II. TỐNG THÁI TÔNG
QUYỂN 34: NĂM THUẦN HÓA THỨ 4 (QUÝ TỴ, 993)
Từ tháng giêng năm Thuần Hóa thứ tư đời Thái Tông đến hết tháng chạp cùng năm.
[1] Mùa xuân, tháng giêng, ngày Canh Dần, mùng một, Vua thân hành tế lễ tại Thái Miếu.
[2] Ngày Tân Mão, hợp tế Trời Đất ở đàn Viên Khâu, đưa bài vị Tuyên Tổ và Thái Tổ lên thờ cùng. Đại xá thiên hạ.
[3] Độ chi phó sứ Tạ Bí dâng sớ liệt kê số tiền thưởng cho quân sĩ trong lễ tế giao. Vua nói: “Trẫm tiếc của cải, nhưng chỉ dùng để ban thưởng mà thôi.” Tạ Bí bèn nói: “Loạn Chu Thử đời Đường Đức Tông, họa mã xạ đời Hậu Đường Trang Tông, đều do thưởng quân không hậu mà thành. Nay Bệ hạ sống giản dị, ban thưởng lại hậu, thật là điều hiếm có ở các bậc đế vương xưa nay.”
[4] Tháng hai, Vua thấy các vùng Giang Nam, Hoài Nam, Lưỡng Chiết, Thiểm Tây liên tiếp hạn hán, dân chúng lưu lạc nhiều, thường cướp bóc, vi phạm luật pháp.
Ngày Kỷ Mão, sai Công bộ lang trung, trực Chiêu Văn quán Hàn Thụ[1], Khảo công viên ngoại lang, trực Bí các Phan Thận Tu cùng tám người khác chia đường đi tuần phủ các nơi. Đến đâu, tuyên đạt chỉ dụ triều đình, thăm hỏi tình hình, chiêu tập dân lưu tán, khiến họ ổn định nơi ở, thông đạt những điều bị ngăn trở, để tiếng nói của họ được lên trên, xét xử các vụ kiện tụng, đều theo luật nhẹ. Việc gì có lợi cho dân, đều cho phép tùy nghi xử lý. Quan lại nào yếu kém không đủ năng lực, hoặc hà khắc không biết an dân, đều phải báo lên. Nếu chiếu chỉ nào bất tiện, cũng cho phép dâng sớ điều trần.
[5] Ngày Bính Tuất, đổi Viện khảo sát quan chức kinh triều làm Thẩm quan viện, Viện khảo sát quan chức châu huyện làm Khảo khóa viện. Lúc ấy, Kim bộ viên ngoại lang Tạ Bí nói: “Tên ‘ma khám’ không phải là chính danh.” Nên đổi.
[6] Triều đình từ khi bình định các nước, tài lực dồi dào, nhưng quân đội tập trung ở kinh thành, các châu bên ngoài không giữ được của cải, mọi chi tiêu trong thiên hạ đều do Tam ty quản lý, nên chi phí ngày càng nhiều. Vua chăm chú xử lý chính sự, có khi tự tay quyết đoán, luôn lấy việc yêu dân, tiết kiệm làm gốc.
[7] Ngày Mậu Tý, các quan trình rằng quần áo dầu và màn trướng bị hư hỏng đến hàng vạn mảnh, muốn đem hủy bỏ. Vua lệnh đem giặt sạch, nhuộm thành nhiều màu sắc, thêu thành hàng nghìn lá cờ, rồi đem cho các tể tướng xem. Lý Phưởng tâu rằng: “Bệ hạ ngoài việc vạn cơ, thánh trí cao xa, việc lớn nhỏ đều vượt ngoài ý tưởng. Trời sinh năm loại tài, Bệ hạ đều dùng; vật có vạn thứ, Bệ hạ đều thông hiểu, dù là việc nhỏ nhặt, cũng không bỏ qua, thật không phải là sức suy nghĩ của bề tôi có thể theo kịp.”
[8] Trước đó, Tả ty giản Trương Quân nhân khi tiếp kiến, tâu rằng dân chúng Dương Châu phần lớn thiếu ăn, xin miễn thuế còn sót. Vua hỏi: “Gần đây đã miễn thuế mùa thu cho dân nghèo, sao còn có thuế phải nộp?” Quân đáp: “Dân nhỏ thường gian trá, có người mượn danh là dân nghèo để được miễn giảm, chỉ những người thật sự nghèo mới còn thiếu thuế.” Vua than thở nhiều lần: “Việc miễn giảm hai khoản thuế, Trẫm không tiếc, nếu thực sự giúp được dân nghèo, dù mỗi năm đều làm cũng không tiếc. Nay trong thành quách châu huyện, nhà giàu thôn tính kẻ nghèo; ngoài đồng ruộng, lại có quan lại gian xảo ẩn lậu thuế, báo cáo không thật, đây là việc tệ hại. Làm sao có được quan tốt vạch ra quy chế để không lợi cho kẻ gian, không thu nặng dân nghèo, xứng với ý Trẫm?”
(Sách ‘Bảo huấn’ chép việc này vào năm Thuần Hóa, nay ghi thêm trước chiếu thư ngày Tân Hợi tháng ba[2]. Tuy nhiên, Quân lúc đó đang lo việc trà muối, lại giữ chức ở Hoàng Châu, e rằng lúc này không có mặt trong triều, nên dùng từ “trước đó” để phân biệt[3].)
[9] Tháng ba, ngày Tân Hợi, Vua ban chiếu cho các đạo, các tri châu, thông phán, hạn trong một tháng phải trình bày cụ thể các việc như cách bình đẳng thuế khóa, chiêu tập dân lưu tán, thương xót kẻ cô cùng, ngăn chặn kẻ gian nịnh, cũng như những việc bất tiện của dân, cùng làm thành một bản tấu, gửi nhanh về triều đình để tâu lên. Nếu có kiến nghị khác, cho phép riêng dâng sớ trình bày, lại giao cho Trung thư xá nhân xem xét kỹ xem có thể chấp nhận được không, nếu có thể áp dụng, sẽ bàn việc khen thưởng, nếu cứ cố tình trì hoãn, ắt sẽ bị trách phạt.
[10] Ban đầu, Hà Thừa Củ đến Châu thương, liền đề xuất việc khai khẩn đồn điền, Vua rất tán thành. Sau đó, vùng Hà Sóc liên tục mấy năm mưa lớn, nước lũ dâng cao, phá hoại thành lũy, nhà dân, khắp nơi đều thành ao hồ, cản trở việc trồng trọt của dân. Do đó, Thừa Củ xin nhân cơ hội này đẩy mạnh khai khẩn đồn điền, trồng lúa để đủ lương thực.
Nhân dịp, Lệnh Lâm Tân Hoàng Mậu cũng dâng thư, xin mở mang thêm ruộng nước ở các châu phía Bắc Hoàng Hà. Mậu tự nhận mình là người Mân, nói: “Quê tôi chỉ trồng ruộng nước, dẫn nước từ núi về, hao tốn rất nhiều công sức. Nay các châu quân phía Bắc có nhiều ao hồ, dẫn nước tưới ruộng, đỡ tốn công lại dễ làm, chỉ trong ba đến năm năm, cả triều đình lẫn dân chúng đều sẽ thu được lợi lớn.” Vì thế, Vua xuống chiếu cho Thừa Củ đi xem xét các châu phía Bắc, sau đó ông tâu lên, quả đúng như lời Mậu nói.
Ngày Nhâm Tý, phong Hà Thừa Củ làm Chế trí Hà Bắc duyên biên đồn điền sứ, Nội cung phụng quan Diêm Thừa Hàn và Điện trực Đoàn Tòng Cổ cùng quản lý việc này, bổ nhiệm Hoàng Mậu làm Đại Lý tự thừa, giữ chức Phán quan. Huy động 18.000 binh lính từ các châu trấn để thực hiện công việc, xây đập dài 600 dặm ở các nơi như Hùng, Mạc, Bá châu, Bình Nhung, Phá Lỗ, Thuận An quân, đặt cửa cống, dẫn nước từ đầm để tưới tiêu. Năm đầu, lúa bị sương giá nên không kết hạt. Hoàng Mậu cho rằng ở Giang Đông sương xuất hiện muộn, lúa thường chín vào tháng chín, còn ở Hà Bắc sương xuất hiện sớm, lại thêm địa khí chậm hơn một tháng, nên lúa không thể kết hạt. Lúa sớm ở Giang Đông chín vào tháng bảy, bèn lấy giống đó bắt gieo trồng, đến tháng tám năm đó, lúa chín.
Ban đầu, Hà Thừa Củ đề xuất việc làm ruộng nước, bị nhiều người phản đối, lại thêm các võ thần cũng xấu hổ vì việc xây dựng và canh tác. Sau đó, lúa gieo trồng lại không chín, dư luận càng thêm gay gắt, suýt nữa bãi bỏ việc này. Đến lúc này, Hà Thừa Củ chở mấy xe bông lúa, cử quan lại đưa về kinh đô, những người bàn tán mới im lặng. Từ đó, lau sậy, trai ốc sinh sôi nhiều, dân chúng được hưởng lợi.
(Sách ‘Thực lục’ ghi vào tháng này, ngày Giáp Ngọ, trước tiên chép việc Hà Thừa Củ dâng tấu, liền được lệnh đại quy mô làm ruộng nước, đến ngày Nhâm Tý, mới phong Hà Thừa Củ làm Chế trí sứ, Hoàng Mậu làm Phán quan. Xét thấy khi nhận được thư của Hoàng Mậu, lại lệnh cho Hà Thừa Củ đi khảo sát, Hà Thừa Củ lại tấu trình, sau đó mới thi hành, e rằng ngày Giáp Ngọ chưa có lệnh đại quy mô làm ruộng nước. Nay theo sách ‘Bản chí’. Ngày Giáp Ngọ là mùng 6; ngày Nhâm Tý là 24.)
[11] Tháng 3, Tiết độ sứ Thành Đức Điền Trọng Tiến được đổi bổ nhiệm làm Tiết độ sứ Vĩnh Hưng quân. Vua nói với Chuyển vận sứ Thiểm Tây Trịnh Văn Bảo rằng: “Trọng Tiến là tướng lão thành triều trước, có công lao với quốc gia, khanh nên đối đãi tử tế với ông ấy.” Văn Bảo lạy tạ rồi vâng chiếu.
Trước đây, khi Vua còn ở phủ đệ, thương mến Trọng Tiến vì lòng trung dũng, từng sai người đem rượu thịt đến ban cho, nhưng Trọng Tiến không nhận. Sứ giả nói: “Đây là ân điển của Tấn Vương ban cho ngươi, sao ngươi dám từ chối?” Trọng Tiến đáp: “Ta chỉ biết có Bệ hạ.” Cuối cùng ông vẫn không nhận. Vua khen ngợi sự ngay thẳng của ông, nên luôn trọng dụng, lại gả con gái của Phù Vương là Trường Thọ huyện chúa cho con trai ông là Thủ Tín.
(Sự việc Trọng Tiến dời đến trấn Vĩnh Hưng được ghi trong ‘Bá quan biểu’ vào tháng 3, nhưng không rõ ngày cụ thể.)
[12] Chiếu các án từ mà Đại Lý tự đã xét xử, đều được gửi thẳng đến Thẩm hình viện, không cần qua Hình bộ xét duyệt lại.
[13] Chiếu Ty thuyên cử trước đây chỉ chọn những người từng nhậm chức mà không có lỗi để bổ nhiệm làm Tham quân Tư pháp, từ nay cho phép xét cả những người có công tích.
[14] Chiếu tạm dừng việc thi cử.
[15] Mùa hạ, tháng 4, cơ quan loại bỏ gỗ thừa và cấp cho sở Đông Sằn làm củi. Vua sai sứ giả đến xem xét, chọn những gỗ có thể làm đồ dùng, đóng thành hàng trăm cái giường dài, ban cho các Tể tướng, Xu mật sứ và Tam ty sứ. Vua nói với Lý Phưởng rằng: “Việc này tuy rất nhỏ nhặt[4], nhưng gỗ từ núi rừng, việc khai thác rất hao tổn sức dân, chỉ dùng để đốt thì thật đáng tiếc.” Phưởng đáp: “Người xưa dùng đầu tre, mạt gỗ đều có thể tận dụng, chính là ở chỗ này. Thần chỉ hổ thẹn vì không thể đáp ứng hết ý trời.”
[16] Tháng 5, ngày Giáp Ngọ, chiếu chỉ các Phó chuyển vận sứ, Tri châu, Thông phán, Tri quân giám ở các đạo, mỗi người trong bộ mình hiện tại, cử một người trong số các quan chức mạc phủ, châu huyện thông thạo việc quan và giỏi Nho học.
[17] Ngày Nhâm Dần (23), Vua nói với Thừa tướng Lý Phưởng và các quan rằng: “Trẫm cần mẫn nghe chính sự, mong ngày đạt được thái bình. Những kẻ tại chức, lúc chưa được trọng dụng, đều tự ví mình như Quản Trọng, Nhạc Nghị, nhưng sau khi được địa vị, lại cạnh tranh giữ im lặng, chẳng từng vì Trẫm mà tâu bày việc gì. Trẫm ngày đêm lo lắng, chẳng lúc nào được nhàn hạ. Đạo làm bề tôi và quân chủ, lẽ nào như vậy sao?” Lý Phưởng và các quan đều sợ hãi, quỳ lạy. Vua nói: “Việc chưa đến, Trẫm nói với các khanh, cũng là để trên dưới không giấu giếm nhau.”
[18] Ngày Bính Ngọ (27), Trương Kỵ đến nhậm chức ở Hàn Lâm Viện, Vua nói với các cận thần: “Chức vụ học sĩ thanh cao quý trọng, không quan nào sánh được. Trẫm thường tiếc không được làm. Theo lệ cũ, ngày nhậm chức, có lệ đặt tiệc và diễn trò khỉ, đã bãi bỏ lâu rồi, nhưng cũng không hợp lý. Nay Giáo Phường có các trò tạp kỹ, nhảy lăn, giấu châu, nên cho tổ chức.” Rồi hạ chiếu cho Xu mật trực học sĩ Lã Đoan, Lưu Xương Ngôn và Tri chế cáo Sài Thành Vụ cùng dự hội.
[19] Ngày Đinh Mùi (28), bãi bỏ Sai Khiển Viện của các quan kinh triều, lệnh cho Thẩm Quan Viện quản lý chung. Hàn lâm học sĩ Tiền Nhược Thủy, Xu mật trực học sĩ Lưu Xương Ngôn cùng làm Đồng tri Thẩm Quan Viện, xét công lao, lỗi lầm để định thăng giáng, đều là chức trách của họ. Lại cho Phán Lưu nội tuyển, Hàn lâm học sĩ Thừa chỉ Tô Dịch Giản, Ngu bộ viên ngoại lang, Tri chế cáo Vương Đán cùng kiêm chức Tri Khảo Khóa Viện. Những người được thi tuyển thông thường do Lưu nội tuyển quản, những người được tiến cử hoặc từng có lỗi lầm thì do Khảo Khóa Viện quản. Gộp lại viên chức và bãi bỏ các cơ quan, mọi người đều cho là hợp lý. Đây là theo lời thỉnh cầu của Dịch Giản.
(Lã Mông Hanh được dẫn đến yết kiến, Vua nói với Phán Thuyên Vương Đán: “Người này trong anh em là giỏi nhất, sao Mông Chính không tiến cử?” Đán đáp: “Mông Hanh, văn học và chính sự đều là sở trường của ông ấy.” Liền cho làm Quang lộc tự thừa. Việc này chép trong ‘Lã Mông Chính truyện’, xảy ra vào đầu niên hiệu Chí Đạo, nay ghi chú lại để đợi khảo cứu. Mông Hanh đã xuất hiện năm Ung Hi thứ ba.)
[20] Ngày Mậu Thân, Vua ban chiếu bãi bỏ các chức Sứ ở các cơ quan như Diêm thiết, Độ chi, Hộ bộ, chỉ đặt một viên Sứ cho Tam ty, sáu viên Phán quan, ba viên Suy quan. Ở ba bộ Câu viện, chỉ đặt một viên Phán câu quan và một viên Phán quan. Các thuộc lại vẫn giữ nguyên như cũ. Các văn thư xử lý đều do Phán quan và Suy quan đồng ký ban hành, còn Sứ Tam ty chỉ ký duyệt vào hồ sơ. Đây là theo đề nghị của Điện trung thừa Mã Ứng Xương.
[21] Lấy Diêm thiết sứ Ngụy Vũ làm Phán Tam ty.
[22] Trước đó, Kinh Tây chuyển vận phó sứ, Ngu bộ viên ngoại lang người Kỳ là Lư Chi Hàn kiến nghị, vì nước sông Dị tràn ngập, xâm lấn ruộng dân ở Hứa Châu, xin từ huyện Trưởng Cát đào sông dẫn nước sông Dị chia dòng[5], hợp vào sông Huệ Dân. Khi công trình hoàn thành, Chi Hàn được thăng chức Hộ bộ viên ngoại lang vì có công, và được bổ làm Thiểm Tây chuyển vận sứ.
(Sự kiện này ghi trong bản chí năm Thuần Hóa thứ hai, nay theo bản truyện của Chi Hàn, vì có thăng chức nên mới chép vào.)
[23] Tháng sáu, ngày Nhâm Thân, Tuyên huy bắc viện sứ, Tri xu mật viện sự Trương Tốn bị giáng chức làm Hữu lĩnh quân vệ tướng quân, Tả gián nghị đại phu, Đồng tri viện sự Khấu Chuẩn bị bãi chức, giữ nguyên phẩm hàm. Tốn vốn không hòa hợp với Chuẩn, nhiều lần tranh cãi trước mặt Vua, Vua định cách chức họ.
Một hôm, Chuẩn cùng Ôn Trọng Thư ra khỏi cung, về nhà riêng, trên đường gặp một kẻ cuồng, đón trước ngựa hô “vạn tuế”. Hữu vũ lâm đại tướng quân, Phán tả kim ngô Vương Tân trước đây cùng Tốn làm việc ở phủ Tấn, Tốn từng tiến cử Tân, hai người vốn rất thân thiện, lại biết Tốn có hiềm khích với Chuẩn, bèn tâu rằng: “Dân chúng đón trước ngựa Chuẩn hô vạn tuế.” Sau đó, Tốn và các quan khác vào tâu việc, Vua hỏi, Chuẩn tự biện rằng: “Thực sự chỉ đi cùng Trọng Thư, nhưng Tốn lại bảo Tân chỉ tâu riêng về thần.” Tốn dựa vào lời tâu của Tân mà công kích Chuẩn, lời lẽ rất gay gắt, hai bên lần lượt vạch trần việc riêng của nhau, Vua giận, nên giáng chức Tốn và cách chức Chuẩn.
(Sư Tán Ninh viết ‘Vương Đắc Nhất hành trạng’ chép: Lại trong triều là Tô Doãn Thục nhận chỉ dụ triều đình loại bỏ những người cao tuổi trong số quan viên được tuyển chọn, những người trên 70 tuổi sẽ được bổ nhiệm làm tản quan.
Có Phán quan Đoàn luyện châu Đường là Chưởng Tuyên vốn có hiềm khích với Doãn Thục, Tuyên mới 35 tuổi, bị Doãn Thục lén đưa vào danh sách những người cao tuổi để tâu lên, bổ nhiệm Tuyên làm Tư mã châu Đường. Tuyên vốn thân thiết với sư Pháp Đăng, bèn đem việc này kể lại. Pháp Đăng từng được Vua yêu mến, một hôm nhân bàn chuyện bất bình này trước mặt Vua, Vua bảo Pháp Đăng dẫn Tuyên vào, biết rõ nguyên do bị bỏ.
Vua tâu lên Thái Tông, Thái Tông sai trung sứ đi tìm, triệu vào triều ban đối, lại cho lên điện, gần gũi long nhan, hỏi lý do bị ức hiếp, sau đó phong làm Trứ tác lang, lại ban thưởng trăm vạn tiền, tuyên dụ rằng để an ủi sự kinh động[6], bổ nhiệm làm Pháp trực quan Đại Lý. Giao Doãn Thục cho Ngự sử đài thẩm vấn lý do. Doãn Thục trên đường về nhà, lừa người áp giải, xin vào thăm người nhà, người áp giải cho vào, Doãn Thục nhân cơ hội tự vẫn chết. Thái Tông nghi ngờ có liên quan đến Tham chính Khấu Chuẩn, bèn điều Chuẩn ra làm Thái thú Thanh Châu, sự tin dùng của Vua đều như thế. Xét việc Chuẩn bị cách chức là do kẻ cuồng hô “vạn tuế”, khác với ‘Vương Đắc Nhất hành trạng’, cần xem xét thêm.)
[24] Lấy Phù châu quan sát sứ Sài Vũ Tích làm Tuyên huy bắc viện sứ, tri Xu mật viện sự, Xu mật trực học sĩ Lưu Xương Ngôn làm Hữu gián nghị đại phu, đồng tri viện sự, Hữu gián nghị đại phu, Xu mật trực học sĩ Lã Đoan giữ chức cũ, tham tri chính sự. Xương Ngôn được trọng dụng đột ngột, không được lòng người đương thời, có kẻ dèm pha trước mặt Vua, lại nói rằng lời lẽ của ông khó hiểu, Vua nói: “Chỉ có Trẫm hiểu được ông ấy.”
[25] Ngày Giáp Tuất, Thượng thư tỉnh định lại quy chế tham gia triều hội của quan lại trong ngoài và so sánh phẩm trật, tâu lên, Vua ban chiếu giao cho các cơ quan thi hành.
[26] Ngày Mậu Dần, mệnh cho Tả gián nghị đại phu Ngụy Tường, Ty phong lang trung, tri chế cáo Sài Thành Vụ, đồng tri Cấp sự trung sự. Phàm chế sắc có điều chưa tiện, nên theo lệ cũ phong bác tâu lên, những chế sắc ban xuống đều phải ghi chép đầy đủ, việc cần thi hành thì tâu trình từng điều. Theo lời thỉnh của Tả gián nghị đại phu Ngụy Vũ.
[27] Trước đó, Vua vội triệu Quảng Nam chuyển vận sứ Hướng Mẫn Trung về triều, thăng làm Công bộ lang trung. Một hôm, Vua dùng bút ngự đề tên Mẫn Trung và Ngu bộ lang trung Quyên thành Trương Vịnh giao cho tể tướng, nói: “Hai người này là danh thần, Trẫm sẽ trọng dụng.” Tả hữu đều khen tài năng của họ. Mùa thu, tháng bảy, ngày Kỷ Dậu, cùng lệnh làm Xu mật trực học sĩ.
[28] Ngày Canh Tuất, Vũ Trình, Huyện úy huyện Ung Khâu dâng sớ, xin giảm bớt số lượng hậu cung tần phi. Vua nói với các tể tướng: “Trình là tiểu thần ở xa, không biết việc trong cung cấm. Nội đình chỉ có chừng ba trăm người hầu, đều là những người nắm giữ công việc không thể bỏ đi, các khanh hẳn đều biết rõ. Trẫm lấy việc cứu đời làm lòng, xem vợ thiếp như giày dép bỏ đi, chỉ tiếc chưa thể rời bỏ thế tục, theo gót Tiên Môn, Vương Kiều, chắc chắn không học theo Tần Hoàng, Hán Vũ, xây dựng cung điện riêng, bắt con nhà lành vào làm hầu, để tiếng xấu muôn đời.”
Lý Phưởng nói: “Bệ hạ thân hành tiết kiệm, trong ngoài đều biết, người nhà thần đều được vào cung, đều thấy việc cung cấm giản dị. Trình hèn mọn, dám dâng lời bậy bạ, nên cách chức để răn kẻ nói càn.”
Vua đáp: “Trẫm đâu từng vì lời nói mà trị tội ai, chỉ nghĩ rằng Trình không biết mà thôi.”
[29] Tháng 8, ngày Bính Thìn, mùng một, Vua viết thảo chữ bài phú “Đại ngôn” của Tống Ngọc để ban cho Hàn lâm học sĩ thừa chỉ Tô Dịch Giản. Dịch Giản nhân đó làm bài phú “Đại ngôn” dâng lên. Vua xem phú rất khen ngợi, viết chiếu khen.
Dịch Giản ở trong cung, dùng nước thử nghiệm dụng cụ đo độ nghiêng, tiểu hoàng môn thấy vậy liền bí mật tâu lên, nhưng không biết tên gọi. Đến buổi chiều thiết triều, Vua hỏi: “Khanh vừa dùng có phải là “khí nghiêng” không?” Dịch Giản đáp: “Đúng vậy, đó là vật do Từ Mạc[7] người Giang Nam làm.” Vua liền cho mang đến chỗ ngồi, thân hành thử nghiệm, nhiều lần khen ngợi. Dịch Giản bèn tâu: “Thần nghe nói mặt trời lên cao thì xế, trăng tròn rồi sẽ khuyết, vật đầy ắt đổ, vật cực thịnh ắt suy. Nguyện Bệ hạ giữ gìn sự thịnh vượng, cẩn thận đến cuối như lúc đầu, củng cố cơ nghiệp muôn đời, thì thiên hạ thật may mắn biết bao.”
[30] Thông tiến, Ngân đài ty trước đây thuộc quản lý của Xu mật viện[8]. Tất cả các văn bản tấu chương trong và ngoài triều đều phải qua hai ty này rồi mới trình lên Vua. Bên ngoài thì do các quan nội thị và lại thuộc Xu mật viện quản lý, bên trong thì Thượng thư nội tỉnh ghi chép số lượng rồi chuyển xuống các ty, việc thực thi hay đình trệ đều có thể nảy sinh tệ nạn, trong cung không biết, bên ngoài không có cơ quan nào giám sát.
Xu mật trực học sĩ Hướng Mẫn Trung mới được triệu hồi từ Lĩnh Nam, liền dâng tấu: “Thông tiến, Ngân đài ty nhận được tấu chương từ xa, nhiều việc không được phúc đáp, e rằng sẽ lỡ mất cơ hội. Xin thiết lập riêng một cơ quan, cử quan chuyên trách, kiểm tra sổ sách để tránh tắc nghẽn.” Vua khen ngợi và chấp thuận.
Ngày Quý Dậu, ban chiếu lấy sảnh việc của Tuyên huy bắc viện làm nơi đặt Thông tiến, Ngân đài ty, giao cho Hướng Mẫn Trung và Trương Vịnh cùng quản lý công việc của hai ty. Tất cả các văn bản, tấu chương trong và ngoài đều được xem xét kỹ lưỡng việc ra vào, kiểm tra rõ ràng, mỗi tháng báo cáo một lần, việc lớn nhỏ đều không dám để sót hay đình trệ[9].
[31] Phát sắc ty trước đây thuộc Trung thư, sau đó giao cho Ngân đài ty kiêm quản.
[32] Ngày Mậu Dần, ban chiếu cho các Tể tướng, Tham tri chính sự, Xu mật sứ và phó sứ, Hàn lâm Xu mật trực học sĩ, Thừa lang, các quan Lưỡng tỉnh Cấp xá và tam ty phán câu, mỗi người trong số các quan triều đình triệu về kinh, tiến cử một người liêm chính, cần mẫn, giỏi giang, hiểu rõ tiền tệ, lương thực, có thể đảm nhận chức Tam ty phán quan. Những người đang giữ chức Chuyển vận sứ, phó sứ và những người tuổi già suy yếu không nằm trong danh sách tiến cử.
[33] Trước đây, Phó sứ đoàn luyện Hoàng Châu là Vương Vũ Xứng được điều đến Giải Châu, nhân khi Tả ty gián Lã Văn Trọng tuần phủ Thiểm Tây, ông dâng sớ nói rằng người già trong vùng xin được dời về phía đông. Vua liền ban chiếu cho Vũ Xứng trở về triều.
Ngày Kỷ Mão, ông được bổ làm Tả chánh ngôn. Vua nói với tể tướng rằng: “Văn chương của Vũ Xứng đứng đầu trong thiên hạ, nhưng tính tình cương trực, không thể dung nạp người khác. Các khanh nên triệu ông đến để khuyên răn.” Sau đó, Vũ Xứng được lệnh vào làm việc ở Chiêu Văn Quán[10].
[34] Tháng 9, ngày Ất Tỵ, lệnh cho Cấp sự trung phụ trách việc phản biện các chiếu sắc thuộc Thông tiến ty và Ngân đài ty. Mọi chiếu sắc đều phải do Xu mật trực học sĩ Hướng Mẫn Trung và Trương Vịnh xem xét kỹ lưỡng rồi mới ban hành. Lúc đó, Tiết độ sứ Thái Ninh là Trương Vĩnh Đức giữ chức Đô bộ thự ở Tịnh Châu và Đại Châu. Có một tiểu hiệu phạm pháp, Vĩnh Đức đánh chết người này. Vua ban chiếu tra xét tội của ông, nhưng Trương Vịnh giữ lại chiếu thư và tâu rằng: “Vĩnh Đức đang đảm nhận trọng trách ở biên giới. Nếu vì một tiểu hiệu mà làm nhục chủ tướng, thần e rằng kẻ dưới sẽ có lòng khinh thượng.” Vua không nghe. Không lâu sau, quả nhiên có binh lính ép tụng viên quân hậu. Trương Vịnh lại dẫn việc trước để tâu, Vua nghe xong đổi sắc mặt và khen ngợi ông.
[35] Ngày Bính Ngọ, Vua ban chiếu cho Hàn lâm học sĩ thừa chỉ Tô Dịch Giản, Cấp sự trung Trần Thứ, Tả gián nghị đại phu Ngụy Tường và Khấu Chuẩn, Hữu gián nghị đại phu Triệu Xương Ngôn, Khởi cư xá nhân tri chế cáo Lã Hữu Chi cùng các quan chức ở các mạc phủ, châu huyện, mỗi người tiến cử hai người có thể đảm nhận chức vụ ở kinh đô; Tả ty gián Lã Văn Trọng cùng 97 người khác, mỗi người tiến cử hai người có thể làm huyện lệnh ở huyện có hơn 5.000 hộ.
Lúc đó thiên hạ thịnh trị, Vua chăm lo việc nước, trong lúc rảnh rỗi, đòi danh sách các quan thanh liêm ở Lưỡng tỉnh và Lưỡng chế, xem xét các triều thần có đức vọng, đều sai họ tiến cử người. Khi thấy tên Lã Hữu Chi, Vua nhìn lâu hơn. Tể tướng nhân đó tâu rằng: “Trước đây Hữu Chi tiến cử Đông Dã Nhật Tuyên không xem xét kỹ.” Vua nói: “Đây chính là cơ hội để ông chuộc lại lỗi lầm trước.” Vì vậy, Lã Hữu Chi cũng được tham gia việc tiến cử.
[36] Mùa thu đó, từ đầu tháng bảy mưa liên tục không ngớt, bùn sâu mấy thước, ngoài cửa Chu Tước và Sùng Minh nước đọng lại đặc biệt nhiều, người qua lại phải dùng bè nổi để đi lại. Thành lũy, nhà cửa phần lớn đổ nát, nhiều dân bị chết đè, giá cả tăng vọt, mùa màng vùng ven đô phần lớn thất bát, dân chúng chạy nạn rất đông. Khoảng giữa các châu Trần, Dĩnh, Tống, Bạc, bọn trộm cướp nổi lên như ong, thương nhân không dám đi lại. Vua cho rằng việc âm dương không hòa là do công phủ, nên nghiêm khắc trách mắng Tể tướng Lý Phưởng và tham tri chính sự Giả Hoàng Trung, Lý Hãng rằng: “Các khanh hưởng bổng lộc đầy xe, há không biết ngoài đồng có kẻ chết đói sao?” Phưởng và các quan sợ hãi khúm núm lạy tạ. Hoàng Trung ra ngoài, nói với người khác rằng: “Lúc đó chỉ cảm thấy vũ trụ nhỏ mà thân mình lớn, hận không thể chui xuống đất được.”
(Đoạn này căn cứ vào sách ‘Đàm Uyển’, không nhắc đến Lã Đoan, có lẽ vì hắn mới tham gia chính sự, mưa lâu không phải là tội của hắn chăng?)
[37] Tháng mười mùa đông, ngày Canh Thân, Thượng thư tả thừa Trương Tề Hiền ra làm Tri châu Định. Tề Hiền tự nói mẹ mình là bà Tôn thọ 85 tuổi, đang bệnh nặng, không muốn xa rời bên cạnh, Vua thương tình đồng ý. Khi Tề Hiền còn tại chức, mẹ ông vào cung yết kiến, Vua khen ngợi bà thọ khảo lại có con hiếu, thường ban thư từ hỏi thăm, lại ban thêm vật phẩm, các quan coi đó là vinh hạnh. Tề Hiền sau đó gặp tang mẹ, bảy ngày không ăn uống, từ đó mỗi ngày chỉ ăn một bát cháo, đến hết tang chỉ ăn cơm gạo lứt.
[38] Trước đó, có một hào phú ở Đại Danh phủ tích trữ cỏ khô để kiếm lợi, dụ dỗ kẻ xấu đào ngầm đê sông, khiến hàng năm đê bị vỡ. Tri phủ sự Triệu Xương Ngôn biết rõ nguyên nhân, một hôm, quan coi đê báo cấp, Xương Ngôn lệnh thẳng đến nhà hào phú lấy cỏ khô để sửa chữa. Từ đó, không ai dám làm điều gian lợi nữa.
Khi sông vỡ ở châu Thiền, nước chảy về hướng tây bắc đổ vào sông Ngự, dâng cao tràn vào thành phủ. Xương Ngôn đích thân dẫn quân lính đội đất lấp, nhưng số người không đủ nghìn, liền ra lệnh điều quân cấm vệ hỗ trợ. Có kẻ lười biếng không chịu làm, Xương Ngôn nổi giận nói: “Thành phủ sắp bị chìm, dân chúng sắp chết đuối, các ngươi hưởng bổng lộc hậu hĩnh, định ngồi nhìn sao? Ai không tuân lệnh sẽ bị chém!” Mọi người run sợ hăng hái làm việc, chưa đầy mười hai ngày thì thành hoàn thành. Vua nghe tin khen ngợi, ngày Nhâm Tuất, ban chiếu khen thưởng.
[39] Từ thời Đoan Củng trở đi, các chức Tham quân ty Lý án ở các châu đều do Vua tự tay lựa chọn. Dân chúng có kẻ đến cửa khuyết kêu oan, Vua lập tức sai sứ giả của Đài viện mang lệnh truyền đi xét xử. Trong mấy năm đó, hình phạt trở nên trong sạch và giản lược. Các Ty Đề điểm hình ngục ở các lộ chưa từng xử án nào được minh oan, Vua cho rằng chỉ thêm phiền nhiễu, chẳng giúp được việc thương xót dân, bèn hạ chiếu bãi bỏ hết, giao việc ấy về cho Ty Chuyển vận[11].
[40] Vua hạ chiếu cho Viện Thẩm quan, từ nay các quan kinh triều chưa từng trải qua châu huyện thì không được giữ chức Tri châu hoặc Thông phán. Đây là theo lời thỉnh cầu của Hàn lâm học sĩ thừa chỉ Tô Dịch Giản.
[41] Ngày Tân Mùi, Hữu bộc xạ, Bình chương sự Lý Phưởng, Cấp sự trung, Tham tri chính sự Giả Hoàng Trung, Tả gián nghị đại phu, Đồng tri xu mật viện sự Ôn Trọng Thư đều bị bãi chức, giữ nguyên chức vụ cũ.
Trước đó, Vua triệu Hàn lâm học sĩ Trương Kị đến soạn chiếu, phong Lý Phưởng làm Tả bộc xạ và miễn chức Bình chương sự. Trương Kị tâu rằng: “Lý Phưởng cứ ì ra giữ chức, gần đây trời mưa dầm hơn trăm ngày, Bệ hạ lo lắng vất vả, nỗi buồn hiện rõ trên mặt, Lý Phưởng giữ chức phụ tướng, nhiệm vụ là điều hòa âm dương, mà bỏ bê đến vậy, nhưng ông ta vẫn thản nhiên, không hề có ý tự trách xin từ chức. Huống chi chức Trung đài bộc xạ là trọng trách, là bậc thầy của trăm quan, chức Hữu lại thấp hơn Tả, địa vị và uy tín không tương xứng, nếu cứ phong cho ông ta, thì lấy gì khuyến khích bề tôi hết lòng trung nghĩa. Nên giáng chức ông ta để cảnh cáo các quan.”
Vua vì Lý Phưởng là bậc lão thành, không muốn trách phạt nặng, chỉ ra lệnh bãi chức, nhưng trong chiếu vẫn quở trách rằng: “Lâu ngày ngăn cản nguồn giáo hóa, khiến lòng người thất vọng sâu sắc.” Giả Hoàng Trung là người cẩn trọng, liêm khiết, quen thuộc chính sự trong đài các, nhiều danh sĩ hậu bối đều xuất thân từ cửa ông, nhưng khi ở Trung thư, ông quá lo sợ thận trọng, chính sự thường bị trì hoãn không quyết đoán, nên bị dư luận không tán thành.
[42] Cùng ngày, Lại bộ thượng thư Lữ Mông Chính được lệnh giữ chức vụ cũ, kiêm chức Bình chương sự. Khi Mông Chính mới nhậm chức tướng, Kim bộ viên ngoại lang Trương Thân khi làm Tri châu Thái Châu, vì tội tham nhũng bị cách chức. Có người tâu với Vua rằng: “Trương Thân là hào phú ở Lạc Trung, sao lại nhận hối lộ? Chỉ vì khi Mông Chính chưa đỗ đạt, từng đến xin tiền Thân, không được như ý nên đã vu cáo để hãm hại ông.” Vua nghe xong lập tức phục chức cho Thân. Mông Chính không tự biện minh, chẳng bao lâu bị bãi chức.
Sau đó, Khảo khóa viện tra ra sự thật về tội cũ của Thân nên lại cách chức ông ta. Lúc này, Mông Chính được phục chức tướng, Vua nói: “Trương Thân quả thật phạm tội tham nhũng.” Mông Chính cũng không đáp lời.
[43] Hàn lâm học sĩ thừa chỉ Tô Dịch Giản được bổ nhiệm làm Cấp sự trung, Tham tri chính sự. Bề ngoài Dịch Giản có vẻ thẳng thắn, nhưng bên trong rất sâu sắc. Từ chức Tri chế cáo ông được thăng làm Hàn lâm học sĩ, khi chưa đầy 30 tuổi, đã ở cung Hàn lâm 8 năm, được Vua đặc biệt yêu quý, vượt trội hơn người khác, có ngày được triệu đến ba lần. Lý Hãng vào sau[12], ở chức vụ thấp hơn Dịch Giản, nhưng lại được bổ nhiệm làm Tham tri chính sự trước, nên Dịch Giản được cử làm Thừa chỉ, được ban thưởng ngang với Tham tri chính sự. Vua muốn tuân theo chế độ cũ, chính thức bổ nhiệm chức vụ, đồng thời đợi cho danh tiếng ông thêm vững chắc. Nhưng Dịch Giản vì cha mẹ già, muốn thăng tiến nhanh, nhân lúc được triệu kiến, đã nói nhiều về những thiếu sót trong chính sự. Lý Hãng và những người khác bị bãi chức, Vua liền cử Dịch Giản thay thế.
Mẹ Dịch Giản là Tiết Thị vào cung, Vua mời bà ngồi và hỏi: “Bà đã dạy con như thế nào mà thành tài đến vậy?” Bà đáp: “Khi nhỏ dùng lễ nhượng răn dạy, lớn lên dùng thi thư giáo huấn.” Vua quay lại nói với các quan hầu: “Đây chính là Mạnh mẫu của thời nay, không có người mẹ như vậy, sao có thể sinh ra người con như thế.”
[44] Hôm đó, triều đình lại lấy Xu mật đô thừa chỉ Triệu Dung làm Tuyên huy bắc viện sứ, Xu mật trực học sĩ Hướng Mẫn Trung làm Tả gián nghị đại phu[13], và cùng làm Đồng tri xu mật viện sự.
Hướng Mẫn Trung từ Quảng Nam được triệu về, những kẻ đương quyền đố kỵ ông. Khi ấy có người tố giác rằng, lúc Mẫn Trung còn ở pháp tự, Quốc tử bác sĩ Hoàng Phủ Khản giám sát việc thu thuế ở quân Vô Vi, vì tham ô mà bị bại lộ, đã gửi thư riêng đến các đại thần trong triều, cầu xin giảm nhẹ tội[14], Mẫn Trung cũng nhận thư đó.
Việc này được giao xuống Ngự sử tra xét sự thật, từng có thư gửi đến cửa, Mẫn Trung thấy tên người gửi, không mở liền bảo đem đi. Sau đó bắt được tên gia nhân riêng của Khản, tra hỏi[15], nó khai rằng bức thư đó đã được bỏ vào ống tre, chôn ở trạm dịch Lâm Giang. Sai người đào lên, thấy phong ấn vẫn nguyên vẹn. Vua rất kinh ngạc, cho triệu kiến an ủi, ban thưởng hậu hĩnh, quyết ý trọng dụng, cùng với Triệu Dung đều được bổ nhiệm.
Triệu Dung và các quan vào tạ ơn, Vua nói: “Hoàng Trung và những người khác vì im lặng giữ chức, nên bị bãi nhiệm, vừa khóc vừa tạ ơn[16], Trẫm cũng thấy xót xa. Xưa nhà Chu có mười kẻ loạn thần, nhưng đồng tâm đồng đức. Bề tôi phụng sự chủ, há không nghĩ đến điều này để giữ trọn đầu cuối? Người xưa còn muốn lập công danh giữa thời loạn, huống chi thời thịnh? Các khanh nên cùng nhau gắng sức, để xứng đáng với sự đề bạt này.”
(Việc Hoàng Trung và những người khác vì im lặng giữ chức nên bị bãi nhiệm, căn cứ theo biệt bản Thực lục.)
[45] Ngày Nhâm Thân, lấy Tả Gián nghị đại phu Khấu Chuẩn được cử ra trấn Thanh châu. Vua vốn yêu quý Khấu Chuẩn, sau khi ông đi, nhớ thương thường cảm thấy không vui, hỏi các cận thần: “Khấu Chuẩn ở Thanh châu có vui không?” Các cận thần đáp: “Khấu Chuẩn được một miền đất tốt, chắc hẳn sẽ vui.” Mấy ngày liền, Vua lại hỏi cận thần, họ đáp như cũ. Sau đó, có người đoán rằng Vua sẽ triệu Khấu Chuẩn về, bèn tâu: “Bệ hạ không quên Khấu Chuẩn, nhưng nghe nói Khấu Chuẩn ngày ngày uống rượu vui chơi, không biết có nhớ đến Bệ hạ không?” Vua nghe xong im lặng.
[46] Ngày Đinh Sửu, lấy Hữu Gián nghị đại phu, trấn Đại Danh phủ Triệu Xương Ngôn làm Cấp sự trung, Tham tri chính sự, cho phép ông cấp tốc vào triều, ngay lập tức đến Trung thư xử lý công việc. Lúc đó, kinh thành mưa liên miên, Xương Ngôn đề nghị cho ngựa trong chuồng ra các quận ngoại để kiếm cỏ. Có người tâu rằng mùa thu phải phòng giặc, không thể thiếu ngựa. Xương Ngôn nói: “Dưới ải nước ngập tràn, chắc chắn không có nạn giặc phía nam.” Vua nghe theo. Năm đó, giặc cũng không động.
[47] Ngu bộ Viên ngoại lang, Tri chế cáo Vương Đán là con rể của Triệu Xương Ngôn. Xương Ngôn đã tham gia chính sự, Đán vì là người thân nên phải tránh tình cảm, bèn dẫn việc xưa của Độc Cô Uất và Quyền Đức Dư đời Đường xin từ chức. Vua trọng sự hiểu biết của ông, ngày Quý Mùi, cho làm Lễ bộ Lang trung, Tu soạn ở Tập hiền viện. Đến khi Xương Ngôn bị bãi chức, Vua lại cho Đán làm Tri chế cáo.
[48] Hàn lâm Học sĩ Trương Kỵ phụ trách việc tuyển chọn ở Lại bộ, thường dẫn người được tuyển vào gặp Vua. Vua nhìn ông, nói với các cận thần: “Trương Kỵ giàu văn từ, đến nay vẫn chăm chỉ đọc sách, là người đứng đầu trong giới sĩ phu Giang Đông. Tuy nhiên, bậc đại thân nên lấy đức hạnh làm đầu, nếu chỉ tự hào về văn học cũng chẳng có gì đáng khen.” Lữ Mông Chính nói: “Bùi Hành Kiệm không dùng Dương, Vương, Lô, Lạc, chính vì họ không có đức hạnh. Lấy đức hạnh làm đầu, thực đúng như lời Thánh dạy.”
[49] Dân ở Kinh kỳ là Mâu Huy đánh trống Đăng văn, kiện việc gia nô làm mất một con lợn đực. Vua xuống chiếu ban cho một ngàn tiền để bồi thường giá trị, rồi nói với Thừa tướng: “Những việc nhỏ nhặt như thế cũng đem kiện lên Trẫm, phải xử quyết, thật đáng buồn cười. Nhưng suy từ tâm này mà cai trị thiên hạ, có thể không còn dân oan.”
(Vương Đắc Thần trong sách ‘Trử sử’ nhầm lẫn việc này vào triều Thái Tổ, nay theo ‘Quốc sử chí’. Xét bản khác của ‘Thực lục’ chép vào ngày mùng một tháng 9.)
[50] Ngày Kỷ Hợi, tháng 10 nhuận, Vua nói với các phụ thần[17]: “Trẫm từng nghe Mạnh Sưởng khi còn ở Thục cũng tự mình lo việc chính sự. Nhưng về việc hình ngục, lại do dự không quyết đoán, dùng tâm sai lầm. Mỗi khi có án tử hình, lúc tội nhân sắp bị hành hình, sai người dò xét lời nói của họ, nếu có một lời kêu oan, liền chuyển sang cơ quan khác xét lại, có khi kéo dài ba đến năm năm không quyết định, cho rằng đó là bắt chước Vua Hạ Vũ khóc tội, mà không hiểu được ý chỉ của các bậc thánh nhân xưa. Trẫm đã đọc sách xưa, thấu hiểu lý lẽ ấy. Hạ Vũ chỉ làm theo đạo vương, tự than thở rằng mình không bằng Nghiêu, Thuấn, khiến người ta phải chết theo pháp luật, nên mới xuống xe mà khóc. Còn kẻ phạm tội, nếu tình lý khó tha, Trẫm tất không dung tha.”
Tham tri chính sự Tô Dịch Giản và Triệu Xương Ngôn tâu: “Thần từng làm quan ở Giang Nam, nghe nói Lý Dục khi còn nắm quyền cũng như vậy. Mỗi mùa hè thì cho tội nhân giăng màn để tránh muỗi mòng, mùa đông lại cấp chăn đệm để họ ngủ yên, khiến tội ác lan rộng kéo dài, cho là thương xót. Những kẻ phạm tội tử hình, lại sai thuật sĩ thắp đèn để bói, nếu đèn không tắt trong vài ngày, liền chuyển sang cơ quan khác xét lại, sợ có oan khuất. Đến nỗi có kẻ phạm tội vào mùa đông, luyến cái ấm áp, không muốn được tha.”
Vua cười nói: “Ngu muội như thế, không mất nước còn chờ gì!”
[51] Ngày Bính Ngọ, Vua nói: “Thanh tĩnh đưa đến sự thịnh trị, đó là ý chỉ sâu xa của đạo Hoàng, Lão. Muôn việc từ có làm đến vô vi, đạo vô vi, Trẫm sẽ cố gắng thực hiện. Như Cấp Ám nằm trị vùng Hoài Dương, Mật Tử Tiện gảy đàn trị vùng Đơn Phụ, đều là thực hành đạo Hoàng, Lão.” Tham tri chính sự Lã Đoan và mọi người tâu: “Nếu quốc gia thi hành đạo Hoàng, Lão, sẽ đạt được thái bình, hiệu quả rất nhanh.” Tể thần Lữ Mông Chính nói: “Lão Tử nói ‘trị nước lớn như nấu cá nhỏ’. Cá mà khuấy động thì nát, dân mà quấy nhiễu thì loạn. Nay nhiều người dâng sớ bàn về chế độ, xin bệ hạ dần thực hiện sự thanh tĩnh để trấn an.” Vua nói: “Trẫm không muốn bịt miệng người ta. Kẻ cuồng nói, người hiền chọn lựa, đó là đạo xưa.”
[52] Một tháng 11, ngày Giáp Dần mùng một (sửa lại từ “Bính Dần” dựa theo các bản và bảng sóc nhuận), ngày mặt trời đến điểm cực nam, Vua ngự ở điện Triều Nguyên tiếp nhận triều thần.
[53] Vua chăm chỉ trị nước, mỗi sáng ngự ở điện Trường Xuân tiếp nhận triều thần, nghe chính sự xong, liền ngự ở điện Sùng Chính xử lý việc, đến giữa trưa vẫn chưa ăn. Ngày Kỷ Mùi, Kim bộ viên ngoại lang Tạ Bí dâng lời: “Xin từ nay sau khi nghe chính sự ở điện tiền, hãy dùng bữa, rồi mới ngự ở điện tiện để xử lý việc.” Vua không trả lời, sau đó bảo Tể tướng: “Văn Vương từ sáng đến giữa trưa, chưa kịp ăn, đó là việc xưa. Lời tâu của Bí cũng là lòng trung của bề tôi thương chúa.” Vua lại thường bảo tả hữu: “Một tấc thời gian cũng đáng quý. Nếu cả ngày làm việc thiện, trong trăm năm cũng chẳng được bao nhiêu, sao không cố gắng!”
[54] Vua nói với các bề tôi hầu cận rằng: “Trẫm từ khi lên ngôi đến nay, dùng binh đánh dẹp, thực là để cứu dân khỏi cảnh lầm than. Nếu cứ thích phô trương, khoe khoang uy vũ đến cùng cực, thì dân chúng thiên hạ hầu như sẽ bị diệt vong!”
Thừa tướng Lữ Mông Chính đáp: “Đời trước đánh Liêu, dân chúng không chịu nổi mệnh lệnh. Tuỳ Dạng Đế toàn quân bị tiêu diệt, Đường Thái Tông thân chinh dẫn quần thần vận đất lấp hào, thân làm gương cho quân sĩ, nhưng cuối cùng vẫn không thành công.”
Vua nói: “Dạng Đế hôn ám, thực không đáng bàn. Đường Thái Tông mà còn như vậy, sao lại thất sách đến thế? Hơn nữa, trị quốc cốt ở việc tu dưỡng đức, bốn phương man di nên để ngoài tầm suy nghĩ. Trẫm năm trước đã bình định được Tịnh, Phần, xem xét quân đội ở Kế Bắc, lúc ấy còn trẻ tuổi khí hăng, đến sông Tang Can, vượt dòng mà qua, không cần cầu. Khi đi thì xung phong đi đầu, khi về thì chỉ huy quân đóng lại phía sau. Bình tâm nghĩ lại, cũng là điều đáng cẩn trọng.”
Mông Chính nói: “Binh lửa gây thương vong, hao tổn tài lực, không nên động binh nhiều. Hán Vũ Đế và Đường Thái Tông đều là bậc minh quân, nhưng việc dùng binh đều không tránh khỏi hối hận, bị đời sau chê cười. Bệ hạ chưa đến nỗi phải hối hận mà đã sớm biết phân biệt, so với hai vị Vua kia, chẳng phải là hơn xa sao?”
Vua nói: “Trẫm mỗi khi bàn việc xuất binh, đều là bất đắc dĩ. Cổ nhân nói quân Vua như mưa thuận, ý tứ chính là vậy. Nay biên cương yên ổn, chỉ cần thường tu dưỡng đức để thu phục lòng người, đó mới là đạo trị quốc thanh tĩnh vậy.”
Mông Chính nói: “Người xưa lấy sự giản dị mà trị quốc, nên hưởng vận lâu dài. Bệ hạ đề cao thanh tĩnh, thật là phúc lớn vô biên của xã tắc.”
(Đoạn này dựa theo bản khác của Thực lục cùng bảo huấn và bài “Thần đạo bi” của Phú Bật soạn về Lữ Mông Chính mà sửa đổi. Câu “Trung Quốc yên tĩnh, bốn phương man di tự quy phục”, theo bản truyện về Mông Chính thì thực là lời của ông, nhưng trong bảo huấn lại gán cho Triệu An Nhân; câu “thanh tĩnh trị quốc”, theo bản khác của Thực lục cũng là lời của Mông Chính, nhưng trong bảo huấn lại gán cho Lã Đoan. Nay đều không theo. Tháng 6 năm Hàm Bình thứ 5, Mông Chính lại có lời đối đáp này.)
[55] Ngày Đinh Mão, Vua mở yến tiệc ở điện Trường Xuân để chiêu đãi quần thần, nhân dịp Vũ Ninh tiết độ sứ Tào Bân đến triều. Vua hạ chiếu cho Hàn lâm học sĩ Tiền Nhược Thuỷ và Xu mật trực học sĩ Trương Vịnh cùng tham dự.
Theo chế độ cũ, mỗi khi tướng soái được cử đi chinh chiến trở về, Vua thường mở yến tiệc ở điện Tiện để ban thưởng. Lúc đó, Hàn lâm học sĩ đang trực, Văn minh và Xu mật trực học sĩ đều được tham dự. Thời Khai Bảo, Lương Huýnh làm Cáp môn sứ, tâu với Thái Tổ rằng: “Bệ hạ ban yến khao thưởng tướng soái, sao lại dùng những người này?” Thế là việc đó bị bãi bỏ.
Đến nay mới khôi phục lại, theo lời thỉnh cầu của Tham tri chính sự Tô Dịch Giản. Dịch Giản lại nói: “Theo lệ cũ, khi Hoàng đế ngự ở lầu Đan Phượng, Hàn lâm học sĩ thừa chỉ được lên góc tây nam của lầu. Từ nay, mỗi khi Hoàng đế ngự lầu ban đại xá, xin cho vị này đứng hầu bên cạnh Ngự sàng cùng với Xu mật sứ.” Vua cũng đồng ý. Dịch Giản thường xuyên nhắc lại các lệ cũ trong Hàn lâm. Khi còn làm Thừa chỉ, Vua đối xử với ông như bạn bè. Nhưng khi tham gia chính sự, mỗi lần gặp Vua, không còn được thân mật, mà chỉ thấy Vua nghiêm khắc trách phạt công việc, Dịch Giản bèn hối hận vì đã cầu tiến quá nhanh.
[56] Tháng 12, ngày Nhâm Thìn, Vua nói với Tể tướng: “Chu Thái Tổ là người hay dùng mưu mẹo, lấy hành vi của kẻ lại dịch mà mưu đồ đế vương, sao có thể hưởng nước lâu dài được? Như Sử Triệu xuất thân từ hàng ngũ, chuyên việc giết hại, lại còn dung túng kẻ xấu. Khi sắp đến Đại Danh, Chu Thái Tổ nói với Triệu rằng: ‘Huynh ở trong triều, ta ở ngoài, thì triều đình vững như Thái Sơn.’ Nhưng những mật nghị của triều đình, Triệu đều ghi chép báo cáo lại, dùng cách đó để dòm ngó nhà Hán, thực là gian hùng.”
Lữ Mông Chính đáp: “Xưa Trần Bình phò tá nhà Hán, công tuy cao, nhưng vì dùng nhiều âm mưu, sau này tự hối hận. Tùy Văn Đế ngầm hối lộ người khác rồi lại bắt tội, biết rõ kẻ lòng dạ độc ác thì không giữ được lâu. Vì thế, Trần Bình không có người nối dõi, nhà Tùy cũng sớm diệt vong.” Vua đồng ý.
[57] Ban đầu, Điện trung thừa Lương Đỉnh, người Hoa Dương, nhậm chức Tri châu Cát Châu. Dân có người tên Tiêu Giáp, là kẻ cường hào, làm hại dân lành. Lương Đỉnh bêu rõ tội trạng hung ác của hắn, đánh bằng roi vào lưng, xăm mặt và đày đi quận xa. Vua khen ngợi ông có tài cán, triệu về kinh, ban cho áo tía và cá thẻ. Theo lệ cũ, ban thưởng thường là đai bình bạc, nhưng Vua đặc cách ban cho ông đai sừng tê giác, lại ghi tên ông lên bình phong trong cung.
Sau đó, ông được bổ làm Phán quan Hữu kế thuộc Tam ty, dâng sớ nói: “Ba năm xét công, ba lần xét công để thăng giáng kẻ hiền người ngu”, đây là cách mà Vua Nghiêu, Vua Thuấn dùng để được người hiền tài mà giáo hóa thiên hạ. Từ Tam đại trở xuống, điển chương vẫn còn; từ nhà Hán trở đi, sự thay đổi vẫn có thể thấy được. Đến nhà Đường, đạo này càng tinh tế hơn, có cơ quan Khảo công, ban chiếu xét khóa trình, từ chức Bạ uý dưới quận, đến chức Tể thần trên triều, hàng năm đều tính công lỗ, so sánh ưu liệt.
Vì vậy, người ta đều lo tu tỉnh, kết quả nổi tiếng, giáo hóa lan rộng khắp nhân dân, thiên hạ tự nhiên hòa bình. Đến thời Ngũ đại, chiến tranh liên miên, lễ pháp suy đồi, chỉ còn văn bản về khóa trình, chỉ áp dụng cho bọn châu huyện, việc thăng giáng đã lơi lỏng, thành ra danh còn mà thực mất. Huống chi chức Tri châu ngày nay, tức Thứ sử thời xưa, tuy có lệ xét quan, nhưng tuyệt không có điều khoản xét công. Người tài giỏi không có cách tự tiến, kẻ tầm thường lại được che đậy. Tình trạng trị lý rõ ràng, triều đình không biết đến; phương lược kém cỏi, vẫn được dùng như cũ. Mất hết lý do khuyến khích và trừng phạt, dần dần thành thói xấu làm qua loa. Khiến tai họa hạn hán liên tiếp, kiện tụng tràn ngập mong thiên hạ thái bình sao được?
Kính mong Bệ hạ đặc biệt hạ chiếu cho quan chức, tuyên lại điển chương cũ, nếu điều mục chưa đầy đủ, tùy việc mà thêm vào, hy vọng quan phận được người tài, dân được hưởng ơn lợi.” Vua khen ngợi và chấp nhận.
(Theo ‘Lương Đỉnh truyện’, Lương Đỉnh dâng sớ này vào năm Thuần Hóa, nhưng tháng hai năm nay mới đổi “Ma khám viện” thành “Thẩm quan viện“, sớ của Lương Đỉnh có nói đến “Thẩm quan”, nên chắc chắn không phải trước tháng hai, vì không có tài liệu khác, nên ghi ở cuối năm. Lương Đỉnh làm Phán quan Hữu kế là vào ngày Giáp Tuất tháng mười năm nay.)
[58] Chiếu rằng: “Theo chế độ cũ, quan tuyển tuổi sáu mươi, không được nhậm chức ở các châu Xuyên, Hiệp, Quảng Nam; nếu có người không phải là người địa phương nhưng xin nhận, thì cho phép.”
[59] Trước đó, dọc sông có nhiều cướp, liền hạ chiếu bổ nhiệm Nội điện Sùng ban Dương Doãn Cung đốc quản việc vận chuyển đường thủy ở Giang Nam. Khi đó, nhân lúc đi truy bắt bọn giặc, ông đến quân châu lâm Giang, chọn những binh sĩ dũng cảm chèo thuyền nhẹ, rình xem lũ cướp hạ du đóng ở đâu. Đêm đó, phát quân ra khỏi thành, đến ba canh, gặp hơn trăm tên giặc, chống cự lâu, chém đầu hết chúng.
Sau đó, ông kéo quân đến vùng biên giới châu Thông châu truy bắt bọn cướp biển. Bọn giặc buộc nhiều thuyền lại, giăng màn, bắn nỏ mạnh và tên ngắn. Đao kiếm của quân Doãn Cung đâm đến, phần lớn bị màn vướng lại, tên ngắn trúng vai phải của Doãn Cung, máu chảy ướt cả tay áo, nhưng sắc mặt ông vẫn càng thêm hùng tráng. Ông từ từ sai người giỏi bơi lội dùng dây buộc thỏi sắt ném tứ tung, phá tan màn giặc, quân sĩ tranh nhau xông lên, giặc nhảy xuống nước chết quá nửa, bắt sống mấy trăm tên. Từ đó, đường sông không còn loạn cướp phá. Do có công, ông được thăng chức Lạc uyển Phó sứ, quản lý việc vận chuyển lớn ở Giang, Hoài, Lưỡng Chiết, cùng phụ trách việc trà, muối và bắt giặc, được ban áo tía, đai vàng và năm mươi vạn tiền.
[60] Trước đây, ba lộ Chuyển vận sứ mỗi người đảm nhiệm chức vụ của mình, hoặc kho lẫm tích trữ nhiều, nhưng quân sĩ và thuyền bè không đủ. Dù dùng tiền quan để thuê nam đinh kéo thuyền, nhưng người địa phương sợ khổ vì việc này, nên mỗi năm số gạo cung cấp lên triều đình không quá ba trăm vạn. Dương Doãn Cung liệt kê hết số thuyền bè và lính tráng của ba lộ cùng số lượng vật tư vận chuyển, ra lệnh cho các châu chọn lại viên chức [18], tập hợp lại, Doãn Cung liền phân chia số lượng và giao việc [19]. Gạo từ Giang, Chiết vận chuyển chỉ đến Hoài, Tứ, rồi từ Hoài, Tứ chuyển về kinh sư. Thực hiện được một năm, số gạo cung cấp lên triều đình lên đến sáu trăm vạn.
(Theo ‘Hội yếu’, việc Doãn Cung đến Giang, Hoài quản lý việc vận chuyển trà, muối, lương thực, vải lụa là việc năm Thuần Hóa thứ 4, nay ghi phụ cuối năm. Chức vụ thì theo truyện trong ‘Tống sử’. ‘Hội yếu’ lại ghi vào tháng 7 năm Chí Đạo nguyên niên [20], viết rằng Dương Doãn Cung, chức Giang Hoài Lưỡng Chiết đô đại Phát vận sứ kiêm Tróc tặc Phách hoạch trà diêm, được bổ làm Giang Hoài Lưỡng Chiết Phát vận sứ, kiêm Tróc tặc Chế trí trà diêm Công sự. Như vậy chức vụ ghi trong truyện là chính xác, còn ‘Hội yếu’ trước kia ghi là quản lý việc vận chuyển trà, muối, lương thực, vải lụa chỉ là tóm tắt mà thôi.)
- Các bản đều chép là Hàn Thụ. Theo 'Biên niên cương mục' quyển 4 và quyển 36 'Thuần Hóa năm thứ năm, tháng sáu, ngày Kỷ Tỵ' lại chép là Hàn Viện ↵
- Chữ 'trước' vốn thiếu, căn cứ vào bản Tống và bản Tống Toát Yếu bổ sung. ↵
- Chữ 'tất' vốn là 'lại', trên chữ 'biệt' vốn thừa chữ 'nhi', căn cứ vào sách trên để sửa. ↵
- ‘Nhỏ’ nguyên văn là ‘vi’, theo sách trên đã sửa lại. ↵
- Xin từ huyện Trưởng Cát đào sông nhỏ dẫn nước sông Dị chia dòng 20 dặm ↵
- Chữ 'vi' nguyên bản thiếu, theo Tống bản, Tống toát yếu bản, các bản khác bổ sung. ↵
- Các bản như Đồng bản, Sử lược, Bản hoạt tự đều ghi là 'Từ Du'. Theo 'Nam Đường thư' của Mã Lệnh và Lục Du, Từ Du là con của Từ Tri Hối, ban đầu tên là Cảnh Du, vì kiêng tên húy của Nguyên Tông nên bỏ chữ 'Cảnh', đổi tên là Du. Sách cũng ghi chép sự việc Tô Dịch Giản thử nghiệm khí nghiêng do Từ Du chế tạo. ↵
- Thông tiến Ngân đài ty trước đây thuộc Xu mật viện, 'Thông tiến Ngân đài ty' nguyên bản là 'Thông tiến Ngân đài sứ', 'Xu mật viện' nguyên bản là 'Xu mật viện sứ', đều dựa theo bản Tống và bản Tóm tắt thời Tống sửa đổi. ↵
- việc lớn nhỏ 'không' thiếu trong nguyên bản, dựa theo sách trên bổ sung ↵
- Chữ 'tầm' trong câu 'Tầm mệnh trực Chiêu Văn Quán' vốn thiếu, nay dựa vào Tống bản, Tống toát yếu bản và các bản khác để bổ sung. ↵
- Giao việc ấy về cho Ty Chuyển vận,'ty' nguyên tác là 'sứ', căn cứ vào bản Tống và bản Tóm tắt đời Tống mà sửa. ↵
- 'Lý Hãng' nguyên bản là 'Lý Phưởng', theo Tống bản, Tống toát yếu bản và Biên niên cương mục quyển 4 sửa lại. ↵
- Xu mật trực học sĩ Hướng Mẫn Trung làm Tả gián nghị đại phu, 'Tả gián nghị đại phu', trong 'Đông đô sự lược' quyển 41 và 'Tống sử' quyển 282, bản truyện cùng 'Biên niên lục' quyển 2, 'Biên niên cương mục' quyển 4 đều ghi là 'Hữu gián nghị đại phu'. ↵
- Cầu xin giảm nhẹ tội, chữ 'vi' nguyên bản thiếu, căn cứ vào Tống bản, 'Tống toát yếu' và 'Tống sử' quyển 282, truyện Hướng Mẫn Trung bổ sung. ↵
- Tra hỏi, nguyên bản là 'tấn chi', căn cứ vào sách trên sửa lại. ↵
- Vừa khóc vừa tạ ơn, chữ 'thích' nguyên bản là 'trích', căn cứ vào Tống bản, 'Tống toát yếu' và văn mạch trên dưới sửa lại. ↵
- Nguyên văn là 'Thừa tướng', theo bản Tống, bản Tống tóm tắt và văn nghĩa đoạn dưới sửa thành 'Phụ thần'. ↵
- theo ‘Tống bản’, ‘Tống Toát Yếu’ và ‘Tống sử’ quyển 309 truyện Dương Doãn Cung bổ sung chữ 'nha' vào. ↵
- chữ 'biện' nguyên là 'biện', theo các bản và ‘Tống sử’ sửa lại. ↵
- chữ 'hựu' nguyên là 'nhập', theo các bản sửa lại. ↵