II. TỐNG THÁI TÔNG
QUYỂN 40: NĂM CHÍ ĐẠO THỨ 2 (BÍNH THÂN, 996)
Từ tháng 6 năm Chí Đạo thứ hai đời Thái Tông đến hết tháng 12 cùng năm.
[1] Tháng 6, ngày Giáp Tuất, Vua sai trung sứ mang 20 cuộn thư pháp “Phi Bạch” ban cho Thừa tướng Lã Đoan cùng những người khác, mỗi người 5 cuộn; lại cất 40 cuộn vào bí phủ. Chữ trong các cuộn thư đều vuông tròn, đường kính một thước. Lã Đoan cùng mọi người tụ tập đến điện tiện tạ ơn. Vua bảo họ: “Chữ Phi Bạch theo lối chữ Tiểu Thảo, khác với chữ Lệ. Trẫm trị vì thiên hạ, còn việc gì phải bận tâm đến bút nghiên! Chỉ vì tâm huyết yêu thích, không nỡ bỏ lỡ, lâu ngày nên đã thông thạo phép ấy. Nghe nói trước kia có người Giang Chiết tự xưng giỏi chữ Tiểu Thảo, liền triệu đến hỏi, nhưng hắn chẳng biết gì về thế chữ, chỉ lo viết chữ cho đầy giấy, gom thành quyển. Chữ Tiểu Thảo cực khó viết, sợ rằng nghề này sớm muộn cũng sẽ thất truyền.”
[2] Ngày Canh Thìn, Châu Ôn tâu rằng dân huyện Vĩnh Gia là Trần Khản, năm đời cùng ở chung một nhà, không phân chia bếp núc. Khản hiếu thảo với cha mẹ, được người trong làng khen ngợi. Vua ban chiếu khen ngợi gia đình, ban cho mẹ ông gạo và lụa.
[3] Vua nói với các quan hầu cận: “Gia tộc Trần Húc ở Đức An, hiếu thuận, hòa thuận, khiêm tốn, chưa thấy ai sánh được.” Tham tri chính sự Trương Kỵ tâu: “Nhà Húc có hơn nghìn người lớn nhỏ, đời đời giữ gia pháp, hiếu thuận nghiêm cẩn, không suy giảm. Trong cửa khuê, nghiêm trang như công phủ.” Vua nói: “Gần đây nghe nói hạt ấy có năm mất mùa nhẹ, đã xuất 2000 hộc gạo từ quan thương để giúp. Húc chỉ nhận một nửa[1], lại nói: ‘Tiết kiệm mà ăn, có thể đợi đến mùa thu.’ Có người bảo ông: ‘Sao không nhận hết để bán, có thể được giá cao.’ Húc đáp: ‘Triều đình vì gia đình ta đông người, đặc biệt xuất của công giúp tư gia, há lại tham lợi quên nghĩa, làm việc lừa dối trên?’ Điều này thật đáng khen ngợi.” Húc là em họ của Trần Căng.
[4] Ngày Nhâm Thìn, Phò mã đô uý Ngụy Hàm Tín dâng lời tâu, cho rằng cha ông là Ngụy Nhân Phố được hưởng ân điển từ lễ tế giao, từ tước Tấn vương tiến phong lên Tề vương, nhưng có điều riêng cần tránh, nên xin đổi phong sang nước khác. Vua hỏi ý tể tướng, Lã Đoan tâu rằng: “Kể trên Tấn quốc, chỉ có Tần quốc là lớn nhất.” Khấu Chuẩn đáp: “Từ trước đến nay, Trung thư chưa từng cùng triều đình giữ kỷ cương. Như việc Ngụy Nhân Phố tiến phong tước vương, đáng lẽ phải theo ba bậc, lần lượt truy phong, há có thể lập tức phong ngay Tấn quốc? Huống hồ Tấn quốc vốn là tước cũ của phủ đệ Bệ hạ, dùng để ban tặng, không hợp lý. Cho nên mới dẫn đến việc từ Tấn phong lên Tề vẫn chưa thỏa mãn, đưa ra lý do khác để xin đổi phong.” Vua nói: “Có thể nhân đây ban chiếu, ghi rõ những việc không tuân theo cổ đạo, hiến chương bị phá hỏng do nhiều biến cố gần đây, đều phải chỉnh đốn, nếu quan chức không tuân theo thì cho phép Hiến ty đàn hặc.” Sau đó, tể tướng cuối cùng cũng không thể thực hiện ý chỉ của Vua.
[5] Trước đó, có chiếu cho chuyển Trần Vĩ (chưa rõ) từ chức Hà Bắc chuyển vận sứ, Từ bộ lang trung sang làm Thiểm Tây chuyển vận sứ. Trần Vĩ vào triều đối đáp, hết lời khen ngợi tài năng của Đại Danh phủ thông phán, Trứ tác tá lang Tế Âm Nhậm Trung Chánh, xin để ông thay mình. Vua nói: “Trẫm đã biết.” Bèn triệu kiến, thăng làm Bí thư thừa. Ngày Ất Mùi, trao chức Giang Nam chuyển vận sứ, ban áo quan ngũ phẩm. Vua thấy Trung Chánh cao lớn, tự chọn cho ông một cây hốt lớn, lại sai nội thần lấy áo dài màu đỏ ban cho. Đến nhiệm sở, năm được mùa lớn, thuế má và việc mua bán lúa gạo đều dư thừa. Phát vận sứ Vương Tử Dư muốn điều hết lương thực về kinh đô, Trung Chánh nói: “Đông Nam mỗi năm nộp hơn năm trăm vạn, mà Giang Nam chiếm hơn một nửa. Nay tuy dư thừa, nhưng sau này nếu có mất mùa nhỏ thì số thu không đủ, lại phải cấp bách bắt dân ta nộp sao?” Tử Dư bèn dừng lại.
[6] Mùa thu, tháng bảy, ngày Canh Thân, Thái thường bác sĩ, trực sử quán Trần Tĩnh dâng lời tâu rằng:
“Các tiên vương muốn làm cho dân được no đủ và lương thực dồi dào, thì không gì lớn hơn tích trữ thóc lúa và chăm lo nông nghiệp. Thần từng giữ chức Phán quan Kế ty, mỗi lần được vào yết kiến, đều nghe lời dạy bảo của Thánh thượng, cho rằng việc cày cấy làm ruộng là gốc của chính sự. Nếu khuyến khích được việc làm ruộng, giúp dân chúng no đủ, thì việc muối, sắt, thuế rượu chỉ là thứ yếu mà thôi. Thần xét kỹ ruộng đất trong thiên hạ, ngoài các vùng Giang Hoài, Chiết Hữu, Lũng Thục, Hà Đông, còn lại những nơi xa xôi[2], dù có khuyến khích đốc thúc, cũng khó thể thu được lợi ích ngay.
Huống chi, cổ nhân có phép “mạnh gốc yếu ngọn”, tất phải làm giàu mạnh từ trong trước. Nay vùng Kinh kỳ bao quanh hai ba châu[3], phạm vi mấy nghìn dặm, ruộng đất khai khẩn được chỉ mới hai ba phần mười[4], thuế thu vào cũng chưa được năm sáu phần mười, lại có kẻ giấu nhà mà xưng là bỏ trốn, bỏ nghề nông để theo thói lười biếng. Dân bỏ trốn nhiều, thì thuế ngày càng giảm, quốc dụng không đủ, các khoản thu thuế và phụ phí không sao thực hiện được; kẻ lười biếng nhiều, thì lợi đất năm càng hao, dân không đủ ăn, giặc cướp giết người không đâu là không đến[5], làm sao có thể khiến dân no ấm, phong tục giàu có, đất trời yên ổn được! Xin chọn một vị đại thần có tầm nhìn sâu rộng[6], kiêm quản Đại ty nông sự, chỉ đạo ở trong; lại chọn trong hàng lang lại những người tài trí thông minh, biết yên dân quản chúng làm phó, để điều hành bên ngoài. Từ Kinh Đông, Kinh Tây, chọn những nơi đất tốt chưa khai phá, ra sức khuyến khích cày cấy.
Thần từng phụng mệnh đi sứ khắp nơi, thấy rõ lợi hại của ruộng đất dân chúng: đất bỏ hoang khắp nơi, đất màu mỡ bị bỏ phế, cũng đã hỏi thăm và hiểu được nguyên do. Xưa kia, chiếu thư nhiều lần ban xuống, cho phép dân chúng trở về làm ăn, miễn giảm thuế thường, thời gian khoan hồng. Thế nhưng, giữa các làng xã và huyện, sự quấy nhiễu lại càng nghiêm trọng, mỗi khi một hộ gia đình trở về làm ăn, liền bị báo cáo ngay. Sáng cày mảnh ruộng nhỏ, tối đã bị ghi vào sổ dịch, bị truy hỏi, tiếp nối nhau mà đến, dù được miễn thuế thường, thực tế chẳng giúp gì cho sự nghèo khổ. Huống chi dân chúng bỏ đi lang thang, ban đầu vì nghèo khó, hoặc trốn nợ tư, hoặc trốn thuế công. Khi đã bỏ trốn, làng xã liền thu gom tài sản của họ, từ nhà cửa, đồ đạc, cây dâu, cây táo, gỗ, đều tính giá trị, quan làng dùng để nộp thuế, hoặc chủ nợ lấy để trừ nợ. Kế sinh nhai tan nát, không nơi để về, vì thế mà bơ vơ, tuyệt ý nghĩ quay về. Khi lòng gian đã nảy mầm, có gì mà không dám làm?
Nếu được giao trọng trách này, thần mong được ban cho một vùng đất rộng rãi, để chiêu mộ những kẻ du thủ du thực, khuyến khích họ cày cấy, chưa tính đến thuế má, cho phép lập bản đồ riêng, tuỳ nghi hành sự. Xem xét sức dân mạnh yếu, đất đai màu mỡ hay cằn cỗi, phân chia đều, không cần giám sát gắt gao, khiến họ không mệt mỏi. Những dân chạy loạn trở về nghề, cấp ruộng đất cho từng nhân khẩu, những việc nhỏ nhặt khác, đều giao cho Đại tư nông quyết định. Ngoài việc cày cấy trồng dâu, còn khuyến khích trồng thêm cây ăn quả, nuôi dê, chó, gà, lợn. Cấp đất trồng dâu, ngầm theo mô hình tỉnh điền, xây nhà ở, thiết lập tổ chức bảo ngũ. Đến các việc nuôi sống, tang ma, lễ tết, tặng quà, đều đặt ra quy chế rõ ràng. Đợi khoảng ba đến năm năm, cuộc sống ổn định, có nhà để lưu luyến, có đất để gắn bó, thì tính hộ định thuế, đo ruộng nộp thuế, lấy sổ sách mới của Tư nông, hợp với sổ sách cũ của Kế phủ. Đó chính là kế sách lớn để củng cố gốc rễ, giáo hóa dân chúng. Nếu sức dân không đủ, quan phủ cho vay tiền, hoặc để mua lương thực, hoặc để mua nông cụ. Tất cả việc cấp phát này đều giao cho Tư nông xử lý, đợi đến mùa thu hoạch, bắt dân trả nợ, tính theo giá thị trường, nộp vào kho, rồi báo cáo số lượng lên Hộ bộ[7].”
Vua xem xong rất vui, nói với Thừa tướng rằng: “Trẫm muốn khôi phục đạo xưa, cải cách tệ tục, đưa dân về đồng ruộng, làm cho dân giàu nước mạnh. Trước sau có nhiều người dâng thư nói về lợi hại của việc nông, nhưng chỉ biết ngọn mà quên gốc, có lý thuyết mà không thực dụng. Bản tấu này của Tĩnh rất hợp lý, có thể thi hành, đúng là ý của Trẫm.” Nhân đó triệu vào ban thưởng, lệnh soạn thảo điều lệ đệ trình.
[7] Tĩnh lại tâu: “Dân bỏ trốn trở lại làm ăn cùng khách trọ xin cày cấy, giao cho quan nông nghiệp khám xét, cấp ruộng đất, thu nạp vào sổ sách, các châu huyện chưa được bàn việc sai dịch của họ. Những người thiếu lương giống, trâu cày, cho Ty Nông lấy tiền quan cho vay. Dân nộp thuế ngoài ra, có ruộng hoang muốn nhập vào sổ sách của Ty Nông; dân có trâu, mỗi năm thu thuế, ai muốn vào sổ sách nhận ruộng đều cho phép.
Chế độ ruộng đất chia làm ba loại[8]: Ruộng màu mỡ không bị hạn hán lụt lội là loại thượng phẩm, ruộng màu mỡ nhưng có hạn hán lụt lội, đất cằn cỗi nhưng không lo hạn hán là loại trung phẩm, đất vừa cằn cỗi vừa hay bị hạn hán lụt lội là loại hạ phẩm. Ruộng thượng phẩm mỗi người cấp 100 mẫu, trung phẩm 150 mẫu, hạ phẩm 200 mẫu, đều sau 5 năm mới thu tô, cũng chỉ tính 100 mẫu, thu một phần ba. Mỗi nhà có ba đinh xin thêm ruộng, cấp theo số đinh, năm đinh theo chế độ của ba đinh, bảy đinh cấp năm đinh, mười đinh cấp bảy đinh; đến hai mươi đinh, ba mươi đinh, lấy mười đinh làm giới hạn[9]. Nếu vùng đất rộng ruộng nhiều, giao cho quan nông nghiệp cân nhắc mà cấp phát. Chỗ ở, vườn rau cùng đất trồng dâu táo, du liễu, mỗi hộ đến mười đinh cấp 150 mẫu, bảy đinh 100 mẫu, năm đinh 70 mẫu, ba đinh 50 mẫu. Trừ công lao trồng dâu, sau năm năm mới tính tô, còn lại đều miễn thuế. Cho các quan thường triều trong mạc chức, châu huyện mỗi người tiến cử một người mình biết có thể làm Thừa Ty Nông, phân bổ các châu làm Thông phán, kiêm nhiệm việc ruộng đất. Lại lo rằng thuộc quan Ty Nông phân xuống các châu, dân ngoan cố lâu ngày, chưa thể tin phục, lại còn gây náo động, việc khó thành.
Mong phê cho thần dẫn năm ba quan lại[10], ở vùng rộng gần kinh đô đặt cách chiêu tập, đợi quy hoạch xong, dân phiêu bạt khắp nơi ắt sẽ đến đông đủ, mới có thể mở rộng thực hiện.”
Lã Đoan tâu: “Điền chế do Tĩnh thiết lập, phần nhiều sửa đổi phép cũ, lại hao tốn nhiều tiền của, xin giao tình hình đó cho các cơ quan hữu quan xem xét kỹ lưỡng.” Bèn hạ chiếu cho Trần Thứ – Sứ ty Diêm Thiết chọn ở mỗi bộ một viên Phán quan am hiểu lợi hại về nông điền, cùng Tĩnh bàn việc này. Thứ cùng Hộ bộ sứ Trương Giám, Độ chi phó sứ Loan Sùng Cổ, Hộ bộ phó sứ Vương Trọng Hoa, Diêm thiết phán quan Đàm Nghiêu Tẩu, (chưa thấy), Độ chi phán quan Lý Quy Nhất cùng bàn, xin theo lời tấu của Tĩnh. Bèn hạ chiếu lấy Tĩnh làm Khuyến nông sứ, đi tuần các châu Trần, Hứa, Thái, Dĩnh, Tương, Đặng, Đường, Nhữ, khuyến khích dân khẩn hoang, lấy Đại Lý tự thừa Hoàng Phủ Tuyển, Quang lộc tự thừa Hà Lượng làm phó. Tuyển, Lượng dâng tâu việc này khó thành, xin bãi bỏ. Thượng chủ trương khuyến nông, vẫn hạ chiếu cho Tĩnh tiếp tục lo liệu. Chẳng bao lâu, Tam ty cho rằng hao tốn nhiều tiền quan, vạn nhất gặp hạn hán, lụt lội, e rồi sẽ mất mát nhiều. Việc này bèn dừng lại.
(Việc Tĩnh làm Khuyến nông sứ vào ngày Tân Dậu tháng 8, nay ghi chung vào đây.)
[8] Ngày Bính Dần, Tham tri chính sự Khấu Chuẩn bị bãi chức, giáng làm Cấp sự trung.
Trước đây, nhân lễ tế giao, quan lại trong ngoài đều được thăng chức, Khấu Chuẩn bèn tùy ý định cao thấp, những người ông ưa thích đều được bổ vào các chức vụ thanh nhàn ở đài, tỉnh; còn kẻ bị ông ghét hoặc không quen biết thì chỉ được thăng lên theo thứ tự. Tả thông phán, Tả chánh ngôn ở Quảng châu là Phùng Chửng được chuyển làm Ngu bộ viên ngoại lang[11], còn Hữu thông phán, Thái thường bác sĩ Bành Duy Tiết lại được chuyển làm Đồn điền viên ngoại lang.
Phùng Chửng vốn có hiềm khích với Khấu Chuẩn, nên bị ông ức chế. Bành Duy Tiết tự nghĩ mình vốn dưới Phùng Chửng, nên trong tờ tấu vẫn viết tên như cũ, Khấu Chuẩn nổi giận, dùng trát tử của Trung thư đưa Duy Tiết lên trên Chửng. Ông nghiêm khắc trách phạt Chửng, nhưng đặc biệt miễn truy xét tội. Chửng tức giận nói: “Hoàng thượng hàng ngày xem xét vạn việc, há để ý đến chuyện nhỏ này? Chẳng qua là Khấu Chuẩn lộng quyền mà thôi.” Bèn dâng sớ kể tội, nói về việc bổ nhiệm quan lại ở Lĩnh Nam không công bằng, lại đóng kèm trát tử của Trung thư để tâu lên. Quan Chuyển vận sứ Lĩnh Nam đông lộ là Khang Tiễn cũng dâng tấu, bảo rằng: “Lã Đoan, Trương Kỵ, Lý Xương Linh đều do Khấu Chuẩn tiến cử, Đoan nhớ ơn, Kỵ xu nịnh Chuẩn, Xương Linh nhút nhát, không ai dám chống lại Chuẩn, nên ông ta mặc sức làm bừa, phá nát phép tắc, đều là do Chuẩn gây ra.”
Hoàng thượng nổi giận, nhân lúc Khấu Chuẩn đang tế ở Thái miếu, liền triệu Lã Đoan đến trách cứ. Đoan tâu: “Bọn thần đều được bệ hạ bổ dụng, giữ chức ở tướng phủ, còn việc bổ nhiệm chuyên quyền, thực sự là do Khấu Chuẩn làm. Chuẩn tính cương trực tự phụ, bọn thần là đại thần, không muốn tranh cãi, sợ tổn hại quốc thể.” Bèn lạy tạ xin tội.
Hoàng thượng lại nói: “Đời trước, Trung thư dùng đường thiếp để chỉ huy công việc, đó là quyền thần mượn danh để uy phục thiên hạ. Triều Thái Tổ, Triệu Phổ ở Trung thư, đường thiếp của ông có quyền hơn cả sắc mệnh, sau cũng bị bãi bỏ, nay sao lại dùng trát tử? Trát tử và đường thiếp chẳng qua chỉ là khác nhau chút ít mà thôi.”
Trương Kỵ đối đáp: “Trát tử là văn bản nhỏ của Trung thư[12], cũng như các cơ quan ở kinh đô có phù thiếp, quan thích, nếu bãi bỏ thì không còn văn bản chính thức để chỉ huy.”
Hoàng thượng nói: “Từ nay, việc lớn[13], phải dùng sắc mệnh. Còn trát tử, cũng phải tâu xin, mới được thi hành.”
Sau đó, Khấu Chuẩn vào chầu ở điện trước, Hoàng thượng nhắc đến việc Phùng Chửng tố cáo, Chuẩn cãi rằng mình đã cùng Lã Đoan bàn việc bổ nhiệm. Hoàng thượng nói: “Nếu tranh cãi ở triều đình, thật là mất thể thống của người chấp chính.” Chuẩn vẫn cố tranh cãi. Hoàng thượng vốn đã chán Chuẩn, bèn than: “Chim chuột còn biết ý người, huống chi là người?” Hôm sau, Chuẩn ôm sổ sách của Trung thư, bàn phải trái trước mặt Hoàng thượng, Thượng càng không vui, bèn bãi chức ông, rồi cho ra làm Tri châu Đặng Châu.
Tiển, người Cao Ly, theo học tại trường Quốc Tử Giám, năm thứ 5 niên hiệu Thái Bình Hưng Quốc đỗ tiến sĩ. Ông làm quan nổi tiếng thanh liêm, được Tô Dịch Giản tiến cử giữ chức Chuyển vận sứ. Chửng, ban đầu bị giáng làm Tri châu Đoan, ông không ngừng dâng sớ tâu việc, từng xin cử sứ điều tra số đinh ẩn lậu khắp các lộ, cải cách sổ sách đinh điền, và bàn về phép buôn bán muối, tổng cộng hơn mười việc. Ông còn dâng sách “Phiên Ngu Kỷ Dị Tập”. Vua muốn triệu ông về, nhưng Khấu Chuẩn vốn không ưa Chửng, nên chuyển ông làm Tri châu Lãng, giữa đường đổi làm Thông phán châu Quảng. Sau khi Khấu Chuẩn bị cách chức, Chửng xin được chuyển về nội địa vì mẹ mất, nên được bổ làm Tri châu Giang.
(Theo bản truyện của Chửng: Chửng làm Tri châu Đoan, sau khi đến nơi đã dâng sớ hơn mười việc[14], Thái Tông muốn triệu ông về, nhưng Khấu Chuẩn không đồng ý. Xét rằng Chửng bị giáng làm Tri châu Đoan vào mùa thu năm thứ 2 niên hiệu Thuần Hóa[15], Khấu Chuẩn đến mùa thu năm thứ 5 mới tham gia chính sự, Thái Tông muốn triệu Chửng nhưng chỉ cho thăng chức nhỏ, rồi lại giáng chức, chứng tỏ lúc đó Khấu Chuẩn đã ở trong triều. Chửng làm Tri châu Đoan hơn bốn năm[16], mười mấy việc ông tâu chắc chắn không phải là sớ dâng ngay khi mới đến. Nay lược bớt và chỉnh sửa để tránh mâu thuẫn.)
[9] Ngày Canh Ngọ tháng 7 nhuận, các quan tâu rằng các châu thiếu hơn 50 chức li vụ quan, chiếu chỉ sai Thượng thư Tả thừa Lý Chí cùng 83 người khác, từ các châu huyện và quan lại trong phủ, cử người liêm khiết, có năng lực, mỗi người một người để bổ vào chỗ khuyết[17].
[10] Vua nói với Thừa tướng rằng: “Quân tử và tiểu nhân có xu hướng khác nhau. Quân tử cẩn trọng, chú trọng không làm điều xấu khuất tất, giữ gìn danh tiết, không thay đổi trong mọi hoàn cảnh. Tiểu nhân thì không như vậy, bên trong mềm yếu, bên ngoài cứng rắn, dù khéo nói về trung tín nhưng hành vi lại lệch lạc, nên khó phân biệt thật giả, nhưng lâu ngày ắt sẽ bại lộ. Khi làm quan, tham ô của cải, không sợ hình phạt, đến khi tang vật bị phát hiện, dù bị tiểu lại bắt giữ cũng không hổ thẹn cúi đầu cầu xin tha thứ. Như Tiết Trí Chu, làm Thị ngự sử, trông coi châu Vụ, chính sự dựa vào hối lộ, người dân thường dâng lụa là, Trí Chu thu gom không biết chán, dân châu gọi là ‘La đoan công’, từ đó có thể biết cách trị dân của hắn. Các khanh giữ trọng trách chọn người tài, nay lệnh cho triều thần tiến cử quan lại[18], đã là việc nhỏ, lại không chọn người tiến cử, làm sao có được người tài?”
(Bản khác ghi ngày Canh Tý tháng bảy, nay ghi sau phần tiến cử quan lại.)
[11] Ngày Tân Mùi, ban chiếu: “Từ nay Trung thư môn hạ chỉ để Thừa tướng dẫn đầu ban chầu, giữ ấn. Các chức Tham tri chính sự, trong điện đình bố trí chỗ ngồi riêng, sau hàng Thừa tướng, nếu không bàn việc quốc sự quân cơ, không được lên đô đường; việc tế tự, hành hương, ký sắc, đều theo chiếu chỉ ngày Canh Tuất tháng sáu năm Khai Bảo thứ sáu mà thi hành.”
[12] Trước đó, quan nội thị là Bạch Thừa Duệ kiểm điểm các vật phẩm may mặc do tam ty sản xuất, thấy số lượng thiếu hụt rất nhiều. Vua nhìn các quan phụ chính nói: “Trẫm trước đây đã ra lệnh cho tam ty, mỗi dịp Đoan Ngọ, đầu đông và ngày sinh thần, các vật phẩm may mặc được sản xuất theo từng đợt, như vậy việc kiểm kê có thể hoàn thành ngay tức khắc, không có chỗ cho gian lận phát sinh. Nay tam ty gộp làm một đợt, là vì sao?” Rồi nói tiếp: “Việc gì mà nắm được điểm then chốt thì sẽ trở nên đơn giản và dễ dàng quản lý. Nay tam ty chỉ muốn tăng thêm các biện pháp phòng ngừa để ngăn chặn gian lận, nhưng không biết rằng càng nhiều điều khoản, sổ sách càng nhiều, thì gian lận càng phát sinh. Trẫm muốn hợp nhất tam ty làm một, bổ nhiệm một viên quan đứng đầu quản lý. Đồng thời giảm bớt các cơ quan như Câu viện, Ma khám, Lí khiếm, Bằng do, Chi thu, Hành trướng, Đề điểm, nên sai Diêm thiết sứ là Trần Thứ bàn xem việc này có khả thi hay không.”
Trương Kỵ nói: “Bậc minh quân trị nước, tuy phương pháp có khác nhau, nhưng đến lúc trị an được trăm họ, thì không gì quan trọng hơn là đơn giản. Quốc gia ta kế thừa sau thời Ngũ đại, trăm việc suy đồi. Tam ty nắm giữ việc kế hoạch quốc gia, nên đã tạo ra nhiều cơ quan để thận trọng phòng ngừa, nếu thực sự có thể bỏ bớt sự rườm rà để trở về đơn giản, thì rất hợp với đạo lý cổ xưa.”
Vì thế, Trần Thứ vâng chiếu dâng tấu rằng:
“Thần nghĩ rằng lãnh thổ ngày càng mở rộng, tài vật và lương thực ngày càng nhiều, trong ba ty (Tam ty), sổ sách chất đống, triều đình đặt ra pháp luật, việc đốc thúc và trách nhiệm càng nghiêm khắc, quan viên và lại viên chỉ lo sửa lỗi không kịp. Nếu như mỗi bộ trong ba ty đều đặt một chủ ty, việc chọn người tài không khó, công việc cũng dễ dàng. Việc làm xong, lỗi ít, không làm phiền lòng trên, đây cũng là sách lược tốt trong lúc này. Còn Câu viện và Ma khám hai ty, xuất phát từ chế độ cũ, là chỗ trọng yếu trong việc phòng ngừa. Lý khiếm và Bằng do hai ty, tuy không phải chế độ cũ, nhưng từ khi việc nợ nần mất trật tự, giấy tờ tản mát, nên đặt ra hai ty này để chuyên trách việc quản lý. Điều lệ đầy đủ, cách tổ chức có quy củ, việc nợ nần không có danh tiếng xấu, giấy tờ ít bị thất lạc, thực sự là việc cần thiết, không thể bãi bỏ[19]. Nếu hai ty cùng giao cho một quan, vừa liên quan đến việc xét xử của một viên phán quan. Việc chủ quản chi thu, từ lâu do từ Kinh đô phân phối tài vật, chuyển vận ra ngoài, việc này bỏ đi, việc kia thêm vào, kiểm tra chậm trễ gây cản trở, nên quan lại ở Kinh thành được thay thế, mới đặt ra ty này để chuyên kiểm soát, mỗi khi chi phát vật dụng của quan, liền cấp giấy chứng nhận, rồi đặt sổ sách ghi chép lại, khi thu hồi được giấy tờ[20], liền gạch bỏ sổ sách, đây cũng là cách làm hợp lý. Còn Hành trướng ty gần đây tạm đặt để xử lý các khoản cũ, khi khoản mục hết thì ty này tự bãi bỏ. Đề điểm ty là do chỉ đặc biệt của triều đình đặt ra, nhằm thúc đẩy việc bỏ dở của ba ty, đây không phải việc mà các ty khác dám bàn bạc.”
Ngày Quý Mùi, xuống chiếu: “Ba ty là Đô bằng do ty và Lý khiếm ty nên hợp làm một, cử quan kiêm nhiệm. Tất cả các nơi còn nợ vật dụng của quan, lệnh cho ba ty từng bộ quản lý thu nạp, Lý khiếm ty chỉ tổng hợp số nợ và giám sát. Bãi bỏ Đề điểm ty.” Còn lại đều theo tấu của Trần Thứ.
Thứ tính cương trực, giữ công bằng, bản tính không a dua xu nịnh. Mỗi khi vào điện tâu việc, nếu Vua chưa hiểu rõ, ông thường bị quở trách. Thứ liền thu mình lại, lùi đến sát tường, dựa vào vách mà đứng, như không còn chỗ dung thân. Đợi khi ý Vua hơi nguôi, ông lại tiến lên, kiên quyết giữ nguyên lời tâu trước, không hề thay đổi, có khi lặp lại đến ba bốn lần. Vua thấy ông trung thực, nên phần nhiều nghe theo lời tâu của ông. Vua từng ngự bút đề trên cột điện rằng: “Chân Diêm Thiết Trần Thứ.” Đương thời, người ta bàn về những người xứng chức, cũng đều xếp Thứ đứng đầu.
(Bản khác chép vào ngày Quý Mùi.)
[13] Tháng 8, Viện Thẩm quan dẫn Đại Lý tự thừa Tuyên Thành Cao Huệ Liên vào triều để Vua trực tiếp bổ nhiệm làm quan. Vua muốn làm trong sạch triều đình và địa phương, nên đích thân chọn lựa quan lại. Những ai có công lao mà không vướng tư lợi, đều được khen thưởng và thăng chức.
[14] Giang, Hoài phát vận sứ Dương Doãn Cung bắt được 39 tên buôn lậu muối, giải về kinh. Vua tha hết, rồi quay lại nói với tả hữu: “Những kẻ này lang thang ngoài sông hồ, tập quán đã lâu, nên không thể làm việc nặng nhọc. Có thể gom họ thành một đội quân, dùng vào việc chèo thuyền, đặt tên là Bình Hà.”
[15] Tháng 9, Hữu bộc xạ, được tặng chức Tư không, thụy là Huệ An Tống Kỳ qua đời. Kỷ học vấn tuy thô sơ nhưng khéo ăn nói, hiểu rõ tình người, đặc biệt thông thạo về thuật trị quan. Khi ở tướng phủ, mỗi khi các quan đến yết kiến để xin việc, ông thường thẳng thừng bác bỏ, nên mọi người đều oán hận.
[16] Ngày Kỷ Mão, hành dinh Hạ Châu, Diên Châu tâu rằng: “Hai lộ hợp binh đánh bại giặc ở Ô, Bạch Trì, chém được 5.000 thủ cấp, bắt sống hơn 2.000 người, bắt được tù trưởng Vị Mộ quân chủ[21], Ngật La chỉ huy sứ cùng 27 người khác, thu được 2.000 con ngựa, vạn bộ khí giới và áo giáp. Thủ lĩnh giặc Lý Kế Thiên chạy trốn.”
Trước đó, Vua phân chia các tướng đi đánh dẹp: Lý Kế Long từ Hoàn châu, Phạm Đình Triệu từ Diên châu, Vương Siêu từ Hạ châu, Bộ quân đô ngu hậu, Dung châu quan sát sứ người Dĩnh Xuyên là Đinh Hãn từ Khánh châu, Tây kinh tác phường sứ, Cẩm châu thứ sử Trương Thủ Ân từ Lân châu [22]. Tổng cộng năm đường, dẫn quân tiến đến Ô Trì, Bạch Trì, đều được Vua bày sẵn mưu kế.
Thủ Ân là con của Lệnh Đạc.
Quân sắp lên đường, Ngân Hạ Kiềm hạt Lư Bân xin được yết kiến, khẩn khoản tâu rằng: “Tục lệ của người phiên di [23], ngựa khoẻ, quân thiện chiến, đi lại vô định, nếu thua liền chạy sang nơi khác. Giao chiến nhanh chóng trên sa mạc không phải là sở trường của quân ta. Chi bằng kiên cố phòng thủ Linh châu, tích trữ nhiều cỏ và lương thực ở nội địa, rồi điều quân đến tiếp viện. Nếu quân địch đến, hợp binh đánh cả đầu lẫn đuôi, như vậy có thể tránh hao phí vô ích, lại không bỏ lỡ kế sách giữ vững biên cương.” Vua không nghe, cải nhậm Bân làm Hoàn Khánh Kiềm hạt, dẫn ba vạn quân làm tiên phong cho Kế Long.
Bân bảo Kế Long: “Từ Linh Châu đi tới Ô, Bạch Trì, phải hơn một tháng mới đến. Nếu từ Hoàn Châu tiến thẳng tới sào huyệt giặc[24], chỉ mất mười ngày mà thôi.” Kế Long bèn sai em là Kế Hòa chạy trạm tâu lên: “Đường Xích Trung xa vòng vèo và thiếu nước[25], xin từ Thanh Cương Hiệp tiến thẳng tới sào huyệt của Kế Thiên, không kịp cứu viện Linh Châu.” Vua giận, triệu Kế Hòa vào điện, hỏi rằng: “Anh ngươi như thế, ắt sẽ hỏng việc của ta.” Bèn viết mấy bức thư trách mắng Kế Long, sai Dẫn tiến sứ Chu Oánh Lô đến quân doanh đốc thúc. Oánh tới nơi, Kế Long đã tùy cơ phát binh, không đợi chỉ thị.
Sau đó, quân Kế Long cùng với quân Đinh Hãn hợp binh, hành quân hơn mười ngày không gặp địch, bèn rút quân về. Trương Thủ Ân thấy giặc mà không đánh, dẫn quân trở về bản bộ. (Bản bộ không rõ là châu huyện nào, cần tra cứu.) Chỉ có Vương Siêu, Phạm Đình Triệu tiến đến Ô, Bạch Trì, gặp địch, đánh nhau hơn chục trận lớn nhỏ, tuy thắng nhiều nhưng các tướng không đến đúng hẹn, quân sĩ mệt mỏi[26], cuối cùng không bắt được giặc.
Lúc đó con Vương Siêu là Đức Dụng, mười bảy tuổi, làm tiên phong, chỉ huy một vạn quân đánh Thiết Môn Quan, chém được mười ba đầu, bắt giữ gia súc kể hàng vạn. Khi tiến quân tới Ô, Bạch Trì, quân địch rất mạnh, Siêu không dám tiến, Đức Dụng xin thừa cơ đánh, được năm nghìn quân tinh nhuệ, chuyển chiến ba ngày. Khi quân địch rút lui, Đức Dụng nói: “Quân về qua chỗ hiểm, ắt sẽ loạn.” Bèn dẫn quân cách Hạ Châu năm mươi dặm, chặn trước chỗ hiểm, hạ lệnh: “Ai dám làm loạn chém đầu!” Toàn quân nghiêm chỉnh, Siêu cũng dừng ngựa. Quân địch theo đuôi phía sau, nhìn thấy đội ngũ nghiêm chỉnh, không dám đến gần, Siêu vỗ lưng con mà nói: “Họ Vương có con trai rồi!”
Siêu và chư tướng vừa đến sông Vô Định, nguồn nước khô cạn, quân sĩ khát khao, quan Chuyển vận sứ Hà Đông Tương sử khẩn cấp vận chuyển một nghìn cái cuốc lớn đến, lập tức ra lệnh đào giếng, quân sĩ nhờ đó mà được cứu.
[17] Vua ban đầu đã trao phương lược cho các tướng, trước hết duyệt binh ở điện Sùng Chính, bày trận theo hình thức tấn công, rèn luyện kỹ năng đâm chém và bắn cung, đồng thời ra lệnh trang bị nhiều nỏ mạnh. Khi gặp giặc, bày trận, vạn cung tên cùng bắn, giặc không thể thi thố kỹ năng, chỉ vừa bắn một phát, giặc đã tan chạy. Tổng cộng mười sáu trận đánh tiến đến sào huyệt của chúng, thiêu hủy hoàn toàn. Trong số giặc, những kẻ già yếu không thể chạy được, Kế Thiên đều chôn vùi trong cát, chỉ lộ đầu ra, bộ lạc đầu hàng đều nói: “Người ngựa chết quá nửa, không thể sống nổi.” Người Di gọi sống là “hoá”, ý nói không thể tự sống được.
Vua liền quay lại nói với Mã bộ quân Đô ngu hậu Phó Tiềm rằng: “Chuyến hành quân này, thời điểm giao chiến và rút quân đều đúng như dự tính, nhưng các tướng không hoàn toàn tuân theo phương lược, khiến giặc này trốn thoát. Trẫm từ khi lên ngôi đến nay, chưa từng tàn sát như vậy, chỉ là việc không thể không làm. Khi quân lên đường, vào khoảng hạ thu, thời tiết nóng bức đặc biệt, Trẫm tự mình tính toán, chưa từng nghỉ ngơi. Phàm là hành quân bày trận, phải cẩn thận thận trọng, dù có người dũng cảm dẫn vài ngàn người xông lên trước đánh giặc, cũng không thể đem lại lợi ích gì, chỉ đủ gây rối loạn đội ngũ. Trẫm luôn nghiêm khắc cảnh cáo, kẻ nào vi phạm mệnh lệnh ắt chém đầu, quả nhiên không ai dám khinh suất. Bày trận là đại pháp của binh gia, không phải là điều mà kẻ tầm thường có thể suy xét, kẻ tiểu nhân dám bàn luận nhẹ nhàng, thật không thích hợp. Trẫm tự vẽ trận đồ giao cho Vương Siêu, ra lệnh không được tùy tiện cho người khác xem. Khi Siêu trở về, khanh có thể lấy đồ xem.” Tiềm bái tạ rồi lui.
[18] Lúc đầu, triều đình sai năm tướng xuất quân, Vệ châu đoàn luyện sứ Hà Dương Lý Trọng Quý được cử làm Đô bộ thự của trại Trọc Luân, thuộc lộ Lân Phủ. Ông được vào triều đối đáp, bèn tâu: “Giặc cư trú nơi sa mạc, theo nguồn nước và đồng cỏ để chăn nuôi, rất thuận lợi cho việc chiến đấu. Hễ thấy có lợi thì tiến, không lợi thì rút. Nay năm đạo quân cùng tiến vào, chúng nghe tin binh lực lớn, có thể sẽ không giao chiến mà tính kế rút xa. Nếu ta đuổi theo thì quân lính và ngựa thiếu lương thực, nếu cố thủ thì không có thành trì kiên cố. Giặc chưa dẹp yên, bọn thần còn mặt mũi nào để gặp Bệ hạ.” Vua khen ngợi ý kiến ấy, ban cho ông thanh kiếm ngự dụng, lại nhiều lần sai sứ an ủi và khen thưởng. Sau đó, quả nhiên các tướng không lập được công lớn, Trọng Quý trở về. Vua nhớ lại lời ông trước đây, bèn phong làm Phó đô bộ thự của Tịnh Đại.
(Trọng Quý làm Phó suý Tịnh Đại, nhưng không rõ tháng ngày. Nay ghi thêm vào.)
[19] Ngày Giáp Ngọ, ban chiếu nhân dịp tiết Thọ Ninh, ban cho các Hàn lâm học sĩ, quan Lưỡng tỉnh từ ngũ phẩm trở lên, và quan Thượng thư tỉnh từ tứ phẩm trở lên, mỗi người được cho một người con làm quan. Trước đây, các cận thần nhân dịp ngày sinh thường lấy những người họ xa để xin bổ nhiệm, đến nay mới bắt đầu hạn chế, không phải con cháu hoặc anh em ruột thì phần lớn đều không được chấp thuận.
[20] Ngày Ất Mùi, ban chiếu cho Kiến châu hàng năm tiến cống trà Long Phụng[27]. Trước đây, những người phu nghiền trà đều phải cạo sạch râu tóc, từ nay chỉ cần đội khăn, rửa sạch tay, và được cấp quần áo mới sạch sẽ. Nếu kẻ lại nào dám vi phạm sẽ bị xét tội[28].
[21] Tháng 10 mùa đông, ngày Kỷ Mùi, ban chiếu đặt tên cho xưởng đúc tiền mới ở Trì châu là Vĩnh Phong giám. Trước đây, Nhiêu châu có Vĩnh Bình giám, nhưng thợ và binh lính quá đông mà nguyên liệu đồng thiếc không đủ. Tri châu Mã Lượng xin chia một nửa thợ, lập thêm giám ở Trì châu. Triều đình đồng ý. Từ đó, mỗi năm tăng thêm hàng chục vạn quan tiền đúc mới.
Mã Lượng, người Hợp Phì. Ban đầu ông giữ chức Thông phán ở Thường châu, quan lại và dân chúng vì nhiều lý do mà mất tiền công, tịch thu tài sản của họ vẫn không đủ bồi thường, vợ con bị liên lụy đến hàng trăm người. Lượng tha cho họ ra về, hẹn thời hạn trả nợ, chưa đầy một tháng, họ đã nộp đủ số tiền nợ. La Xử Ước đi sứ Giang Đông, nghe tiếng về việc trị nhậm của Lượng, tiến cử ông làm Tri châu Bộc châu. Sau đó, Tô Dịch Giản tiến cử tài năng của ông có thể đảm nhiệm những việc phức tạp, từ Phúc châu được triệu về kinh, cùng giữ chức Đồng đề điểm ở Tam ty đô câu viện và Ma khám bằng do ty. Một thời gian sau, ông được bổ làm Tri châu Nhiêu châu. Ở châu có kẻ hào cường họ Bạch nắm được chỗ yếu của quan lại, từng giết người nhưng được miễn tội do ân xá, càng thêm ngạo mạn hung hãn, làm hại dân làng. Lượng phát giác tội ác của hắn, xử tử, trong châu đều khiếp sợ phục tùng.
(Việc Mã Lượng ở Thường châu, Phúc châu không rõ thời gian, nhân việc đúc tiền mà ghi chép thêm.)
[22] Ngày Giáp Tý, hợp nhất ba ty câu viện làm một, giao cho Công bộ viên ngoại lang Lưu Thức chuyên trách. Vua trực tiếp ra lệnh cho Thức rằng: “Khanh một người mà đảm nhận chức vụ của ba người, nên cố gắng hết sức, đáp ứng kỳ vọng của Trẫm.”
Thức từ lâu làm việc ở ty kế, đã nghiên cứu sâu về những tệ nạn trong sổ sách, khoản thuế ngang trái ở vùng Giang, Hoài tích tụ từ lâu, nợ thuế rất nhiều, ông tâu xin miễn giảm, người dân cho là thuận tiện. Tuy nhiên, ông tâu trình nhiều điều, việc kiểm soát quá nghiêm khắc[29], cuối cùng bị thuộc hạ tố cáo, bị miễn chức.
(Theo ‘Lưu Thức gia truyền’ ghi lại[30]: Lý Duy Thanh làm Diêm thiết sứ, con rể của ông ta đã lấy cắp số tiền công đến mấy chục vạn, các lại sợ Duy Thanh nên không dám tố cáo. Thức phát giác và tố cáo việc này[31], Duy Thanh bị cách chức, từ đó ôm hận; còn những lại sự tham lam, gian xảo ở tam ty sống bằng cách lừa đảo, ghét Thức cấm đoán việc làm của họ, cũng đều oán hận, thường rình rập, muốn cùng hãm hại ông. Thái Tông biết rõ tình hình, mỗi lần ngồi triều, thường đối diện với mọi người khen tài năng của ông, nên những lời gièm pha không thể xâm nhập. Khi Thái Tông băng hà, Chân Tông để tang, các lại tố cáo ông, nhưng xét thấy đều là vu khống, bị phạt ngược, Duy Thanh càng thêm tức giận. Thức đã minh oán, liền ra làm việc như bình thường, Duy Thanh bèn xúi giục lại sự tố cáo ông không đợi chiếu chỉ mà vào triều, nên bị miễn chức. ‘Gia truyền’ và ‘Bản truyền’ có chỗ khác nhau, việc tố cáo con rể của Duy Thanh có lẽ không phải như vậy, đã được minh oán rồi, còn việc miễn chức cần xem xét thêm.)
[23] Tháng 11, ngày mùng một Đinh Mão, quan chính đông quan ty thiên Dương Văn Dật[32] dâng tấu, xin thêm 20 năm ngoài 60 năm Giáp Tý trong lịch mới[33]. Việc được đưa xuống quan hữu ty xử lý, quan phán ty thiên giám Miêu Thủ Tín cùng các quan bàn luận, cho rằng không có cơ sở để tra cứu, không thể thi hành. Vua nói: “Can chi nối tiếp tuy chỉ có 60, nhưng nếu tính hai vòng Giáp Tý, tạo thành con số trường thọ, người sống đến tuổi kỳ diệc được thấy năm sinh của mình, chẳng phải là điều tốt sao!” Bèn hạ chiếu cho hữu ty, lấy 120 năm Giáp Tý làm giới hạn cho lịch mới.
[24] Trước đó, Chuyển vận sứ Hà Đông là Sách Tương, sai Lục sự tham quân Hiến Châu là Hồ Tắc ở Vĩnh Khang điều phối lương thảo, tính toán trong một tháng. Tắc nói: “Chuẩn bị cho trăm ngày còn sợ không đủ, huống chi chỉ tính một tháng?” Tương sai Tắc vào kinh tâu việc này, Vua nhân đó hỏi về kế sách biên cương, Tắc đối đáp hợp ý, Vua quay sang tả hữu nói: “Châu huyện nào thiếu người tài!” Bèn lệnh ghi tên Tắc vào Trung thư. Khi Lý Kế Long đi đánh giặc, quân lính lâu ngày chưa giải ngũ, Tương nói: “Nếu không có ngươi, hầu như hỏng việc của ta.” Kế Long lại gửi văn thư hỏi: “Quân sắp tiến sâu, lương thảo có tiếp tục được không?” Tắc bảo Tương: “Quân địch mệt mỏi muốn về thôi, chỉ cần báo rằng ta đã có chuẩn bị là được.” Quả nhiên như vậy.
[25] Trước đây, trong 18 châu quân ở Hoài Nam, cấm muối ở 9 châu, còn lại thì không. Thương nhân từ biển buôn muối, quan phủ thu thuế gấp đôi; đến vùng cấm, giá cả lên xuống thất thường. Dân thấy muối buôn rẻ nên người bán càng đông, thậm chí có kẻ mang vũ khí đi lại thành giặc. Phát vận sứ Dương Doãn Cung cho rằng luật pháp cần thống nhất, bèn tâu xin cấm hoàn toàn, đồng thời cử quan lại chủ trì việc này. Việc đưa xuống Tam ty, Tam ty nói không nên. Doãn Cung kiên quyết xin, ngày Giáp Ngọ, Vua xuống chiếu đồng ý. Doãn Cung lại xin cho thương nhân nộp kim bạch ở Kinh sư và Dương châu chiết bác vụ[34], đều được đổi lấy trà. Từ đó, muối bán được tiền thật, trà không tồn đọng, thuế hàng năm tăng hơn 50 vạn 8 nghìn quan.
[26] Lễ bộ thị lang Tô Dịch Giản tính thích rượu, lúc mới vào Hàn lâm, ngày tạ ơn đã uống say khướt, sau đó càng đắm chìm không dứt. Vua gặp riêng, khuyên răn sâu sắc, Dịch Giản rơi nước mắt lạy tạ. Hôm sau, lại dâng biểu tạ ơn, Vua tự tay phê đáp để khích lệ[35], lại viết hai bài thơ khuyên rượu và cấm rượu ban cho Dịch Giản, bảo đọc cho mẹ nghe. Từ đó, mỗi khi vào chầu, không dám uống. Những lúc nghỉ ở nhà, khách đến thăm thì đã say rồi. Tháng 12, ngày Ất Tỵ, Dịch Giản mất, Vua nói: “Dịch Giản vì rượu mà hỏng, thật đáng tiếc.”
[27] Ngày Tân Hợi, quan chức tâu Phượng châu có mỏ đồng, Định châu có mỏ bạc, xin đặt quan phụ trách. Vua nói: “Đất không giấu của, nên cho dân chúng cùng hưởng.” Không cho phép.
[28] Theo lệ cũ, Tri chế cáo lấy người vào trước đứng trên, không theo thứ tự chức quan. Ngày Đinh Tỵ, lần đầu ra lệnh cho Công bộ lang trung Hồ Đán đứng trên Từ bộ lang trung Phùng Khởi, đây là việc chưa từng có.
[29] Ngày Mậu Ngọ, Vua ban chiếu: “Từ nay trở đi, các quan châu huyện mà bộ hạ có lưu dân hoặc thiếu sót việc thu thuế từ một phần mười trở lên, đều ghi vào kết quả xếp loại kém. Lệnh cho dân gian, các loại vải lụa dệt không bán ra chợ thì không phải nộp thuế.”
[30] Năm này được mùa lớn, số hộ trong thiên hạ là 3.574.257[36].
- 'Húc chỉ nhận một nửa': chữ 'Húc' vốn thiếu, theo bản Tống và 'Thái Tông Thực lục' quyển 78 bổ sung ↵
- Các bản khác và ‘Trưởng biên kỷ sự bản mạt’ quyển 11, trong bàn luận về việc khẩn hoang của Trần Tĩnh, cũng ghi tương tự. Xét các bản Tống, ‘Tống toát yếu’ cùng ‘Tống sử’ quyển 173, ‘Thực hóa chí’, và ‘Thông khảo’ quyển 4, ‘Điền phú khảo’, đều không có hai chữ 'kỳ dư'. Xét theo nghĩa văn dưới, có lẽ nên theo bản Tống. ↵
- 'Hai ba châu' ở đây, ‘Biên niên cương mục’ quyển 5, ‘Tấu nghị’ quyển 110, phần về vụ nông, và ‘Thông khảo’ đều ghi là 'ba, hai mươi châu'; ‘Tống sử’ ghi là 'hai mươi ba châu'; ‘Tục thông giám’ quyển 19 lại ghi 'hai, ba mươi châu'. Xét câu dưới viết 'phạm vi mấy nghìn dặm', thì chỗ này thiếu chữ 'mười'. ↵
- 'Ruộng đất khai khẩn được' nguyên bản viết là 'đất đai khai khẩn', theo bản Tống và ‘Biên niên cương mục’, ‘Tống sử’, ‘Thông khảo’, ‘Trưởng biên kỷ sự bản mạt’ mà sửa lại. ↵
- 'Giặc cướp giết người không đâu là không đến' nguyên bản viết 'không đâu là không làm', lẫn với câu trên mà sai, theo ‘Trưởng biên kỷ sự bản mạt’ và ‘Tấu nghị’ quyển 110, phần về vụ nông mà sửa lại. ↵
- 'Có tầm nhìn sâu rộng' nguyên bản thiếu chữ 'giả', theo văn lệ câu dưới và ‘Thông khảo’ quyển 4, ‘Điền phú khảo’ mà bổ sung. ↵
- Câu 'dĩ kì thành số quan bạch hộ bộ' nguyên bản viết 'thành kì', căn cứ theo Tống bản, Tống toát yếu bản, các bản khác và sách 'Biên niên cương mục' quyển 5, 'Tống sử' quyển 173 chí về thực hoá đã sửa lại. ↵
- 'Chế độ ruộng đất' nguyên bản viết 'Tiện nhân', căn cứ vào bản Tống, Tống toát yếu và các sách Biên niên cương mục, Thông khảo sửa lại. ↵
- 'Đến hai mươi đinh, ba mươi đinh lấy mười đinh làm giới hạn' nguyên bản thiếu 'lấy mười đinh', nghĩa khó hiểu, căn cứ vào Tống sử quyển 173, Thực hóa chí bổ sung. ↵
- 'Mong phê cho thần dẫn năm ba quan lại' nguyên bản thiếu 'ba', căn cứ vào Biên niên cương mục quyển 5, Trường biên kỷ sự bản mạt quyển 11, Thông khảo quyển 4, Điền phú khảo bổ sung. ↵
- Quảng châu tả thông phán tả chánh ngôn Phùng Chửng chuyển Ngu bộ viên ngoại lang (Nguyên văn 'Quảng châu' viết là 'Quảng xuyên', căn cứ theo Tống bản, Tống toát yếu bản, Các bản sửa lại) ↵
- Trát tử là văn bản nhỏ của Trung thư (Nguyên văn 'khiển' viết là 'Biên', căn cứ theo Tống bản, Tống toát yếu bản và Trường biên kỷ sự bản mạt quyển 10 sửa lại) ↵
- Từ nay, việc lớn (Nguyên văn 'sự' viết là 'thần', căn cứ theo Tống toát yếu bản và Trường biên kỷ sự bản mạt sửa lại) ↵
- 'sau khi đến' nguyên văn là 'tức', theo bản Tống và 'Tống sử' quyển 285, 'Phùng Chửng truyện' sửa lại. ↵
- 'giáng' nguyên văn là 'xuất', theo bản Tống, 'Tống toát yếu' và 'Tống hội yếu' chức quan 64/8-9, cùng 'Tống sử' quyển 285, bản truyện sửa lại. ↵
- 'hơn' nguyên văn là 'trước', theo bản Tống và 'Tống toát yếu' sửa lại. ↵
- 'có năng lực' nguyên văn thiếu chữ 'có', theo bản Tống và 'Thái Tông Thực lục' quyển 78, 'Tống hội yếu' tuyển cử 27/7 bổ sung. ↵
- 'Triều thần' nguyên bản là 'triều đình', theo bản Tống và Tống toát yếu sửa lại. ↵
- Không thể bãi bỏ: Chữ 'trừ' vốn thiếu, theo sách trên và 'Tống sử' quyển 267, 'Trần Thứ truyện' bổ sung. ↵
- Chữ 'đáo' nguyên là 'san', theo bản Tống và 'Tống sử' sửa. ↵
- Vị Mộ quân chủ, nguyên bản chép là 'Xa chủ', theo Tống bản và 'Thái Tông Thực lục' quyển 79, 'Tống hội yếu' binh 8-19 và 14-14 sửa lại. ↵
- 'Lân châu' nguyên bản viết 'Phu châu', theo Tống bản, Tống Toát Yếu và Thái Tông Thực lục quyển 79, Tống Hội Yếu – Binh 8.19, Tống Sử Toàn Văn quyển 4 hạ, Tống Sử quyển 484 – Hạ Quốc Truyện mà sửa lại ↵
- 'Tục lệ của người phiên di' trong Tống bản và Tống Toát Yếu đều viết là 'họ của người phiên di' ↵
- Nếu từ Hoàn Châu tiến thẳng tới sào huyệt giặc, sách trên đều ghi là 'Nếu từ Hoàn Châu đi theo đường lạc đà'. ↵
- Đường Xích Trung xa vòng vèo và thiếu nước, 'hồi viễn' nguyên bản viết là 'tứ biên', căn cứ vào bản Tống và 'Thái Tông Thực lục' quyển 79, 'Tống hội yếu' binh 8.19 mà sửa. ↵
- Quân sĩ mệt mỏi, chữ 'sĩ' nguyên bản khuyết, căn cứ vào 'Tống hội yếu' binh 8.19, 'Biên niên cương mục' quyển 5 mà bổ sung. ↵
- Chiếu Kiến châu tuế cống Long Phụng trà: 'Kiến châu' nguyên bản viết là 'Diên châu', dựa theo Tống bản sửa lại. Xét Diên châu thời Tống không phải nơi sản xuất trà, trong 'Tống hội yếu' quyển 30, phần 2 ghi là Kiến châu, và quyển 29, phần 1 cũng ghi rằng trà Long Phụng chỉ dùng để tiến cống, thuộc loại trà Kiến. Tống bản là chính xác. ↵
- 'Kẻ lại dám vi phạm sẽ bị xét tội': chữ 'lại' nguyên bản viết là 'canh', dựa theo 'Thái tông Thực lục' quyển 79 và 'Tống hội yếu' quyển 30, phần 2 sửa lại. ↵
- 'Kiểm hiệu' nguyên văn là 'chước bác', dựa theo bản Tống và 'Tống sử' quyển 267, 'Lưu Thức truyền' sửa lại. ↵
- 'Án' nguyên văn là 'Cứ', dựa theo bản Tống và 'Tống toát yếu' sửa lại. ↵
- Chữ 'cử' trong 'Thức phát cử kì sự' ban đầu bị thiếu, dựa theo sách trên và văn dưới bổ sung. ↵
- Dương Văn Dật, nguyên bản ghi là 'Dương Văn Giám', trong quyển 41 sách này, vào tháng 7 mùa thu năm Chí Đạo thứ 3, ngày Bính Dần, bản tấu sớ của Điền Tích lại ghi là 'Dương Văn Mật'. Tra lại Tống bản và Ngọc Hải quyển 10, mục 'Chí Đạo vương Duệ hiến tân lịch'; sách 'Xuân minh thoái triều lục' của Tống Mẫn Cầu (sau đây gọi là Xuân minh thoái triều lục) quyển hạ; cùng 'Tống sử' quyển 70, phần 'Luật lịch chí', đều ghi là 'Dương Văn Dật'. Dương Văn Dật không có truyện trong 'Tống sử'. Nay để thống nhất trước sau, căn cứ sửa lại là Dương Văn Dật. Sau đây cùng. ↵
- 'Thêm 20 năm', 'Tống hội yếu' phần 'Vận lịch' quyển 1, mục 6 cũng ghi như vậy. Nhưng dẫn theo Ngọc Hải lại ghi là '60 năm'. ↵
- Chữ 'chiết' nguyên văn thiếu, theo Tống bản, Tống toát yếu bản và Tống sử toàn văn quyển 4 hạ bổ sung. ↵
- Chữ 'lệ' nguyên văn thiếu, theo Tống bản, Tống toát yếu bản và 'Trị tích thống loại' quyển 3 Thái Tông thánh chính bổ sung. ↵
- Số hộ trong thiên hạ là 3.574.257. Theo quyển 79 của 'Thái Tông Thực Lục', con số này ghi là 4.574.257. Xét theo 'Tống Hội Yếu', phần Thực Hóa 11-26: Năm Khai Bảo thứ 9 triều Thái Tổ, số hộ chủ khách trong thiên hạ là 3.090.504; đến năm Chí Đạo thứ 3 triều Thái Tông, số hộ chủ khách là 4.132.576. 'Tống Sử', quyển 85, phần Địa Lý Chí cũng chép: Cuối năm Chí Đạo, số hộ chủ khách là 4.132.576, giống với ghi chép trong 'Tống Hội Yếu'. Nghi ngờ rằng trong sách này chữ 'ba' nên sửa thành 'bốn'. ↵