứa, gọi là thường bình, giao cho quan thường triều quản lý, đợi khi mất mùa, sẽ hạ giá bán cho dân nghèo, từ đó trở thành chế độ vĩnh viễn.
[22] Mùa thu, tháng bảy, ngày Nhâm Thìn, đặt ra Tam ty đô câu viện, lệnh Hữu gián nghị đại phu Trương Tất điều hành.
[23] Ngày Ất Tỵ, Thái sư, tặng chức Thượng thư lệnh, Chân Định Trung Hiến Vương Triệu Phổ qua đời. Trước đó, Triệu Phổ sai người thân tín là Chân Tiềm đến cung Thượng Thanh Thái Bình cầu đảo. Thần giáng lời rằng: “Triệu Phổ là bề tôi trung thành mở nước, lâu ngày mắc bệnh, cũng là do oan khuất.” Oan khuất ở đây chỉ Phù Lăng Điệu thứ nhân[5]. Chân Tiềm trở về, Triệu Phổ gượng sức mặc áo mũ, ra sân tiếp nhận lời thần, rơi nước mắt cảm động, nói: “Phù Lăng tự gây bất ổn, nên phải chịu tội, lẽ nào lại quy trách nhiệm cho ta? Chỉ mong mau chết, để đối chất dưới âm phủ mà minh oan.” Đêm ấy, ông qua đời.
Ngày Kỷ Dậu, Vua nghe tin báo tang, đau buồn thương tiếc, nói với các quan cận thần rằng: “Triệu Phổ phụng sự Tiên đế cùng với Trẫm, là người cố cựu, có tài quyết đoán việc lớn. Trước đây cùng Trẫm từng có điều chưa vừa ý, mọi người đều biết. Từ khi Trẫm lên ngôi, luôn đối đãi với ông ấy bằng lễ đặc biệt, Phổ cũng tận tâm tận lực phụng sự, hết lòng trung thành với quốc gia, là bề tôi của xã tắc. Nay nghe tin ông qua đời, lòng Trẫm đau buồn khôn xiết.” Nói rồi rơi lệ, tả hữu đều xúc động. Vua sai Hữu gián nghị đại phu Phạm Cảo tạm quyền Hồng lư khanh lo việc tang lễ. Ngày an táng, bày đầy đủ nghi trượng, cờ quạt, nhạc lễ theo đúng quy định.
Hai người con gái của Phổ đều còn nhỏ, vợ Phổ là Hòa thị xin xuất gia làm ni cô, Vua nhiều lần khuyên răn nhưng không lay chuyển được ý định của bà, bèn ban cho pháp danh. Vua lại tự tay soạn văn bia thần đạo, viết chữ ban tặng.
(Theo văn bia thần đạo, Triệu Phổ mất ngày 14 tháng 7; ngày 14 là ngày Ất Tỵ. Ngày Kỷ Dậu là 18, Vua mới nghe tin báo tang.)
[24] Tháng 8, ngày Nhâm Tuất, mùng một, Thư viện Bí các hoàn thành. Bí thư giám Lý Chí dâng lời rằng: “Xin được sánh với công trình Ngọc đường, ban cho tên mới.” Ngày Mậu Thìn, Vua viết chữ bay trắng (phi bạch) hai chữ “Bí các” ban tặng. Lại hạ chiếu cho Thừa tướng, Xu mật sứ cùng các quan cận thần đến xem, đặt tiệc dưới Thư viện, các quan trực thuộc đều tham dự, lại ban thơ để ca ngợi việc này.
[25] Chiếu chỉ vời ẩn sĩ Chủng Phóng ở núi Chung Nam, nhưng ông từ chối vì bệnh, không đến. Chủng Phóng từ bảy tuổi đã biết làm văn, tính tình trầm lặng, cao khiết, cùng mẹ sống ẩn cư ở Báo Lâm cốc, lấy việc giảng dạy làm nghề, học trò theo học rất đông, nhận được lễ vật để nuôi mẹ[6]. Mẹ ông cũng yêu thích đạo lý, ăn uống thanh đạm, giỏi phép nhịn ăn. Khi đó, Thiểm Tây chuyển vận sứ Tống Duy Cán dâng lời khen ngợi tài năng của Chủng Phóng, chiếu chỉ được ban ra để vời ông. Mẹ ông giận dữ nói: “Ta thường khuyên con đừng tụ tập đồ đệ giảng học. Con đã ẩn cư rồi, cần gì đến văn chương! Nếu bị người đời biết đến, con sẽ không thể sống yên ổn, ta sẽ bỏ con, vào sâu trong núi hoang.” Chủng Phóng liền cáo bệnh không ra. Mẹ ông lấy hết bút nghiên đốt đi, cùng ông chuyển đến nơi hoang vắng, ít người lui tới. Vua khen ngợi tiết tháo cao quý của ông, sai Kinh Triệu phủ thỉnh thoảng đến thăm hỏi, ban ba vạn tiền, không ép buộc ông thay đổi chí hướng.
(Sách Đàm uyển chép việc về Chủng Phóng khác với quốc sử, nay theo quốc sử.)
[26] Ngày Mậu Tý, chiếu chỉ tha cho 2.549 dân Hàng Châu nợ tổng cộng 68.800 lạng tiền lãi hằng ngày của Tiền Thục.
[27] Tháng 9, ngày Nhâm Thìn, chiếu chỉ định vào tháng 11 năm nay, ngày Đông chí, sẽ tổ chức đại lễ ở Nam Giao.
[28] Diêm Thiết phó sứ Tạ Bí từng lên điện tâu việc, Vua bảo rằng: “Phàm giữ chức vụ thì không thể không siêng năng. Trẫm mỗi lần thấy binh lính trong sân điện quét dọn thêm một khoảng đất, múc thêm một bình nước, đều ghi nhớ tên họ của họ.”
(Sách Bảo huấn chép rằng vào đầu niên hiệu Đoan Củng, Tạ Bí làm Diêm Thiết phán quan, nhân tâu việc, Vua có lời này, nhưng niên hiệu và chức vụ đều sai, không rõ lời này nói vào thời điểm nào, Tạ Bí từ chức Diêm Thiết chuyển sang Độ chi vào ngày Giáp Ngọ, nay tạm chép sau ngày đó.)
[29] Ngày Ất Mão, Mã bộ quân đô đầu, Thứ sử Bảo Châu là Hô Diên Tán được điều làm Tổng quản binh mã Ký Châu.
Tán người Thái Nguyên, tính hung hăng nhẹ dạ, tự nói rằng chịu ơn nước, thề không cùng sống với Khiết Đan, xăm trên mình chữ “Xích tâm sát Khiết Đan”, cả vợ con, gia nhân, người cùng bếp đều như vậy. Yên cương, đồ dùng cũng đều thêu khắc chữ đỏ đen[7]. Sau lại cùng các con xăm câu “Ra đi quên nhà vì nước, ra trận quên mình vì chúa”. Lại làm gậy hàng ma, đao phá trận, mũ sắt gấp lên, hai bên có lưỡi, đều nặng mấy chục cân; cưỡi ngựa chuy, đeo băng đỏ trán.
Khi Bắc chinh, Vua cho rằng Tán dùng y phục kỳ dị làm hoang mang dân chúng, muốn chém, nhưng được tha. Đến đây, Tán tâu với Vua: “Thần mặc y phục kỳ dị, đến đâu cũng bị người xúm xem, xin cho các châu huyện sai lính quét đường nghênh đón”. Vua cười nhưng không cho. Tán đến đồn, có người nói Tán không có tài thống lĩnh, đổi làm Thứ sử Liêu Châu, sau lại vì không thể trị dân, triệu về làm Đô quân đầu, kiêm Thứ sử Phù Châu.
(Làm Đô quân đầu lại vào ngày Kỷ Mùi, tháng 7 năm thứ 5, nay viết chung một chỗ).
[30] Ngày Bính Thìn, quần thần dâng biểu xin tôn hiệu cho Vua là “Pháp Thiên Sùng Đạo Minh Thánh Nhân Hiếu Văn Vũ”. Vua nói: “Chỉ cần thời tiết thuận hoà, mùa màng bội thu, trăm họ giàu có, đó là nguyện vọng của Trẫm. Còn những tôn hiệu khen quá lời, có gì đáng quý?”. Quần thần dâng biểu năm lần, nhưng Vua vẫn không chấp thuận.
[31] Ngày Kỷ Mùi, Vua đến Bí các xem sách, ban rượu cho các quan theo hầu và các quan trực quán các. Xong, lại sai Hoàng thành sứ Vương Kế Ân triệu Mã bộ binh đô ngu hậu Phó Tiềm, Điện tiền đô chỉ huy sứ Đái Hưng đến dự yến tiệc, cùng xem sách. Vua muốn các tướng võ biết được sự hưng thịnh của văn nho. (Căn cứ vào ‘Chức quan chí’ và ‘Hội yếu’, năm Thuần Hóa thứ 4 mới đặt chức Chiêu tuyên sứ, lúc này chưa có, Kế Ân chỉ là Hoàng thành sứ. ‘Thực lục’ và ‘Nghệ văn chí’ đều nhầm, nay sửa lại).
[32] Mùa đông, tháng 10, ngày Quý Hợi, Bí thư giám Lý Chí tâu rằng mong được lấy bản thảo chữ thảo của bản “Thiên Văn” khắc lên đá. Vua bảo các cận thần rằng: “Thiên Văn vốn là do nhà Lương thu được hơn ngàn chữ từ bia vỡ của Chung Do, Chu Hưng Tự sắp xếp vần mà thành, văn chương và lý lẽ không có gì đáng lấy. Hiếu Kinh mới là gốc của trăm hạnh, Trẫm sẽ tự viết, sai khắc ở mặt sau bia.” Nhân đó ban chiếu dụ cho Lý Chí[8].
[33] Ngày Mậu Dần, ra chiếu rằng: “Các đạo, tri châu, thông phán, quan kinh triều lo việc, lệnh lục, phán ty, bạ uý, nếu có người trị hành xuất sắc, được quan dân kính sợ, làm quan thanh liêm cẩn thận, xử lý công việc sáng suốt nhanh nhạy, kiện tụng giảm bớt, kho tàng đầy đủ, trộm cướp bị tiêu diệt, trong địa bàn yên ổn, thì giao cho chuyển vận sứ của đạo này tâu lên tên tuổi, đặt trạm dịch đưa về kinh để Trẫm hỏi riêng, Trẫm sẽ khen thưởng. Ngược lại, cũng phải tâu đầy đủ, sẽ bị trách phạt.”
[34] Vua lo rằng quan lại trong ngoài lẫn lộn trong sạch và nhơ bẩn, không thể phân biệt được, ngày Nhâm Ngọ, sai Hộ bộ thị lang Vương Miễn, Độ chi phó sứ Tạ Bí, Bí thư thừa Vương Trọng Hoa cùng lo việc khảo sát quan kinh triều; Lại bộ thị lang Trương Hoành, Hộ bộ phó sứ Cao Tượng Tiên, Thiện bộ viên ngoại lang Phạm Chính Từ cùng lo việc khảo sát mạc chức, quan châu huyện, gọi là Viện Ma Khám. Lại sai Tả tán thiện đại phu Ngụy Đình Thức cùng Xu mật đô thừa chỉ Triệu Dung, Lý Trứ cùng xét công tội của các viên điện trực trở lên ở Tam Ban Viện. Trọng Hoa, người Ba Thục; Tượng Tiên, người Ngu Thành; Đình Thức, người Tông Thành; Trứ, người Đông Minh.
[35] Tháng 11, ngày Kỷ Hợi, Khai Phong doãn Hứa Vương Nguyên Hi vào chầu sớm, đang ngồi trong điện, cảm thấy trong người không khỏe, liền không vào triều yết, thẳng về phủ. Xa giá vội đến thăm, bệnh đã nặng, Vua gọi, còn đáp được, một lát sau thì mất, hưởng dương 27 tuổi. Vua khóc thương đau đớn, tả hữu không ai dám ngẩng mặt nhìn. Truy tặng làm Thái tử, thụy hiệu là Cung Hiếu.
[36] Chiếu rằng sắp có việc tế lễ ở phía nam giao, trước mười ngày thì Hứa Vương mất. Theo lễ[9], việc tế lễ trời đất và xã tắc không bị hủy bỏ, nhưng do việc Vua thân hành đến tế lễ ở Thái miếu, e là không tiện, nên triệu tập các quan công khanh để bàn. Lại Bộ Thượng Thư Tống Kỳ cùng các quan dâng tấu, xin đến tháng giêng năm sau, ngày Thượng Tân, hợp tế trời đất, Vua nghe theo.
[37] Ban đầu, Vương Miễn bị cách chức, trở về nhà riêng, gặp lúc tội cũ của một tiểu lại ở Trung thư bị phát giác, việc liên quan đến Trung thư, nên có người dâng tấu hạch tội Miễn. Vua nói: “Lữ Mông Chính có phẩm cách của bậc đại thần, còn Vương Miễn rất minh mẫn.” Người hạch tội nghe thế xấu hổ rút lui.
Sau đó, Vua muốn phân biệt năng lực của quan lại, nên sai Miễn làm Đồng Tri Kinh Triều Quan Khảo Khóa. Những điều Miễn tấu rất chi tiết nhỏ nhặt, không hiểu được đại thể, coi sĩ quân tử như tốt ngũ tư lại, đặt ra các quy tắc để phòng ngừa, khiến dư luận xôn xao. Nhưng Miễn tự cho mình thanh liêm chính trực, không tư lợi[10], nên cậy thân với Vua, xin được trở lại.
Ngày Canh Tý, Miễn đang làm việc ở cơ quan, đột nhiên mắc bệnh phong huyễn, được đưa về nhà rồi mất. Vua thương tiếc, ban chiếu ưu ái, truy tặng chức Công Bộ Thượng Thư.
[38] Cung Hiếu thái tử Nguyên Hi tính tình nhân hậu hiếu thuận, dung mạo oai vệ hùng dũng[11], tính trầm tĩnh ít nói. Ông làm Doãn kinh thành năm năm, việc chính sự không có sai sót, được Vua đặc biệt yêu quý. Khi ông mất, Vua nhớ thương không thôi, có khi khóc thâu đêm không ngủ, làm thơ ‘Tư vong tử’ để tỏ lòng với các cận thần.
Không lâu sau, có người nói Nguyên Hi bị nàng hầu họ Trương mê hoặc, thường tùy tiện đánh đập tôi tớ, có người chết vì thế. Nhưng Nguyên Hi không biết, lại vì họ Trương ở chùa Phật phía tây kinh thành làm lễ chiêu hồn, chôn cất cha mẹ nàng, vượt quá quy định.
Lại có lời đồn Nguyên Hi vì ăn nhầm thứ gì mà mắc bệnh, cùng những chuyện riêng tư trong cung. Vua nổi giận, hạ lệnh bắt họ Trương thắt cổ chết, bắt hết thân lại bên cạnh Nguyên Hi giam vào ngục, lệnh cho Hoàng thành sứ Vương Kế Ân tra hỏi, xử đánh trượng rồi cách chức. Đào đốt hết mộ cha mẹ họ Trương[12], thân thuộc đều bị đày tới nơi xa xôi hiểm ác.
Ngày Bính Thìn, hạ chiếu bỏ lễ tấn phong, chỉ dùng nghi trượng nhất phẩm mà chôn cất. Đến khi Chân Tông lên ngôi, mới hạ chiếu cho trong ngoài xưng hiệu Thái tử.
(Theo ‘Trương Đường Anh Khấu Chuẩn truyền’ chép: Khấu Chuẩn làm thông phán ở Vận Châu[13], được triệu kiến, Thái Tông nói: “Trẫm biết khanh có mưu lược sâu xa, thử cùng Trẫm quyết một việc, sao cho trong ngoài không bị kinh động. Việc này Trẫm đã bàn với các đại thần rồi.” Chuẩn hỏi việc gì, Thái Tông nói: “Đông cung làm việc phi pháp, ngày sau ắt sẽ có hành động như Kiệt, Trụ, Trẫm định phế bỏ, nhưng trong cung cũng có binh giáp, sợ sẽ gây loạn.” Chuẩn tâu: “Xin vào ngày tháng nào đó, cho Đông cung đến nơi nào đó thay mặt làm lễ, bảo tả hữu thị vệ đều đi theo. Bệ hạ lục soát cung Đông cung, nếu tìm thấy khí giới phi pháp, đợi Đông cung trở về thì cho xem, cách ly tả hữu không cho vào mà phế bỏ, chỉ một tên hoạn quan là xong.” Thái Tông cho là phải.
Đến khi Đông cung đi ra ngoài, bèn lục soát trong cung, tìm thấy các dụng cụ hình cụ dâm đãng, có cả dao móc mắt, kẹp gân, cắt lưỡi v.v. Khi Đông cung trở về, cho xem, Đông cung nhận tội, liền bị phế, chọn lập đích Chương Thánh làm Thái tử. Từ đó, Thái Tông càng thêm quý trọng Chuẩn.
Xét rằng: Chuẩn đã làm Xu mật phó sứ từ năm Thuần Hóa thứ ba. Sau khi Nguyên Hi chết, tình cảm của Thái Tông mới suy giảm, khi Nguyên Hi còn sống thì chưa từng lập Đông cung. Không rõ Trương Đường Anh căn cứ vào đâu mà bôi nhọ quá mức, nên không dùng ở đây. Việc dụng hình cụ dâm đãng có liên quan đến Sở vương Nguyên Tá, đã ghi trong tháng 9 năm Ung Hi thứ hai[14].)
[39] Lễ nghi sứ Tô Dịch Giản dâng lời tâu rằng: “Kính nghĩ rằng triều đại thánh triều thân hành tế tự nơi viên khâu, lấy Tuyên Tổ làm vị thần phụ tá chủ tế, điều này phù hợp với đạo hiếu lớn của bậc thánh nhân, hoàn thành nghi lễ cha nghiêm trang phối hợp với trời. Kính nhớ rằng Thái Tổ hoàng đế mở rộng cơ đồ, cung kính lên ngôi báu, lấy thánh nhân truyền lại cho thánh nhân, truyền mãi vô cùng.
Xin theo như thời Vĩnh Huy nhà Đường, lấy Cao Tổ và Thái Tông cùng phối thờ với Thượng đế, mong rằng trong tương lai khi thân hành tế tự ở giao khâu, sẽ lấy Tuyên Tổ cùng Thái Tổ đồng phối. Còn các lễ tế thường, như lễ cầu mùa vào tháng giêng, lễ tế Thần châu vào tháng mười, lễ đại hưởng vào tháng chín, đều lấy Tuyên tổ làm vị chính phối; lễ tế viên khâu vào ngày đông chí, lễ tế Hoàng địa kỳ vào ngày hạ chí, lễ tế Vu vào tháng tư, đều lấy Thái Tổ làm vị chính phối.” Vua chấp thuận lời tâu.
(Trong bản chí chép: Dịch Giản dâng lời tâu vào tháng giêng, thời gian gấp gáp, nay chép vào cuối năm này.)
[40] Đặt chức quan cai quản riêng cho quân mã và quân bộ, mỗi bên một người, theo lời đề nghị của Hộ bộ sứ Phàn Tri Cổ. Sau đó hợp hai cơ quan này làm một.
(Việc hợp thành một cơ quan diễn ra năm thứ 5, nay gộp chép vào đây.)
[41] Chia kho Tàng khố thành hai kho Tả tàng và Hữu tàng, kho Hữu tàng nhận vật phẩm, kho Tả tàng cấp phát. Khi kho Hữu tàng đã đầy đủ, lại lấy từ kho này mà cấp phát. Các kho chia thành sáu nhóm: tiền, vàng bạc, vải vóc, đều thay đổi cách cấp nhận. Năm sau, bỏ kho Hữu tàng nhập vào kho Tả tàng. Chia thành bốn kho: tiền, vàng bạc, tơ lụa, vải vóc các loại.
(Việc này có thể khảo sát từ lời nói của Lã Đoan vào tháng 6 năm Chí Đạo nguyên niên.)
- Ngày sóc Bính Thân: 'Bính Thân' nguyên bản ghi là 'Bính Dần', căn cứ vào bản Tống, bản Tóm tắt Tống sử và 'Biểu sóc nhuận nhị thập sử' của Trần Viên (sau đây gọi tắt là Biểu sóc nhuận) sửa lại. ↵
- 'Thanh mĩ đắc thế nhi quy' các bản đồng. Xét bản Tống, Tống toát yếu và 'Tống sử toàn văn' quyển 4 thượng, 'Trị tích thống loại' quyển 28 tổ tông khoa cử thủ nhân đều viết 'Tình mĩ thế nhi quy'. ↵
- 'Đồng thời ban cho Tôn Hà và những người khác' chữ 'đẳng' nguyên thoát, theo ghi chú [4] xét các sách bổ. ↵
- Diêm thiết phán quan Tả ty gián Hàn Quốc Hoa, chữ 'Gián' nguyên bản là 'Giám', căn cứ theo bản Tống, bản Tóm tắt Tống và 'Tống sử' quyển 277, Truyện bản sửa. ↵
- Cái chỉ 'Điệu thứ nhân', các bản đều giống nhau. Bản 'Tống Toát Yếu' và bản 'Trưởng Biên Kỷ Sự Bản Mạt' đều chép là 'Điệu Vương.' Theo truyện Ngụy Vương Đình Mỹ trong quyển 244 sách 'Tống Sử', chỉ nói giáng Đình Mỹ xuống làm huyện công Phù Lăng, sau khi mất, truy phong làm Phù Vương, tên thụy là Điệu. Chỗ này nghi nên theo bản 'Tống Toát Yếu' chép là 'Điệu Vương'. ↵
- 'Nuôi mẹ' nguyên văn là 'phụng mẹ', theo bản Tống, Tống toát yếu và sách Trưởng biên kỉ sự bản mạt quyển 22 về xuất xứ của Chủng Phóng mà sửa lại. ↵
- 'khắc đỏ đen' nguyên bản là 'xích mặc', theo bản Tống và Tống toát yếu sửa đổi. ↵
- Chữ 'chỉ' vốn thiếu, căn cứ theo sách Tống, Tống toát yếu và Trường biên kỉ sự bản mạt quyển 14 phần bổ sung về thánh học. ↵
- Theo lễ thì chữ 'Lễ' nguyên bản thiếu, căn cứ vào Tống bản, Tống toát yếu bản, Các bản bổ sung ↵
- Nhưng Miễn tự cho mình thanh liêm chính trực, không tư lợi. Hai chữ 'Không tư' nguyên bản thiếu, căn cứ vào Tống bản, Tống toát yếu bản bổ sung ↵
- 'Nghị' nguyên bản viết là 'Vĩ', căn cứ vào Tống bản, Tống toát yếu bản, các bản khác và sách 'Tống sử' quyển 245, 'Chiêu Thành Thái tử Nguyên Hi truyền' mà sửa. ↵
- 'Mộ' nguyên bản viết là 'kì', căn cứ vào Tống bản, Tống toát yếu bản và các bản khác mà sửa. ↵
- 'Vận Châu' nguyên bản viết là 'Hồn Châu', căn cứ vào Tống bản, Tống toát yếu bản, các bản khác và sách 'Tống sử' quyển 281, 'Khấu Chuẩn truyền' mà sửa. ↵
- 'Hai năm' nguyên bản viết là 'Một năm', căn cứ vào các bản khác và sách này quyển 26, tháng 9 năm Ung Hi thứ hai, chép về việc Sở vương Nguyên Tá dùng hình cụ dâm đãng mà sửa. ↵