"

III. TỐNG CHÂN TÔNG

QUYỂN 44: NĂM HÀM BÌNH THỨ 2 (KỶ HỢI, 999)

Từ tháng giêng đến tháng sáu năm đó.

[1] Mùa xuân, tháng giêng, ngày Giáp Tí, ra chiếu cho Thừa lang, Cấp xá cử mỗi người một viên quan triều đình có thể giữ chức Đại châu, hạn trong một tháng phải báo tên lên. Sau khi qua ba nhiệm kỳ mà có chính tích, sẽ bàn việc khen thưởng người tiến cử. Nếu người được cử phạm tội tham nhũng, người tiến cử cũng bị liên đới.

[2] Ngày Ất Sửu, lệnh Lễ bộ Thượng thư Ôn Trọng Thư làm Tri cống cử, Ngự sử Trung thừa Trương Vịnh, Hình bộ Lang trung Tri chế cáo Sư Cang cùng làm Đồng tri cống cử, Hình bộ Viên ngoại lang Đổng Quy Ngọc, Thái thường tự Bác sĩ Vương Thiệp cùng làm Khảo thí và phong ấn đầu quyển thi, đều vào viện ngay trong ngày. Việc phong ấn đầu quyển thi tại Lễ bộ Cống viện bắt đầu từ đây.

[3] Ngày Giáp Tuất, Xu mật trực học sĩ, Lễ bộ Thị lang Dương Huy Chi vì già yếu xin từ chức, được thụ chức Binh bộ Thị lang, vẫn kiêm thêm chức Bí thư giám như trước. Khi vào tạ ơn, ông được Vua cho ngồi ở điện nhỏ, đuổi tả hữu ra, ân cần hỏi han lâu, và nói: “Trong phủ có sách vở, lại thanh tịnh không việc, có thể dưỡng tâm tính.” Huy Chi là người thuần hậu, thanh liêm, giữ quy củ, coi trọng danh giáo, đặc biệt ghét những kẻ dùng thủ đoạn phi chính đạo để thăng tiến. Từ khi làm Lang quan, Ngự sử, triều đình đã coi ông là bậc cựu đức. Ông từng nói: “Ôn Trọng Thư, Khấu Chuẩn dùng thủ đoạn đấu đá để lên cao, khiến hậu bối tranh giành nhau, lễ tục ngày càng suy đồi.” Người đời cho rằng ông biết nói đúng, nhưng cũng vì thế mà ít hòa hợp với thế gian.

[4] Tháng hai, ngày Ất Dậu (mùng một), ban cho gia đình cố Chương Tín Tiết độ sứ Chu Vị 10 vạn tiền, cho con trai ông là Thái miếu Trai lang Kiến Trung làm Chủ bạ huyện Thừa Thị, lệnh sau 100 ngày phải nhận chức. Vua cho rằng Chu Vị có tiết tháo thanh liêm, triệu về định dùng lại, nhưng chiếu vừa ban thì ông đã mất, nên đặc cách ưu đãi.

[5] Ngày Bính Thân, tấn phong Thái sư, truy tặng Thượng thư lệnh, Hàn vương Trung Hiến công Triệu Phổ được phối thờ tại Thái Tổ miếu đình.

[6] Ngày Tân Sửu, Thái thường thừa, kiêm Phán tam ty Thôi khiếm ty Vương Khâm Nhược, dâng biểu tâu rằng từ khi Vua lên ngôi đến nay, đã tha cho thiên hạ số tiền nợ hơn một triệu, và thả hơn ba nghìn tù nhân. (Sách ‘Thực lục’, ‘Bản kỷ’ và ‘Thực hóa chí’ đều ghi là thả hơn ba mươi vạn tù nhân[1], sợ con số này quá lớn, nên theo bản truyện của Khâm Nhược). Ông xin ghi vào sử quán. Vua nói với các cận thần rằng: “Việc này Tiên đế vốn muốn làm, Trẫm chỉ kế thừa chí nguyện mà thôi[2].” Liền sai Học sĩ viện triệu Khâm Nhược đến thi.

Khi xem bài thi, Vua nói với các phụ thần: “Khâm Nhược không chỉ giỏi xử lý công việc, mà còn giàu có về văn từ. Hiện chức vụ Tây dịch đang khuyết, có thể đặc cách bổ nhiệm ông.” Liền phong ông làm Hữu chánh ngôn, Tri chế cáo.

[7] Ngày Kỷ Dậu, Vua nói với Tể tướng rằng: “Trẫm nghe nói trong triều có kẻ kết bè phái, kích động tiếng tốt giả để nhanh chóng tiến thân. Việc thiện ác của người, triều đình đều biết rõ, chỉ lo họ không tự tu thân mà thôi. Thói phù hoa ấy quả thật không nên để lan rộng.” Liền hạ chiếu cảnh cáo, giao cho Ngự sử đài xét xử.

[8] Tháng 3, ngày Giáp Dần, Bí thư giám Dương Huy Chi tiến cử Trứ tác tá lang, Thông phán Thái châu Thích Luân, người có học vấn thuần hậu và cẩn trọng, xứng đáng vào chức vụ Nho quán. Vua bèn bổ nhiệm Luân làm Bí các hiệu lý. Cha của Luân là Đồng Văn, ẩn cư dạy học, các học giả từ xa ngàn dặm tìm đến, người đỗ đạt trong khoa cử lên đến năm mươi sáu người. Huy Chi cùng môn nhân tôn hiệu Đồng Văn là Kiên Tố tiên sinh.

[9] Ngày Bính Thìn, Vua sai Độ chi lang trung Bùi Trang cùng các quan khác phân công đến Giang Nam, Lưỡng Chiết, mở kho lương phát chẩn cho dân đói và miễn thuế ruộng. Bùi Trang đi sứ về, tâu rằng các nơi Trì châu, Hưng Quốc quân có quan lại tốt, còn lại không đáng khen. Ông lại tâu: “Các tri châu, thông phán do triều đình bổ nhiệm đều dựa vào thâm niên mà trao chức, đến mức có kẻ thủ cựu, lười nhác, không có tài trị nước nhưng vẫn được giao việc gần dân. Những người có tài năng, có chính tích, lại vì việc công mà bị giáng chức, giao việc vặt. Chân giả không phân biệt được, may rủi càng sâu. Từ nay mong chọn người kỹ càng, không dựa vào thâm niên, người có chính tích thì ưu đãi thêm.”

[10] Ngày Quý Hợi, Vua ban chiếu: “Năm nay người thi cử nhân rất đông, nếu theo số lượng năm ngoái lấy người đỗ, e có kẻ bị bỏ sót, có thể tăng số tiến sĩ lên 70 người, các khoa khác tăng lên 180 người.” Bộ Lễ sau đó báo lên tên 250 người, trong đó 6 người thi một khoa bị loại, còn lại đều được ban cho đỗ đạt.

[11] Chuyển vận phó sứ kinh Tây, Thái thường bác sĩ, Trực sử quán Chu Đài Phù dâng tâu:

“Thần nghe ‘Man di quấy nhiễu Hạ’, sách xưa có chép, từ Thương, Chu về sau, nhiều lần gây hại ở biên cương. Người họ vô lễ nghĩa, bắt cũng vô dụng; đất họ nhiều phèn mặn, chiếm được cũng không ở được. Thánh vương biết vậy, hoặc bình định chinh phạt, không gây họa cùng cực, hoặc hòa thân kết hiếu, ý muốn giữ lòng tin. Các đời trước kinh lược, đó là sách hay. Đến Tần xây Trường thành mà dân chúng nổi loạn, Hán vượt sa mạc mà trong nước hao tổn, thỏa mãn nhất thời, để cười cho muôn đời, đó là bài học không xa.

Gần đây nhà Tấn suy yếu, Trung Nguyên loạn lạc, tính dân Mọi thêm kiêu căng, nỗi lo biên cương rất bức thiết. Thái Tổ thấm nhuần bài học xưa, chọn lấy đạo lý tối cao, để dân nghỉ ngơi, sai sứ qua lại. Hai mươi năm qua, hiếm nghe xâm lấn. Giảm bớt quân trấn biên, không phát động binh vượt ải. Cửa ải yên ổn, kho đụn đầy ắp, thật là kế trị nước hay vậy.

U, Kế vốn là đất đai của nước ta, nhưng vẫn cách biệt bởi sông Hỗn Đồng, cần phải mở mang. Sau khi Thái tông bình định nước Tấn, nhân thế binh lực, định chiếm lấy. Tuy con người cùng bàn mưu, nhưng trời chưa yên loạn, như con bọ ngựa chống xe, nên bị trừng phạt. Lại dấy binh điếu phạt, rồi lại sa vào cuộc chiến kéo dài. Từ đó về sau, quân thù mạnh mẽ tàn phá, cướp bóc dân biên giới, đánh chiếm thành trại, tiến sâu vào đất ta, không thể ngăn cản. Lúc bấy giờ, lấy sông [Hoàng Hà] làm biên giới, mà vùng Triệu, Ngụy gần như không còn thuộc về quốc gia. Vì bị ngăn trở giao hảo, nên phải phòng bị, tập trung binh mã, tăng thêm tướng soái, chuyển lương thảo, vận vàng bạc, cấp phát ban thưởng, nhiều không kể xiết. Từ đó, lương thực và vật dụng của quốc gia đều hao tổn nơi vùng Hà Sóc.

Bệ hạ tự trời nhận mệnh, cùng vạn vật đổi mới, ban cho Kế Thiên tiết việt, phong tước Vương cho Lê Hoàn, đều sai sứ giả đến trấn an nước họ. Duy chỉ Khiết Đan chưa được hưởng ân huệ, đây không phải là cách để vỗ về kẻ xa, răn dạy người gần, cũng không làm sáng tỏ đạo Vương không thiên vị[3]. Nay tang chế đã kết thúc, sắp hết kỳ tế tường, trong ngoài đều ngóng chờ nghe lời đức âm. Thần ngu nghĩ rằng nên nhân dịp này tha tội cho Khiết Đan, chọn người có tài văn võ, thông thuộc biên cảnh, giỏi biện thuyết, làm một sứ giả[4], nhân dịp thiên tử vừa chấm dứt tang chế, lẽ nên giao hảo với nước láng giềng, đi báo cáo và thuyết phục họ.

Bọn họ trong mười năm qua không xâm phạm biên giới, theo thần suy đoán, là do sức không đủ, nhưng lòng đã muốn quay về, chỉ chưa gặp thời cơ. Nay nếu thực lòng ban ơn trời, tạo điều kiện để họ đến cống nạp, chắc họ vui mừng hướng về nghĩa, sai sứ sang triều cống, nhân đó mà xóa bỏ mọi hiềm khích trước đây[5], khôi phục lại minh ước cũ, lấy lợi ích hóa tài, cho phép mua bán tại cửa ải, như thời Thái Tổ, lấy ân nghĩa kết thân, chắc họ sẽ nhớ ơn[6]. Hai nước đã hòa hiếu, thì sẽ không còn lo lắng phía Bắc, có thể dồn sức lo việc biên thùy phía Tây, Kế Thiên ắt tự sửa lòng mà quy thuận. Đó chính là một mũi tên trúng hai đích.

Phía tây bắc yên ổn, sau đó có thể bàn việc giảm bớt binh lính phòng thủ biên giới. Binh lính biên giới giảm, chi phí sẽ tiết kiệm; chi phí tiết kiệm, thuế má sẽ nhẹ nhàng hơn; thuế má nhẹ nhàng, dân chúng sẽ an ổn; dân chúng an ổn, chính sự giáo hóa sẽ thành tựu. Nguyên nhân gốc rễ không gì khác, chính là ở việc yên biên, chấm dứt binh đao mà thôi. Nếu kẻ thù vẫn tiếp tục gây ác, đầy tội mà không chịu sửa đổi, thì họ chỉ có hai lựa chọn: hoặc khi sứ giả hoàng gia đến biên giới, họ từ chối không tiếp nhận; hoặc họ giữ lại sứ giả của ta, không cho trở về báo mệnh. Dù vậy, việc này cũng chưa đến mức làm mất đại thể, tổn hại uy nghiêm, hay tỏ ra yếu thế trước kẻ địch, làm nhục quốc gia. Nhưng việc phản bội nghĩa khí, phá vỡ hòa ước, lỗi hoàn toàn thuộc về họ.

Lại nữa, nếu thiên hạ biết rằng Bệ hạ vì dân chúng mà ngày ngày đổi mới chính sách, hạ mình với tôn quý của vạn thặng để mưu cầu trường cửu, thì họ sẽ càng quy phục và cảm ân ân đức của Bệ hạ. Thánh đức cao vời, cùng trời đất vô cùng, trăm họ sẽ càng quy tâm và nhớ ơn, việc này có gì làm tổn hại đến sự sáng suốt? Nếu Bệ hạ muốn huấn luyện binh sĩ, đấu tranh quyết liệt với họ, thần không dám can ngăn. Nhưng nếu Bệ hạ muốn duy trì hòa hảo, cho dân yên ổn, để xã tắc vững bền, mà không nhân cơ hội này hành động, e rằng sau này sẽ hối hận, không còn lý do khởi xướng.

Xưa Dương Hùng từng nói: “Phương bắc[7] là nơi mà Ngũ Đế không thể bắt quy phục, Tam Vương không thể chinh phục, nên họ không chịu khuất phục, Trung Quốc chưa thể ngủ yên.” Vì sao? Họ tính cách hung hãn, thân hình cường tráng, sức mạnh khó khuất phục, hòa hảo khó đạt được, thật là đối thủ mạnh của Trung Quốc. Huống chi, như cây dâu bám chắc gốc, an ổn nhưng không quên nguy hiểm, nhà binh thắng lợi quý ở chỗ không cần đánh. Ngày nay, nối tiếp chính trị văn trị, mong cầu thái bình, noi theo Nghiêu, Thuấn vô vi mà trị, thể hiện Vũ, Thang tự trách mình, yêu sự sống ghét sát sinh, chú trọng đức hóa kẻ ngoan cố. Nếu có việc mất đi một mảy may để lợi ích thiên hạ, thì há chẳng nên nghĩ cách ứng biến, mà lại tranh hơn kém về lễ nghĩa với kẻ vô tri, so sức mạnh hay sao?

Xưa, vào thời Cao Hậu nhà Tây Hán, Triệu Đà tự xưng là Nam Việt Vũ Đế, phát binh đánh các ấp biên giới Trường Sa, dùng xe hoàng ốc, xưng chế độ, ngang hàng với Trung Quốc. Đến khi Hiếu Văn Đế lên ngôi, trước tiên sai Lục Giả đem thư dụ hàng, Triệu Đà liền cúi đầu xin làm phiên thần, dâng cống phẩm. Hán Văn Đế là bậc Thiên tử tôn quý, Triệu Đà chỉ là Vua của nước nhỏ, sở dĩ như vậy là vì lo cho sự khổ cực của Trung Quốc và muốn chấm dứt chiến tranh. Nay sức mạnh của Khiết Đan hơn hẳn Nam Việt, uy thánh của Bệ hạ vượt xa Hán Văn Đế, nếu noi theo chuyện xưa mà làm, sự việc đâu có xa lạ? Đây thực là kế lớn của triều đình, không thể xem thường.”

Đài Phù lại tự xin đi sứ phương Bắc, được người đương thời khen ngợi.

(Bản truyền ghi năm Hàm Bình đầu Khiết Đan gây hấn, sách ‘Kinh Vũ Thánh Lược’ ghi Khiết Đan xâm phạm biên giới. Xét năm đầu Khiết Đan chưa động binh, xem tờ sớ của Đài Phù có thể biết. Sớ viết đã qua thời để tang, sắp hết thời tường đạm, thì lúc Đài Phù dâng sớ là mùa xuân năm thứ hai. Nay phụ vào cuối tháng ba.)

[12] Tháng ba nhuận, ngày Bính Tuất, Thừa tướng Trương Tề Hiền tâu: “Tiết xuân đã muộn, mưa móc chưa xuống, đó là do thần giúp việc không hiệu quả, xin bị khiển trách để đỡ lỗi với thiên hạ.” Vua nói: “Trẫm được kế thừa cơ nghiệp, nhờ các khanh phò tá, lo việc chính sự có thiếu sót, nên cùng nhau lấy đạo mà răn dạy, đừng ngại nói thẳng.”

[13] Thuở đầu, Tần Điệu Vương được táng tạm ở Phù Lăng, bèn có chiếu chọn đất giữa Nhữ, Đặng để cải táng.

[14] Hoàng Thái hậu ở cung Tây tại điện Gia Khánh, ngày Kỷ Sửu, Thừa tướng dẫn chuyện Hán, Đường xưa, dâng tên cung là Vạn An, được chấp thuận.

[15] Ngày Canh Dần, có chiếu bải các việc lao dịch vô danh, xây cất không gấp.

(Sách ‘Thực lục’ ghi ngày Kỷ Sửu, nay theo bản kỷ.)

[16] Thừa tướng Trương Tề Hiền tâu: “Thần được Bệ hạ ban ơn phi thường, nên lấy điều phi thường để báo đáp.” Nhân đó bàn về thuyết vương đế bá, Vua nói: “Trẫm cho rằng đạo vương không có hình tích, chỉ cần trăm việc không rối, là gần được vậy.’”

[17] Vì hạn hán kéo dài, Vua ban chiếu khắp trong ngoài, kêu gọi bề tôi và dân chúng thẳng thắn can gián. Chiếu thư đại ý viết: “Trẫm nhiều lần ban chiếu, mở rộng đường ngôn luận, nhưng phần lớn lời nói rườm rà, không đáp ứng được yêu cầu tham vấn. Mong nhận được lời ngay thẳng để ứng đáp cảnh báo của trời. Người nói hay ắt được khen thưởng, kẻ nói không phải cũng sẽ được bao dung. Chớ dùng lời hoa mỹ, lại bàn chuyện tầm thường.” Khi ấy, có người dâng thư chỉ trích những sai sót của Trung thư, xin cách chức. Vua xem xong không vui, bảo Thừa tướng rằng: “Những kẻ này đều không tốt, chỉ muốn tiến thân, nên trách phạt để răn đe.” Lý Hãng tâu: “Triều đình mở rộng ngôn luận, nếu lời nói hợp lý, nên khen thưởng, nếu không thì lưu lại cũng được. Huống chi bọn thần không tài cán, giữ chức đại thần, nếu bị cách chức, ấy là người nói việc đã có công với triều đình.” Vua nói: “Khanh quả là bậc trưởng giả vậy.”

(Sách ‘Bảo huấn’ ghi sự việc này vào năm Hàm Bình thứ hai, nay phụ lục ở đây.)

[18] Lấy Hà Bắc chuyển vận sứ, Hữu gián nghị đại phu Tác Tương làm Hộ bộ sứ. Khi Tương ở Hà Bắc, các quận thuộc có người nấu rượu, hàng năm nộp thuế rất ít, nhưng những kẻ bất lương thường tụ tập uống rượu để làm việc gian trá và trộm cắp, Tương tâu xin bãi bỏ. Ở Đức Châu trước đây thường bắt dân cung cấp ngựa để phục vụ cho việc chuyển phát, lại bắt dân làm việc chạy bộ, Tương đã bãi bỏ việc này, thay vào đó dùng binh lính thay thế. Gặp lúc Nội điện sùng ban Lâm Hoán Diêm Nhật Tân dâng lời đề nghị, xin lập trường bán trà ở hai quân Tĩnh Nhung và Uy Lỗ, thu lợi để cung cấp cho quân đội. Tương tâu rằng: “Nếu làm như vậy thì sẽ cướp lợi của dân. Thần e rằng các thương nhân ở chợ thuế sẽ từ đó rút lui, rất không tiện.” Lời tâu được chấp thuận.

Lại có người đề nghị cho phép thương nhân ở chợ thuế dùng trà, thuốc,… tự do buôn bán với Bắc giới, lại chiêu mộ thương nhân Bắc giới ở Hùng Châu, Bá Châu để giao dịch, người phương Bắc đã thu được lợi lớn thì biên giới có thể yên ổn. Chiếu Tương bàn kỹ rồi tâu lên. Tương nói: “Biên giới phía Bắc từ khi mở chợ thuế, thương nhân tụ tập đông đúc[8], việc kiểm soát rất hợp lý. Nay nếu cho phép họ buôn bán qua lại, thương nhân vùng biên giới sẽ tiến sâu vào Bắc giới, thần cho rằng không tiện. Lại nếu thương nhân Bắc giới đến Hùng, Bá, trong số đó có thể lẫn lộn những kẻ gian trá, làm sao phân biệt được? Huống chi dân biên giới dễ dao động khó ổn định, đối với tình hình người phiên nên có sự kiểm soát đáng tin, mong vẫn giữ nguyên như cũ cho tiện.”

Gặp lúc có chiếu sai khảo sát và tu sửa lại hai huyện Tân Lạc, Bồ Âm thuộc Định Châu[9], Tương cho rằng đất đai nơi đó nhỏ hẹp, không phải nơi đóng quân, bèn tâu xin bãi bỏ.

Tuy chất phác, ít văn chương, nhưng Tương giỏi về công việc quan lại, từng trải qua nhiều chức vụ ở biên cương, đến đâu cũng lo tích trữ lương thực để chuẩn bị phòng bị, lại thường xuyên lui tới quân ngũ, tiếng tăm về tài năng rất nổi. Trước đây, việc vận chuyển trà từ kinh đô đến các trường tụng phí nhiều công sức, lại hao tổn nhiều, Tương đề nghị cho phép thương nhân vận chuyển trà dọc sông đến các quận biên giới để nhập kho[10], vừa tránh được hao tổn trên đường đi, lại có lợi về thuế má.

Lại nữa, quân Uy Lỗ và Tĩnh Nhung hàng năm đốt cỏ ở biên giới để ngăn chặn việc chăn thả từ phía nam[11]. Người bàn việc lại đề nghị mở lò luyện bạc ở chân núi phía bắc trại, Tương cho rằng việc này có thể gây họa, bèn tâu xin bãi bỏ.

[19] Hạ lệnh cho Tam Quán sao chép hai bộ sách thuộc bốn loại để dâng lên, một bộ đặt ở Long Đồ các trong cấm thành, một bộ đặt ở Thái Thanh lâu trong hậu uyển, để tiện việc xem xét.

(Theo ‘Bản chí’, ‘Thực lục’ chỉ ghi sao chép một bộ đặt trong cấm thành, không nhắc đến Long Đồ các. ‘Đông Kinh ký’ ghi rằng Long Đồ các được xây dựng vào đầu niên hiệu Đại Trung Tường Phù, căn cứ vào đây thì từ đầu niên hiệu Hàm Bình, các này đã được xây dựng.)

[20] Kinh Tây chuyển vận phó sứ Chu Đài Phù dâng sớ nói:

“Thần nghe rằng Hoàng thiên không thiên vị, bậc Vương giả không vì riêng mình, trên dưới hợp nhất như bóng với hình, nếu chính sự của vương triều thiếu sót ở dưới thì thiên tai sẽ xuất hiện ở trên. Thầm nghĩ Bệ hạ nhận di mệnh của tiên đế, được trăm họ suy tôn, lòng hiếu thảo lớn lao được truyền đi khắp nơi, cẩn thận giữ gìn, mọi hành động đều tuân theo lễ pháp, không vượt quá khuôn phép xưa, lẽ ra phải được lòng trời, nhận điềm lành. Thế mà từ khi lên ngôi đến nay, trong vòng hai năm, sao chổi xuất hiện một lần, mưa thuận không đều hai lần, há chẳng phải là do lũ hung ác chưa hoàn toàn khuất phục, chính lệnh chưa hoàn toàn thuận lòng dân, nên trời mới cảnh cáo như vậy sao?

Khi tai biến xảy ra, ắt có điềm ứng, nên sao chổi xuất hiện là tượng của binh đao, mưa không đúng mùa là dấu hiệu ân trạch chưa lan tỏa. Nay phương Bắc chưa quy phục, phía Tây có Khương làm loạn, Kinh Man có giặc cướp ngang ngược, vùng Giang, Chiết nhiều dân đói khổ. Lo họ sẽ xâm phạm biên cương, biến thành giặc cướp, đám đông tụ tập như bầy ong kiến cần phải đánh dẹp, bọn trộm cắp cũng khiến việc bắt giữ vất vả. Đó là lý do sao chổi xuất hiện.

Từ khi lên ngôi, Vua ban ân xá, ngự triều xử lý chính sự, ban ơn tha tội, ban phát ân huệ cho vạn vật, nhưng chưa từng miễn giảm thuế còn sót, cho phép lợi dụng hàng hóa, tài nguyên biển cả núi rừng đều quy về triều đình, thuế rượu dồi dào không lưu thông xuống dưới, dân chúng chưa được hưởng trọn ân trạch. Đó là lý do mưa không đúng mùa. Bệ hạ nên suy xét kỹ lưỡng hai điều này, chuẩn bị phòng bị ngăn chặn, sửa đổi chính sự để dập tắt. Nếu không, sẽ có điều đáng lo. Thánh triều trị vì bốn mươi năm, cai quản đất đai rộng đến vạn dặm, kinh doanh không phải không lâu, thống trị không phải không nhiều, nhưng việc trị quốc có lúc chưa đạt, chính sự có lúc thiếu sót. Có lẽ chăng, pháp thuật và chế độ vẫn còn điều cần sửa đổi và cải cách? Thần tuy không tài giỏi, nhưng dám trình bày sự việc.

Thần nghe rằng: Nông nghiệp là gốc của quốc gia, lợi ích của nó là lúa thóc nhiều; binh lực là mệnh của quốc gia, công lao của nó là chiến thắng. Hai điều này liên quan đến sự tồn vong của quốc gia. Hiện nay, nỗi lo là nông dân ít mà lúa thóc không nhiều, binh lính nhiều mà chiến tranh chưa thắng. Nông dân ít thì ruộng đất chưa khai khẩn, binh lính nhiều thì chi phí thường thiếu hụt, vì thế dự trữ cạn kiệt, mà thuế má thì gấp gáp. Lợi ích của dân đều về tay quốc gia[12], ngân sách quốc gia đều dồn vào quân đội, vì thế dân chúng khốn khổ mà quốc gia nghèo đói. Theo chế độ của Chu Công, lương thực tích trữ đủ dùng trong chín năm, đó là lý do mà dân chúng thời Nghiêu, Thang không bị đói kém dù gặp hạn hán. Hiện nay, các quận quốc thiếu lương thực cho ba năm, dân nghèo không có đủ thức ăn trong năm, chỉ một mùa mất mùa thì đã có người chết đói, quân lương dự trữ còn chưa đủ tự dùng, lấy đâu ra để cứu giúp dân?

Thêm nữa, một vùng đất rộng trăm dặm, mỗi mẫu thu hoạch được một hộc thóc, tính ra cả năm được năm trăm bốn mươi vạn hộc, nhưng trong phạm vi Điện phục, một trăm vùng đất rộng trăm dặm, số lương thực thu được vẫn chưa đủ cung cấp cho quân đội, mà phải vất vả chuyển lương từ vùng Giang, Hoài, cả năm thu được cũng chỉ bằng sản lượng của một trăm dặm. Từ đó mà luận, có thể thấy rằng chính sách nông nghiệp chưa được tu sửa.

Thần ngu muội cho rằng nên giảm bớt lao dịch để giảm nhẹ sức dân, đuổi những kẻ lười biếng để tăng thêm số nông dân, nam chăm chỉ cày cấy, nữ hết sức nuôi tằm, trồng trọt phải thu hoạch, chăn nuôi phải kéo sợi, chỉ trong vài năm, tự nhiên gia đình nào cũng dư thừa lương thực, và người nào cũng có quần áo mặc. Giả Nghị từng nói: “Tích trữ là mệnh lớn của thiên hạ.” Nếu lúa thóc nhiều mà của cải dư thừa, thì việc gì chẳng thành? Dùng để tấn công thì chiếm được, dùng để phòng thủ thì vững chắc, dùng để chiến đấu thì thắng lợi, thu phục kẻ địch và kéo họ từ xa về, thì ai mà chẳng đến? Nay thúc giục dân chúng trở về nông nghiệp, ai cũng chuyên tâm vào gốc, để thiên hạ ai cũng tự lo kiếm sống, những kẻ vô nghề nghiệp và ăn bám cũng quay về làm ruộng, thì người dân sẽ yên vui với chỗ ở của mình. Đó chính là tu sửa chính sách nông nghiệp.

Quốc gia dưỡng binh trăm vạn, ngựa khỏe, binh hùng, khí giới sắc bén, cứng rắn, có thể nói là vô địch thiên hạ. Nhưng từ sau vụ thất trận ở Cự Mã và Hạ Đình làm phản, thanh thế quân đội không còn chấn động, chiến thắng của triều đình không được nghe đến, một kỷ đến nay, nhục nhã chưa rửa. Tại sao? Tướng súy không tuân mệnh mà việc ủy nhiệm không chuyên, binh lính đã kiêu căng, lười biếng, không luyện tập hiểu biết việc biên cương, có thể thấy chính sự quân đội không được tu sửa. Tướng súy là nanh vuốt của Vua, lên đàn nhận búa, đục cửa đẩy trục[13], việc ngoài cửa ải, tướng quân quyết đoán, do đó có thể khắc địch giành thắng.

Gần đây thường bị ràng buộc lẫn nhau, không cho tùy nghi, dùng binh thắng nhờ kỳ binh mà phải theo lối bày trận, việc chỉ thích hợp với thay đổi mà lại chỉ dẫn bằng mệnh lệnh, dũng cảm không nơi phấn chí, trí mưu không chỗ thi thố, do đó cử động thì thua chạy.

Tôn Vũ nói: “Không biết quân không thể tiến mà bảo tiến, không biết quân không thể lui mà bảo lui, đó gọi là ràng buộc quân[14]“, chính là như thế. Thần ngu cho rằng, nghi ngờ thì không nên dùng, đã dùng thì không nên nghi ngờ, hãy cẩn thận chọn người, giao phó nhiệm vụ chuyên trách, kẻ có công thì ban thưởng tước vị, kẻ có tội thì dùng uy pháp khí để răn đe, rõ ràng hình phạt và ban thưởng, quyết đoán thực hiện, ai dám không tuân lệnh?

Xưa kia, theo phép ‘tỉnh điền’, binh chính là dân, dân chính là binh, ra trận thì chiến đấu, về nhà thì cày cấy, mỗi người tự lo việc của mình, quan không cần chu cấp. Nay nông dân không biết đánh trận, binh sĩ không chịu làm ruộng, tách làm hai con đường, hoàn toàn không liên quan. Thần ngu cho rằng, chế độ cổ không thể áp dụng toàn bộ, nên tham khảo sự thuận lợi hiện tại, cân nhắc mà dần thiết lập.

Huống hồ vùng Giang, Chiết từng có trại nghĩa quân[15], vùng Tần, Lũng đang có tráng đinh đồn trú, nắm lấy gậy chống mà làm chuẩn, việc này có thể thực hiện. Với đất đai phì nhiêu trong thiên hạ, dân chúng đông đúc, hãy ở mỗi quận huyện thiết lập nghĩa quân, hộ chính được miễn thuế, thời tiết ban thưởng ít nhiều, động thì thuận tiện triệu tập, tĩnh thì để họ nuôi dưỡng, lại ở khu vực vương kỳ ngàn dặm, tích trữ mười vạn quân để kiểm soát thiên hạ, ai dám dao động? Châu huyện ở đô thành, tùy nghi ấn định số lượng, dư thừa không cho phép chiêu mộ[16], người già yếu đều cho về hưu, nếu thực hiện được điều này, thì binh lính trong thiên hạ sẽ giảm được một nửa.

Người vùng biên giới, quen với cung ngựa, dũng cảm chiến đấu, vốn là thiên tính. Hãy chọn người có tài văn võ làm trưởng lại để thống lĩnh, dùng lợi lớn chiêu mộ người tự nguyện làm chính quân, tùy quận lớn nhỏ, phân bổ số lượng để phòng thủ thành, chỉ cần đồn trú ít quân ở vùng Triệu, Ngụy, để làm hậu thuẫn, cũng đủ giảm phần lớn quân đồn trú. Vừa cày cấy vừa chiến đấu, đủ lương thực đủ binh lính, giảm bớt sự phiền hà của thuế má, miễn được sự vất vả vận chuyển, đó là sự tu chỉnh của quân chính.

Thần ngu cho rằng, không trọng dụng người thì không thể yên biên, không yên biên thì không thể giảm binh, không giảm binh thì không thể tiết kiệm chi phí, không tiết kiệm chi phí thì không thể khoan thư dân, không khoan thư dân thì không thể trị an. Bỏ qua mấy việc này, dù có người tài giỏi, cũng không thể bày mưu được.

Thứ sử, huyện lệnh là những chức quan gần gũi với dân, có dân chúng và xã tắc, giống như chư hầu thời Tam đại. Vì thế, Hán Tuyên Đế nói: “Người cùng ta trị nước, chỉ có những vị quan lương hai ngàn thạch mà thôi.” Quang Vũ cũng nói: “Lang quan trên ứng với các vì sao, ra cai trị trăm dặm, nếu không phải người tài, dân sẽ chịu hại.” Đó là xem trọng chức vụ này.

Gần đây không bổ nhiệm Thứ sử, chỉ dùng Tri châu thay thế, việc sai phái thì từ Bộc xạ, Thượng thư đến các quan Kinh đô phụng chức, phần nhiều bổ nhiệm tùy tiện, chưa đủ năng lực. Quyền lực không đủ để uy hiếp lại dân, bổng lộc không đủ để giúp đỡ kẻ nghèo, chính sự đều qua loa, việc làm theo lối cũ. Có lẽ, triều đình xem chức Thứ sử là nhiệm vụ của võ tướng, có chi phí cấp cho công sứ, có lệ tiến cử tăng ni, xem trọng việc này mà không giao cho người tài chăng? Khổng Tử nói: “Danh không chính thì lời không thuận, lời không thuận thì việc không thành.” Hiện nay, quan văn võ vào triều, các chức Sứ phó, không dưới nghìn người, đời nào cũng có người tài, há không có quan thanh liêm, chỉ là chưa được tuyển dụng mà thôi.

Thần ngu nghĩ nên ra chiếu cho các quan chấp sự xem xét kỹ danh thực, tiến cử người hiền tài, lấy các quan Kiểm hiệu ra làm Thứ sử, nhưng không được cấp phát công sứ, tiến cử tăng ni. Còn huyện lệnh là chức vụ của tử nam, gần gũi nhất với dân, gần đây bổ nhiệm phần nhiều là những kẻ tầm thường[17], các lại nhân chia nhau chiếm giữ đại ấp, kiến thức kém thì không thể hiểu rõ lý lẽ, bổng lộc ít thì khó giữ được thanh liêm. Chức vụ châu huyện, đại để đều giống nhau, muốn họ hết lòng phụng sự trên, ra sức chăm lo dân chúng, há có được chăng?

Thần ngu nghĩ nên ra chiếu cho các quan có chức vụ tiến cử người mình biết, bộ Lại chọn người tài, các lại nhân không được làm trưởng lại ở đại huyện. Phàm những người làm mục tể, nên tăng thu nhập hàng tháng bằng cách phụng hộ, nhận đất trống làm chức điền, để họ có đủ y thực nuôi gia đình, xe phục để tỏ rõ với mọi người, giữ chức lâu để khuyến khích hiệu quả, giao quyền để thi hành công việc, dần dần đôn đốc giáo hóa, chuyên tâm khuyến khích sản xuất, mỗi năm dùng phép khảo khóa trong lệnh văn, lấy sự tăng giảm hộ khẩu, nhiều ít ruộng đất khai khẩn để định thứ hạng cao thấp mà thăng giáng. Như thế, dân chúng sẽ được hưởng ơn!

Người giản dị thì việc không quá nhiều, người tiết kiệm thì tài sản dư dả. Hiện nay, việc bổ nhiệm quan chức quá mức, quan lại đông đúc tại các quận huyện; việc sai phái phiền phức, sứ giả qua lại trên đường đi. Chi phí lương bổng hao tổn, cung cấp giấy tờ dịch vụ, sao có thể kể xiết! Những phần thưởng vô danh, những công trình không cấp thiết, cũng không giới hạn. Công trình kiến trúc đẹp đẽ đến cực điểm, kỹ thuật tinh xảo đến mức thái quá, các khoản chi tiêu khác nhiều không kể, mỗi lần động việc đều tính đến hàng nghìn vạn. Vì thế, ngoài hai khoản thuế chính, lại phải thu thêm sản vật từ núi biển, lợi nhuận từ việc độc quyền rượu, mà chi tiêu vẫn không đủ.

Thêm vào đó, giáo hóa chưa được thực hiện mạnh mẽ, liêm sỉ chưa được củng cố, thói xa xỉ chưa thay đổi nhiều, dân lưu vong chưa trở về, thuế má chưa công bằng, ngục tù chưa giản lược, biên giới chưa vững chắc, kế sách trong triều chưa tốt, pháp luật ngày càng nhiều điều khoản, quan lại không có lòng nhân ái thực sự. Những việc trái đạo lý, làm tổn thương đạo nghĩa, chỉ biết lo cho bản thân mà không vì lợi ích chung, không thể kể hết. Xin hỏi các đại thần về các nhiệm vụ hiện tại, như đã trình bày trên, hãy tắm gội mà chải chuốt, dùng thuốc đắng và phương pháp chữa trị, khiến trăm việc được chính đính, đạo lý được sắp xếp, dân chúng được yên ổn, xã tắc được bình an, trên dưới hòa hợp, quy chế rõ ràng chặt chẽ, xây dựng đạo lý của hoàng cực, đặt nền móng cho thái bình.

Bệ hạ ngồi trên chín tầng, dựa vào bức bình phong, ngồi hướng nam mà xét đoán, ngồi nghiêm chỉnh mà không cần hành động, để lại kế hoạch cho con cháu, làm rạng rỡ sự nghiệp của tổ tiên, há chẳng phải là tốt đẹp sao!

Bệ hạ tự xem tình thế hiện nay, so với thời hưng thịnh của Hán, Đường như thế nào? Người có đất đai không thể nói nghèo, người có dân không thể nói yếu. Với sự thánh thiện thông minh của Bệ hạ, được trời hạ giúp đỡ lớn lao, mà chưa sánh được với sự hưng thịnh của Hán, Đường, thần thấy tiếc cho Bệ hạ.”

Tấu chương đệ trình, được trả lời bằng ưu chiếu.

[21] Mùa hạ, tháng tư, ngày Bính Thìn, Vua bảo các phụ thần: “Gần đây xem các tấu chương trình bày việc, mỗi ngày không dưới trăm tờ, đôi khi cũng có điều hữu ích, các khanh hãy xem xét kỹ, nếu văn lý có thể chấp nhận được, hãy chọn riêng ra để trình.” Vua lại ra chiếu cho các quan văn võ trình bày sự việc, cửa cung phải ghi thời gian để trình lên, không được để chậm trễ.

[22] Ngày Tân Dậu, Ngự sử trung thừa Trương Vịnh tâu rằng: “Xin từ nay các ngự sử, quan kinh triều và sứ thần nhận chiếu xét án, không được phép xin vào điện để nhận chỉ dụ cũng như đến Trung thư xin chỉ thị.” Vua nghe theo.

[23] Ngày Bính Dần, Chuyển vận sứ Hà Đông là Tống Đoàn người Dịch tâu rằng: “Giám đại thông tích trữ quặng sắt dồi dào, có thể cung cấp cho việc đúc tiền các châu quân trong mấy chục năm, xin tạm ngưng khai thác để giảm bớt gánh nặng cho dân.” Vua chuẩn y lời tâu. Bấy giờ, hai vùng biên giới tây bắc đóng quân rộng khắp, Tống Đoàn lo việc điều phối lương thực, được khen là có tài cai trị. Triều đình khó tìm người thay thế, nên ông được giữ chức suốt mười một năm không đổi.

[24] Ngày Bính Tý, Vua nói với các đại thần rằng: “Trong hàng thứ quan, tìm người tài năng thì không thiếu, nhưng hỏi về đức hạnh thì ít gặp. Đức là gốc của trăm hạnh, người có đức hẳn là bậc trung thần hiếu tử. Há lại có kẻ không đức mà đủ trung hiếu hay sao? Lại nữa, nhiều việc mà thứ quan đảm nhiệm không được chú trọng, chỉ chăm chăm nhặt nhạnh lợi hại của nơi khác để mong thăng tiến. Nếu họ tự lo việc của mình, thì trăm chức vụ không cần nghiêm khắc cũng tự nghiêm cẩn, lo gì việc chính sự bị rối loạn?”

[25] Ngự sử trung thừa Trương Vịnh được bổ nhiệm làm Công bộ thị lang, nhậm chức Tri phủ Hàng Châu.

Khi Trương Vịnh đến nơi, gặp năm mất mùa, dân chúng nhiều người buôn bán muối trộm để tự kiếm sống. Bắt được hàng trăm người phạm tội, Trương Vịnh đều tha nhẹ hình phạt và thả họ về. Thuộc hạ xin rằng: “Nếu không nghiêm trị, e rằng không thể ngăn chặn được.” Trương Vịnh nói: “Nhà cửa ở Tiền Đường có mười vạn hộ, tám chín phần mười đều đói khổ. Nếu họ không nhờ muối để sống, một khi nổi lên làm giặc, thì hậu quả sẽ rất nghiêm trọng. Đợi đến mùa thu hoạch, sẽ theo pháp luật cũ.”

Có người con trong dân gian kiện tụng gia tài với anh rể[18]. Anh rể nói rằng cha vợ lúc qua đời, đứa con này mới ba tuổi, nên giao cho anh quản lý gia sản, lại có di thư[19], dặn sau này chia gia tài ba phần cho con, bảy phần cho rể. Trương Vịnh xem xong, lấy rượu tế đất[20], nói: “Cha vợ ngươi là người khôn ngoan. Vì con còn quá nhỏ nên giao phó cho ngươi. Nếu vội chia bảy phần gia tài cho nó, thì con sẽ chết trong tay ngươi.” Lập tức ra lệnh chia bảy phần cho con, ba phần còn lại cho rể. Mọi người đều phục sự phán quyết sáng suốt của Trương Vịnh, lạy tạ khóc lóc rồi ra về.

[26] Châu Tào, Châu Tế báo có hạn hán.

[27] Trước đây, Tả chánh ngôn Cảnh Vọng nhậm chức Tri Tương Châu, dâng sớ đề nghị: “Huyện Tương Dương có sông Thuần, trước đã đắp đê để dẫn nước vào kênh quan, tưới tiêu cho ba nghìn khoảnh ruộng dân. Huyện Nghi Thành có sông Man, tưới tiêu bảy trăm khoảnh ruộng. Lại có ba trăm khoảnh ruộng đồn điền. Xin được cải tạo lại vùng đất cũ, mở rộng thêm đất hoang, thiết lập ba khu ruộng doanh điền gồm thượng, trung, hạ, huy động năm trăm nhân công đắp đê, đồng thời tập hợp binh lính các châu lân cận, mỗi khu hai trăm người, mua bảy trăm con trâu ở Kinh Hồ để phân phát cho họ.” Vua nói: “Việc đồn điền đã bỏ lâu rồi, nếu làm được như thế, cũng đủ để khởi đầu khuyến khích nông nghiệp.” Bèn sai Vọng đích thân đến hiện trường khảo sát, rồi bổ nhiệm ông làm Hữu ty gián, Trực sử quán, Kinh Tây chuyển vận sứ, cùng Phó sứ Chu Đài Phù kiêm chức Chế trí doanh điền sự ở địa phương. Năm đó, trồng được hơn ba trăm khoảnh lúa.

Ban đầu, Vọng xin cử Đại Lý tự thừa Vũ Trình đảm nhiệm việc tổng quản doanh điền. Trình dâng sớ nói việc này không tiện, Vua bèn hạ chiếu chuyển Trình đến quận khác, chọn người thay thế, đợi đến khi công việc hoàn thành, so sánh lợi hại, rồi quyết định thưởng phạt.

[28] Châu Nhữ trước đây có khu Nam Vụ ở Lạc Dương, sai binh lính Nội viên đến trồng lúa, nhưng từ thời Ung Hy, do thu hoạch ít và gây phiền hà nên bãi bỏ, giao đất cho dân nghèo. Nay theo lời thỉnh cầu của Đài Phù, lại thiết lập lại, chiêu mộ hơn hai trăm hộ dân, tự chuẩn bị trâu cày, cử Đoàn trưởng quản lý, quan Kinh triều chuyên trách, khai khẩn sáu trăm khoảnh ruộng, dẫn nước sông Nhữ vào tưới tiêu, mỗi năm thu được hai mươi ba nghìn thạch lúa.

(Việc bổ nhiệm Cảnh Vọng làm Hữu ty gián, Trực sử quán, Kinh Tây chuyển vận sứ, cùng Phó sứ Chu Đài Phù kiêm chức Chế trí doanh điền, vào ngày Bính Tý trong tháng này, nay ghi chung vào cuối tháng. Cảnh Vọng, chưa rõ lai lịch.)

[29] Chủ khách lang trung, Tri Quắc Châu Tạ Bí dâng sớ nói:

“Thần trộm nghĩ, điều mà bệ hạ lo lắng là muốn thiên hạ sớm chiều được thái bình. Diêu Sùng đời Đường từng dâng lên Minh Hoàng mười điều khai mở thái bình. Cuối niên hiệu Ung Hy, Triệu Phổ từng chép lại để dâng, chẳng bao lâu lại được lệnh làm Tể tướng. Lúc ấy, người trong thiên hạ đều cho rằng sách lược để đạt được thái bình, không gì hơn cách này. Kế tiếp, Triệu Phổ mắc bệnh, phía bắc lại có giặc quấy nhiễu biên cương, nên mười điều ấy vẫn chưa thực hiện được điều nào. Nay giặc phía bắc đã yên, Lý Kế Thiên cũng xin thần phục, thì mười điều thái bình chính là lúc có thể thực hiện vào ngày nay. Thần cho rằng, điều mà Tiên đế chưa thực hiện được, chính là đợi Bệ hạ hoàn thành mà thôi.

Từ khi Bệ hạ lên ngôi, không dùng binh với rợ địch, khiến tây bắc yên ổn, lại thêm mưa thuận gió hòa, dân chúng an cư lạc nghiệp, thì cái tượng thái bình, còn xa gì nữa. Đến như bớt việc không gấp, bỏ chính sách phiền hà, ngăn chặn thói chạy đua, mở đường cho lời nói thẳng, đều là thuật để đạt được thái bình, thực tế đã thực hiện được tám chín phần rồi, há lại kém gì với nền trị vì Khai Nguyên đời Đường.

Có người bàn luận cho rằng hiện nay phương Tây đang dùng binh, khác với thời Khai Nguyên. Vả lại, thời Khai Nguyên, rợ Địch cũng rất hung hãn, nhưng Minh Hoàng cuối cùng cũng giảng hòa với chúng. Đến như Hán Cao Tổ, há phải là vị chúa yếu đuối khi giảng hòa ở Bành Thành?. Đó đều là nhún nhường để giữ yên thiên hạ, há phải nước lớn tự hạ mình mà tranh chấp chút bực tức với rợ Địch sao[21]?

Kẻ bề tôi ngu muội xin lấy việc gần đây mà nói. Năm trước, điều binh đánh Giao Chỉ, quân Vương vừa ra quân, phương Nam đã chao đảo, Tiên Hoàng cho rằng chiếm được cũng vô dụng, bỏ đi thì tiện hơn, bèn trao chức tước, khiến làm rào chắn, đến nay chúng nằm phục như chuột. Cuối đời Thạch Tấn, nghe lời Cảnh Diên Quảng, hổ thẹn giảng hòa với Khiết Đan, dẫn đến thiên hạ đại loạn, điều đó há có thể gọi là mạnh sao? Giám quân châu bản thần là Thất Chủng, người đất Yên, từng nói rằng bọn chúng thích thú săn bắn, tham lam của cải, ngoài ra không có mưu lược gì khác. Triều trước sau khi bình định nước Tấn, nếu không đem quân đến đánh, chỉ cần ban tặng tài vật, thì U, Kế sẽ sớm dâng đất hàng. Xét điều này, mới biết tình địch xưa nay vẫn vậy, kế sách của Hán Cao Tổ, Minh Hoàng có thể làm dịu lòng địch vậy.

Kẻ bề tôi nghe rằng trong chiếu thư gần đây có những kẻ bất lương, những điều họ trình bày đều là chuyện tầm thường, thấp hèn. Thần nghe rằng các bậc tiên vương xưa thường hỏi han kẻ thấp cổ bé họng, xem xét lời nói gần gũi, vì lo lắng bị che khuất tầm nhìn, nên mới thu thập thông tin để thấu hiểu tình hình, nhưng rất ít khi nghe theo lời họ mà thi hành. Cổ ngữ có câu: “Tiểu nhân chớ dùng, ắt sẽ loạn nước.” Trước kia có Hầu Mạc Trần Lợi Dụng, Trần Đình Sơn, Trịnh Xương Tự, Triệu Tán, đều là những kẻ mồm mép, lòng người lo lắng, nhờ Thánh minh của Tiên Đế, đã tiến hành trừng trị, nhưng mối họa đã rất sâu xa rồi.

Thần lại nghe rằng: “Muốn việc làm tốt, trước phải sửa công cụ.” Phụ tá thời thế, giúp đỡ chúa thượng, xây dựng cơ nghiệp muôn đời, đặt ra chính sách vững chắc, tất phải dựa vào người già dặn. Đến như thời Thành Vương, Khang Vương hình phạt không cần dùng đến, đó là nhờ vào mưu lược của Chu Công, Thiệu Công; thời Văn Đế, Cảnh Đế thanh bình, cũng là nhờ vào kế hoạch của Tiêu Hà, Tào Tham; thời Minh Hoàng thái bình, lại là nhờ vào chính sách của Diêu Sùng, Tống Cảnh. Việc tinh luyện quốc chính, cân nhắc phép Vua, chưa từng nghe rằng kẻ tầm thường nơi chợ búa, hay quan lại tầm thường, có thể đảm đương được. Mong Bệ hạ xem xét kỹ lưỡng rằng thời xưa dùng tiểu nhân thì loạn, dùng đại hiền thì trị, như vậy tiểu nhân không dám nảy mầm, đại hiền mới có thể dốc hết sức lực.”

[30] Tháng năm, ngày Bính Tuất, có chiếu: “Những người trong thiên hạ ứng thi ba lần, năm nay đều được miễn thi hương, còn lại cứ theo lệ tiến cử, nhất định phải chọn người có tài thực, không để sót người hiền, đợi khi tâu danh, Trẫm sẽ thân hành chủ trì thi cử.”

[31] Hoàng thượng nói với Tể tướng: “Gần đây Trẫm xem các tấu chương dâng lên, thấy nhiều người nói phong tục xa hoa, làm tổn hại sự thuần phác, tiết kiệm. Từ công khanh đến sĩ thứ, đều ăn mặc vượt quy chế, thậm chí có người nấu chảy vàng để trang trí áo quần, hoặc dùng châu ngọc làm đồ trang sức. Hỏi ra mới biết: ‘Tốn rất nhiều vàng.’ Vàng là vật báu, biến thành bùn, thực đáng tiếc.” Trương Tề Hiền tâu: “Gần đây phong tục càng suy đồi, xa xỉ đua đòi, mỗi việc làm sợ không vượt người, cái tệ này cần phải nghiêm trị. Hoặc trước hết hạch tội nhà các đại thần, khiến họ tuân theo sự giản dị, thì có thể dẫn dắt dân chúng, tuyên dương giáo hóa.” Ngày Đinh Hợi, lệnh cho các cơ quan cấm bá quan và dân chúng dùng vàng để trang trí, ai vi phạm sẽ trị tội người đứng đầu gia đình.

[32] Ngày Đinh Dậu, lấy Điện trung thừa huyện Quyến Thành là Mã Nguyên Phương làm quyền Hộ bộ phán quan, theo đề nghị của Hộ bộ sứ là Trần Thứ. Nguyên Phương từng tâu rằng: “Vào mùa xuân, khi dân chúng kiệt sức[22], xin trước cấp tiền trong kho, đến hè thu thì bắt nộp lụa cho quan.” Việc này có lợi cho cả công và tư, triều đình bèn ban hành phương pháp này cho các đạo. Lệnh mua lụa trước, bắt đầu từ đây.

(Truyện Mã Nguyên Phương: Hộ bộ sứ Trần Thứ tâu xin cho Nguyên Phương làm Hộ bộ phán quan, Nguyên Phương nói rằng vào mùa xuân dân nghèo, xin cho vay tiền trong kho trước, đến hè thu thì bắt nộp lụa cho quan. Thực hiện việc này, quả nhiên có lợi cho cả công và tư, bèn ban hành phương pháp này cho các đạo. Xét Nguyên Phương làm Hộ bộ phán quan vào tháng 5 năm Hàm Bình thứ hai, sau đó giữ chức Tri châu Từ Châu, đến tháng 11 năm Cảnh Đức thứ nhất làm Chuyển vận sứ lộ Tử Châu, sách chính truyện và phụ truyện đều ghi giống nhau. Sách ‘Đông trai ký sự’ của Phạm Trấn[23] chép: Thời Thái Tông, Mã Nguyên Phương làm Tam ty phán quan, tâu rằng vào mùa xuân dân đói, xin trước cấp tiền trong kho cho vay, đến hè thu thì bắt nộp lụa cho quan. Việc mua lụa trước bắt đầu từ đây. Lời ghi của Trấn giống với truyện Nguyên Phương, nay theo đó.

Sách ‘Miễn thủy yến đàm’ của Vương Tịch Chi[24] riêng chép: Năm Tường Phù đầu tiên, Vương Húc làm Tri châu Dĩnh Châu, nhân năm đói, xuất tiền trong kho cho dân vay, ước đến mùa tằm chín thì nộp một tấm lụa. Sau đó Lý Sĩ Hoành thực hiện ở Thiểm Tây, dân cho là tiện, nay thực hiện khắp thiên hạ, đầu năm cấp tiền, gọi là lụa mua hòa. Có người nói: Việc mua trước bắt đầu từ Húc. Nay không theo.

Lại xét ‘Thực lục’, vào ngày Kỷ Mùi, tháng 2 nhuận năm Đại Trung Tường Phù thứ ba, Chuyển vận sứ Hà Bắc là Lý Sĩ Hoành tâu rằng: Lộ này hàng năm cấp cho quân đội 70 vạn tấm lụa, dân gian ít tiền, thường phải vay trước của hào phú, lãi gấp đôi, đến kỳ thì ngoài việc nộp thuế, phải trả nợ trước, vì thế lợi ích của thợ dệt ngày càng ít. Xin cho quan ty trước cấp tiền mua lụa, để dân kịp thời giao nộp, thì dân có lợi mà quan cũng đủ dùng, theo đó, lại lệnh trả giá cao hơn. Chính truyện và phụ truyện của Sĩ Hoành đều nói nhân chiếu ban hành phương pháp này khắp thiên hạ. Phạm Trọng Yêm làm bia thần đạo cho Lý Sĩ Hoành cũng chép: Làm Chuyển vận sứ Hà Bắc, tâu rằng dân thiếu tiền, mỗi mùa xuân phải vay tiền mua lụa từ hào phú, lãi gấp đôi. Lộ này hàng năm cấp cho quân đội 70 vạn tấm lụa, nếu không đủ thì mua của dân. Xin cho dân nhận tiền trước[25], thì công tư đều có lợi. Chiếu theo đó, nay thực hiện ở các đạo. Việc này thực ra do Mã Nguyên Phương khi làm Tam ty khởi xướng, tuy ban hành phương pháp này cho các đạo, có nơi thực hiện ngay, cũng có nơi chưa thực hiện. Khi Lý Sĩ Hoành ở Hà Bắc, lại xin thực hiện, bắt đầu thực hiện ở Hà Bắc, nhưng các đạo khác chưa thực hiện rộng. Sau đó kho Tả Tàng và Nội Tàng bị cháy, lại đặc biệt thực hiện ở Kinh Đông và Kinh Tây. Lời Phạm Trọng Yêm nói nay thực hiện ở các đạo, là chỉ thời Cảnh Hữu. Việc thực hiện ở Kinh Đông và Kinh Tây là vào mùa xuân năm Tường Phù thứ chín.)

[33] Ngày Ất Tỵ, Vua đến thăm Tào Bân tại nhà, hỏi thăm bệnh tình và ban cho mười nghìn lạng bạch kim. Trước đó, Hà Thừa Củ, Tri châu Hùng, tâu rằng kẻ địch có ý xâm phạm biên giới. Vua hỏi ý Tào Bân, ông đáp: “Thái Tổ anh minh võ lược, định yên thiên hạ, vẫn giao cho Tôn Toàn Hưng lo việc giảng hòa. Khi Bệ hạ mới lên ngôi, Thừa Củ đã từng gửi thư bày tỏ ý kiến. Thần đoán rằng phương Bắc cuối cùng sẽ lại giảng hòa.” Vua nói: “Việc này Trẫm sẽ chịu khuất nhục vì dân chúng thiên hạ, nhưng phải giữ vững kỷ cương, giữ gìn đại cục, đó là lợi ích lâu dài.”

(Sự việc này trong ‘Tam Triều Kinh Vũ Thánh Lược’ ghi vào năm Hàm Bình thứ hai nhưng không rõ ngày tháng. Nay nhân việc Vua hỏi thăm Tào Bân, ghi lại, chắc hẳn lúc đó Tào Bân còn làm Xu mật sứ và chưa về nghỉ. Sách ‘Vương Tăng Bút Lục’ chép: Thị trung Tào Bân làm Xu mật sứ, Hướng Mẫn Trung làm Xu mật phó sứ. Khi Khiết Đan xâm phạm biên giới, Lý Kế Thiên làm phản, mỗi lần quân thư gấp đến, Vua đều lập tức triệu tập các quan Xu mật bàn kế. Tào Bân nói: “Quân cuồng phạm đó, nên lập tức xuất binh đánh dẹp, chỉ cần dùng một số cường nỗ, bộ binh và kỵ binh là đủ.” Hướng Mẫn Trung từ tốn nói: “Nơi đó kho lương chưa đủ, đường sá xa xôi, hoặc xuất binh không đúng thời, nên áp dụng phương lược khác.” Các kế hoạch chi tiết đều theo ý kiến của Mẫn Trung. Vua thường nói khó chọn được tướng giỏi, Tào Bân liền khảng khái nói: “Thần xin nhận trách nhiệm.” Không nói gì khác, Mẫn Trung thường lấy làm lạ.

Con trai Tào Bân là Tào Vĩ cũng có tài cầm quân, từng trải qua nhiều chức vụ ở biên giới, uy danh lừng lẫy. Về sau, từ chức Xu mật phó xuất trấn biên giới phía Tây[26], gặp việc bình tĩnh xử lý, rất giống cha mình, lại rất quyết đoán trong chiến đấu[27], nhưng không mấy quan tâm đến việc an dân và nhu viễn. Lẽ nào bản chất của tướng lĩnh phải như thế?

Xét lại, Tào Bân lại làm Xu mật sứ, Hướng Mẫn Trung từ chức Đồng tri Xu mật viện chuyển làm Xu mật phó sứ, vào ngày Kỷ Hợi tháng 8 năm Chí Đạo thứ ba. Ngày Mậu Tý tháng 11 năm Hàm Bình nguyên niên, Mẫn Trung đổi chức Tham chính, đến ngày Mậu Ngọ tháng 6 năm Hàm Bình thứ hai, Tào Bân qua đời. Hai người cùng tại Viện Xu mật chỉ được một năm. Chân Tông vừa lên ngôi, đã ra lệnh cho biên giới phía Tây ngừng binh đao, Lý Kế Thiên nhanh chóng quy thuận, Khiết Đan lúc đó chưa từng xâm phạm biên giới, không rõ lời “quân thư gấp đến” trước đó chỉ thời điểm nào. ‘Kinh Vũ Thánh Lược’ năm Hàm Bình thứ hai chép lời Hà Thừa Củ nói Khiết Đan có ý xâm phạm biên giới, có lẽ chỉ đúng thời điểm đó, nhưng ‘Kinh Vũ Thánh Lược’ ghi Tào Bân nói với Chân Tông rằng phương Bắc sẽ lại giảng hòa, khác hẳn với ghi chép của Vương Tăng, có thể do sách kia sai lầm. Nên kiểm tra lại.)

[34] Trước đây có chiếu cho phép dân chúng vượt sông Cự Mã đến biên giới phía Bắc để mua bán ngựa. Quan tri châu Hùng là Hà Thừa Củ tâu: “Ty chiến trạo ở vùng biên, từ sông Đào đến cửa biển Nê Cô, uốn khúc khoảng chín trăm dặm, trời đã thiết lập hiểm yếu vững chắc, thật là lợi thế địa lý. Thái Tông thiết lập 28 trại, 125 phố. Sai 11 quan trong tri, hơn ba nghìn lính đồn trú, điều động trăm chiếc thuyền, tuần tra cảnh giới, để ngăn chặn gian trá, thì việc phòng bị khi cần kíp, rất là trọng yếu. Nay cho phép công tư mua bán, thì người ngựa qua lại[28], rất không tiện lợi. Nếu thế thì trại phố sẽ thành vô dụng.” Vua nghe lời tâu, bèn dừng chiếu trước.

(Điều này căn cứ theo truyện Hà Thừa Củ, sau khi giặc Khiết Đan lại đến cướp phá vào năm Hàm Bình thứ hai, nay nhân lời Tào Bân nói với Vua, ghi chép thêm vào.)

[35] Tháng sáu, ngày Đinh Tỵ (27/6), Tể thần, Giám tu Quốc sử Lý Hãng dâng lên bộ ‘Trùng tu Thái Tổ Thực lục’ gồm 50 quyển. Vua xem xong khen ngợi, bảo Hãng rằng: “Trước đây các sử thần không thể chăm chỉ làm xong việc, nghe nói Trương Kỵ biên soạn Quốc sử chỉ được một quyển, lần này có thể gọi là đầy đủ vậy.” Liền hạ chiếu khen thưởng, ban áo bào, đai vàng, bạc, lụa theo thứ bậc khác nhau. Từ Tiền Nhược Thủy trở xuống, lại được thăng chức tán quán và tăng thêm thực ấp. Riêng Lý Hãng cố từ chối, Vua ra chiếu chấp thuận.

[36] Ngày Mậu Ngọ, Xu mật sứ kiêm Thị trung, được ban tặng Trung thư lệnh, Tế Dương Vũ Huệ Vương Tào Bân qua đời. Vua đến viếng tang, khóc thảm thiết, mỗi lần nhắc đến đều rơi lệ. Vua truyền ghi chép lại thân tộc, môn khách, thuộc hạ thân tín của Tào Bân, ban chức cho hơn mười người.

Tào Bân tính tình nhân hậu, khoan dung, thanh liêm, thận trọng, lời nói khiêm tốn, thái độ cung kính, trong triều chưa từng có lời nào chống đối hay trái ý Vua. Ông đọc rộng, nhớ dai, giỏi đàm luận, ăn mặc giản dị như các nho gia. Đặc biệt, ông không câu nệ tiền tài, chưa từng tích trữ của cải, dù đi chinh phạt hai nước nhưng không lấy một chút gì. Dù ở địa vị tướng quốc, ông không lấy uy thế mà tự cao, người đến cửa nhà ông đều được tiếp đón lễ phép. Ông không gọi tên thuộc hạ, mỗi khi có việc trình báo, nếu không đội mũ thì không tiếp. Khi làm tướng trấn thủ, gặp quan lại triều đình trên đường, ông đều nhường đường tránh, qua chợ thì dặn người đánh xe không được quát tháo. Khi thất bại trong chiến dịch phía Bắc, Triệu Xương Ngôn từng dâng biểu xin thi hành quân pháp; nhưng khi Triệu Xương Ngôn giữ chức Tri Diên Châu trở về, vì việc mà bị hặc tội, không được vào yết kiến Vua, Tào Bân vì là người thân tín, liền thay ông xin Vua, nên được Vua cho phép vào chầu. Tào Bân về nghỉ, đóng cửa, trong nhà không tiếp khách tạp. Ông giữ gìn công danh, tuân thủ pháp độ, được coi là vị tướng giỏi nhất thời cận đại.

[37] Bí thư thừa Hà Lượng, lúc đầu làm Thông phán Vĩnh Hưng quân, theo chiếu cùng Chuyển vận sứ Trần Vĩ đến Linh Châu để kinh lý việc đồn điền. Khi trở về, xin được triệu kiến, nhân đó dâng sớ “An biên thư” rằng:

“Thần trộm nghĩ rằng, những người bàn luận việc biên giới hiện nay không ra khỏi ba con đường: cho rằng Linh Vũ nằm ngoài vùng biên cương hiểm trở, nên bãi bỏ để giảm bớt chi phí vận chuyển lương thực cho Trung Quốc, đó là điều thứ nhất; khinh suất bàn việc xuất quân, tiến sâu vào truy đuổi, đó là điều thứ hai; ban ân huệ dày dặn, giữ lòng tin, nương nhẹ và kéo dài việc này, đó là điều thứ ba.

– Nhưng thần cho rằng, Linh Vũ nằm trong vùng biên cương hiểm trở, có sự vất vả vận chuyển lương thực, nhưng không có lợi ích gì nhỏ nhặt, tuy nhiên đất đai rộng ngàn dặm, núi non bao bọc, sông ngòi sâu rộng, đất đai màu mỡ, cây cối tươi tốt, thật sự là nơi thích hợp để chăn thả, canh tác và chiến đấu. Nếu một ngày nào đó bỏ nó để giúp rợ Địch, thì đất đai của rợ Địch sẽ rộng lớn và giàu có hơn. Với lòng tham như sói, chiếm giữ đất đai rộng lớn và giàu có, để chống lại Trung Quốc, đó là mối họa từ rợ Địch không thể lường trước, đó là điều thứ nhất.

Từ Hoàn Khánh đến Linh Vũ chỉ khoảng ngàn dặm, Tây Vực và Bắc Đình bị chia cắt làm hai, vì vậy đất đai eo hẹp, thế lực yếu kém, không thể trở thành mối đại họa cho Trung Quốc. Nếu bỏ Linh Vũ, thì Tây Vực và Bắc Đình sẽ hợp lại làm một, đó là mối họa từ rợ Địch không thể lường trước, đó là điều thứ hai.

Vùng đất phía bắc Ký Châu, nơi sinh ra ngựa, từ sau khi Hung Nô hoành hành, không có con ngựa nào từ phía nam đến, quân kỵ binh trang bị giáp trụ lấy đủ từ Tây Vực. Rợ Tây đã bị chia cắt làm hai, bên phải là vùng đông của Tây Nhung, thuộc lãnh thổ giặc Hạ, bên trái là vùng tây của Tây Nhung, bao gồm các bộ lạc Tần, Kinh, Nghi, Vị ở phía tây bắc. Quân giặc Hạ chưa từng đem ngựa đến trao đổi ở các quận biên giới, vì vậy quân kỵ binh trang bị giáp trụ của Trung Quốc chỉ có thể lấy từ vùng tây của Tây Nhung. Nếu bỏ Linh Vũ, lại khiến Tây Nhung hợp nhất làm một, giặc Hạ xảo quyệt, thu phục các bộ lạc, khiến các vùng Tần, Kinh, Nghi, Vị ở phía tây, người rợ không còn có thể đem ngựa đến trao đổi ở các quận biên giới, thì không biết ngựa chiến của Trung Quốc sẽ lấy từ đâu? Đó là mối họa từ rợ Địch không thể lường trước khi bỏ Linh Vũ, đó là điều thứ ba.

– Giả sử vào thời gian mùa thu, tháng 7, ngày Nhâm Thìn, Giả sử vào thời gian mùa đông, tháng 10, ngày Giáp Tý. Nếu như đem quân tiến sâu, truy kích tận cùng, thì bọn giặc Hạ thấy thế không chống cự nổi, ắt sẽ chạy trốn vào sa mạc. Quân triều đình hết lương không thể ở lại lâu, rút quân thì giặc lại quấy nhiễu biên cương. Đó gọi là tốn kém lớn mà không thành công, để giặc lấn sâu và nhanh chóng gây họa biên cương, đây là điều bất lợi thứ nhất của việc khinh suất nghị luận xuất quân.

Quân tiến thì không công, quân lui thì giặc đến. Giặc đến mà không đánh, thì biên quận bị hại. Giặc đến mà đánh, thì quân biên quận không đủ để địch nổi quân số đông đảo của rợ Địch. Đây là điều bất lợi thứ hai của việc khinh suất nghị luận xuất quân.

Phía tây bắc Thanh Viễn có nơi gọi là Hải Hạn, là con đường trọng yếu của Linh Vũ và cũng là nơi hai tướng Bạch, Mã thất bại. Nếu quân triều đình tiến đánh mà không công rút về, thì giặc Hạ ắt chiếm con đường trọng yếu, chặn đứt đường vận lương từ Hà Tây. Đây là điều bất lợi thứ ba của việc khinh suất nghị luận xuất quân.

Từ khi quốc gia có việc với rợ Tây, dân chúng Quan Hữu mệt mỏi cực khổ, chưa được nghỉ ngơi, mà một khi xuất quân không công, đường Hà Tây bị giặc chặn, ắt phải vận chuyển gấp, đại phát binh đánh dẹp để thông đường lương. Dân mệt lại càng khốn đốn, trộm cướp nổi lên nhiều. Đây là điều bất lợi thứ tư của việc khinh suất nghị luận xuất quân.

– Nếu bày tỏ ân tín, khoan dung mà dùng lễ để ràng buộc, thì bản tính của rợ Địch tham lam không biết chán, dù giữ danh hiệu thần phục, cuối cùng vẫn có ý phản trắc. Hoặc chăn thả gia súc trên đường để cản trở quân dân ta, hoặc cướp bóc các bộ lạc để làm giàu bộ tộc mình. Nếu quốc gia chỉ dùng ân tín để ràng buộc, ắt chúng sẽ thần phục các rợ, rồi trở thành họa lớn cho Trung Quốc. Đây là điều không thể thứ nhất.

Từ sau khi hai tướng Bạch, Mã thất bại, giặc Hạ đắc chí, chiếm cứ những nơi hiểm yếu của Linh Vũ, xâm lấn vùng đất màu mỡ ở Hà Ngoại, đe dọa các thành trì, với ý đồ nuốt chửng, ví như hổ nằm phục, thấy cơ hội là hành động. Nếu quốc gia chỉ dùng ân tín để ràng buộc, thì họa một sớm một chiều sẽ xảy ra bất ngờ. Đây là điều không thể thứ hai.

Với ba mối lo, bốn điều bất lợi và hai điều không thể làm kế sách phòng biên, quả thật chưa thấy khả thi. Trong kế sách của kẻ bề tôi ngu muội này, không ra khỏi hai phương lược.

– Từ Thanh Viễn đến Linh Vũ, có Phổ Lạc, có Diệu Đức, đều là vùng đất có nước và cỏ, là đường vận lương của Hà Tây, mà ở đó vẫn còn lưu lại dấu tích của các thành cổ. Giặc Hạ thường cướp phía tây các bộ tộc Nhung, thì đây chính là con đường yếu hại của chúng. Vì thế, chúng thường huênh hoang rằng: “Triều đình nếu tu sửa thành Phổ Lạc, ta tất sẽ ra sức tranh giành.” Lời nói của chúng thật quá bất kính, nhưng thực chất là chúng sợ rằng triều đình xây dựng thành Phổ Lạc để thông đường vận lương, từ đó khống chế con đường yếu hại của chúng. Nếu triều đình lấy danh nghĩa tu sửa và bảo vệ Thanh Viễn, đồng thời thường xuyên tích trữ dụng cụ xây thành và dựng nhà, tích trữ quân lương ở Diên, Hoàn và Thanh Viễn, tính toán dần trong vài năm, khiến dân chúng không bị tổn hại mà giặc cũng không thể biết.

Một khi xuất quân mấy vạn người để xây thành Phổ Lạc, sáng xuất phát từ Thanh Viễn, chưa đến giữa trưa đã tới nơi. Trong quân đội, chiến sĩ chiếm một phần ba, để phòng bị giặc; phu phen chiếm hai phần ba, để mang theo dụng cụ và vận chuyển quân lương. Cứ một vạn chiến sĩ thì sử dụng một vạn phu phen mang theo sáu đấu lương đi; cứ một nghìn chiến mã thì sử dụng bảy nghìn năm trăm phu phen tự mang theo ba đấu lương, một đấu thóc cho ngựa và một bó cỏ. Quân sĩ và ngựa đều có đủ lương thực dùng trong nửa tháng, tính toán công việc xây thành không quá mười ngày, nhưng lại bắt chiến sĩ tự mang theo lương thực dùng trong ba mươi ngày, để khi thành xong thì lương thực vẫn còn dư.

Việc vận chuyển thóc từ Thanh Viễn cũng tương tự như vậy. Nếu giặc biết việc xây thành mà dám kéo toàn quân đến cướp phá, thì đó chính là trúng kế thượng sách của ta. Vì sao? Giặc Hạ đã gây họa nhiều năm, quốc gia chưa thể tiêu diệt chúng, không phải do binh lực không đủ, mà thực sự là vì nếu đuổi sâu vào trong, giặc sẽ chạy trốn vào sa mạc xa xôi; quân đội ở lâu thì dân chúng không chịu nổi phu phen; quân rút về thì giặc lại quấy nhiễu; việc liên tục chinh phạt khiến vùng Quan Hữu hao kiệt. Nếu giặc dám đến xâm phạm biên cương và giao chiến với vương sư, thì chúng đã bị tiêu diệt từ lâu rồi.

– Quốc gia xây thành Phổ Lạc ắt phải bí mật điều quân đến Diên, Hoàn, Thanh Viễn để quan sát động tĩnh của giặc. Nên chia Hoàn Châu, Thanh Viễn thành hai cánh quân, một cánh dựa vào núi đi về phía bắc, đóng quân sau lưng giặc; một cánh vượt qua Trường Lĩnh tiến thẳng đến Phổ Lạc, đóng quân phía trước giặc; và để quân xây thành Phổ Lạc đóng ở giữa. Giặc thấy quân Phổ Lạc cô lập nên tập trung binh lực tấn công, bỗng nhiên ba cánh quân hiện ra như kiềng ba chân, ắt chúng hoảng sợ. Lại sai quân Diên Châu tiến vào địa giới của chúng, đuổi gia súc, bắt giữ người già yếu, phá hủy sào huyệt; quân Linh Vũ thu phục vùng đất bên ngoài sông, khôi phục cảnh giới Hạ Lan, chặn cửa Tam Sơn để cắt đường chạy trốn của chúng. Vậy thì quân chúng dù có lòng cứng như sắt đá, ắt cũng nảy sinh ý chia rẽ; tướng chúng dù có tài như Tôn, Ngô, ắt cũng không thể tìm được phương kế thắng lợi. Một mình bảo Cát kiêu ngạo, quyết chiến, há không bại ư? Đánh bại và bắt sống, đó là công lao muôn đời.

Quốc gia xây thành Phổ Lạc ắt cũng phải phái một sứ giả đến Hạ, truyền chiếu chỉ rằng: “Phổ Lạc, Diệu Đức đều có nền móng cổ thành, là con đường qua lại của Linh Vũ. Nay thành lũy hư hỏng, lúc vận chuyển lương thực, quân dân phơi mình giữa đồng, khổ sở, Trẫm rất lòng không nỡ. Nay Trẫm phái ít binh lính, sửa chữa thành quách. Lấy gỗ từ các núi, nhưng sợ bộ lạc không hiểu rõ sự tình, sinh loạn. Khanh vốn được quốc ân nặng, kế thừa nghiệp tổ tiên, đất phong quyền lực đều ở nơi khanh, nên đem ý Trẫm an ủi họ.” Nếu thật sự biết rằng hành động chẳng lợi gì, kính sợ thiên uy, vâng lệnh nghe theo, ấy là theo hạ sách của ta.

Dù còn giữ được Linh Võ, nhưng nếu để bị cách trở bởi vùng biển khô cằn, nằm ở ngoài vùng biên ải xa xôi, không xây dựng thành Phổ Lạc và Diệu Đức làm nơi phòng thủ, thì mối lo từ phía rợ Địch cũng không thể đoán trước được, chẳng khác gì bỏ Linh Võ. Hơn nữa, lại còn phải gánh thêm chi phí cung ứng liên tục hàng năm, mà không đạt được chút công lao nào trong việc phòng thủ biên giới, chỉ còn lại một tòa thành cô độc, khiến vùng Quan Hữu ngày càng khốn đốn. Nay nếu đặc biệt xây dựng hai tòa thành này, mà giặc không dám khởi loạn, thì có thể thiết lập Phổ Lạc làm quân và Diệu Đức làm trại, tăng cường tuần tra, củng cố phòng thủ, chiêu mộ dân nghèo ở Thiên Đô, khai khẩn ruộng đất ở biên giới để tăng thêm lương thực cho quân đội. Sau đó, cẩn thận chọn tướng soái, thận trọng phòng thủ biên cương, và lấy ân tín để thu phục lòng người, thì sẽ có lợi cho hàng chục đời sau.

Người bàn luận ắt sẽ nói: “Quốc gia nuôi dưỡng Linh Võ còn thấy khốn khó, nay lại cung cấp thêm cho hai tòa thành, chi phí càng lớn hơn.” Đây là lời nói của kẻ không hiểu sâu sự việc. Nếu chỉ có Thanh Viễn mà không có hai tòa thành, thì Linh Võ sẽ không có viện trợ, một ngày nào đó phía tây bắc phục tùng, hợp lực làm một, sẽ có mối lo không thể lường trước được. Lúc đó, dù quốc gia có chi hàng ngàn lần chi phí xây hai tòa thành, liệu có thể phân chia để làm suy yếu thế lực của giặc, khiến chúng rút khỏi vùng Hạ cảnh mà không tạo thành mối lo biên giới không? Khoảng cách từ Linh Võ đến Thanh Viễn không đến ba trăm dặm, mà giá lương thực lại khác biệt lớn so với Thanh Viễn, bởi vì phải vượt qua vùng biển khô cằn, không có nơi nghỉ ngơi, lại lo sợ giặc cướp. Nếu xây dựng hai tòa thành này, thì quân lính tiến đến Linh Võ sẽ có nơi nghỉ ngơi, giảm bớt nỗi lo giặc cướp, việc vận chuyển lương thực ngày càng thuận lợi, giá lương thực há chẳng giảm đi sao? Lấy phần giảm giá lương thực để cung cấp chi phí cho hai tòa thành, là đủ rồi, còn nghi ngờ gì nữa?

Ngoài hai kế sách, còn có một ý kiến khác. Ao Ô, Bạch Diêm là nơi quân Hạ và các tộc người xem như mạng sống. Nếu quân Hạ đến cướp Phổ Lạc, ta nên sai quân Diên, Hoàn tiến vào địa phận chúng, chiếm giữ ao Ô, Bạch trước, rồi ra lệnh cho các tộc người rằng: “Ai lấy được thủ cấp quân Hạ, sẽ được phong đất và trao ao Ô, Bạch.” Như vậy, nhiều người sẽ muốn bắt giữ Bảo Cát. Đến việc quân địch phản lại cũng không thể đoán trước, việc đó có thể giúp ích nhiều cho quân triều đình. Chỉ không biết người được triều đình cử làm Thượng tướng quân, rốt cuộc là người thế nào mà thôi.”

(Ghi chi tiết lời tấu của Lượng, vì Hàn Kỳ từng lấy ý kiến này. Quốc sử không ghi, mà lấy từ gia đình Lượng.)

[38] Triều đình lệnh Chính tự Bí thư tỉnh Thiệu Hoán được đọc sách ở Bí các, theo lời thỉnh cầu của ông. Việc đọc sách ở Bí các bắt đầu từ Hoán. Trước đây, Hoán từng được triệu vào đối đáp khi còn là đồng tử, được ban vải rồi cho về. Mùa xuân năm đó, ông lại đến kinh đô, Vua ra lệnh làm bài thơ “Xuân Vũ”, ông cầm bút viết ngay, nên được bổ nhiệm làm quan. Khi ấy, ông mới mười hai tuổi, người Mục châu.

[39] Ngày Quý Dậu, Đô quan lang trung Lưu Mông Tẩu dâng lời tâu: “Bệ hạ đã qua thời kỳ tang chế, đang chăm lo muôn việc. Thần mong Bệ hạ càng thêm tu dưỡng đức tính kiệm ước, giữ vững quy củ trước đây, không tự phô trường tài năng, không làm việc xa xỉ phóng túng, ban thưởng hậu hĩnh cho ba quân, giảm nhẹ lao dịch cho muôn dân, khiến giáo hóa đến khắp chúng sinh, thanh danh vang xa đến di địch. Vạn quốc đã thấy khởi đầu của Bệ hạ, mong Bệ hạ giữ vững đến cuối cùng, suy nghĩ lời ‘hiếm người làm được’, cảnh giác với thói quen dần hình thành, ngày càng cẩn trọng, dù nghỉ ngơi cũng không buông lơi. Như vậy, thiên hạ thật may mắn!” Vua khen ngợi và tiếp nhận lời tâu, cho triệu ông đến thí sát ở Học sĩ viện, bổ nhiệm giữ chức Trực sử quán theo quan chức hiện tại.


  1. so với chính văn ghi 'thả hơn ba nghìn từ nhân', câu này thiếu chữ 'thả'
  2. chữ 'thành' nguyên bản là 'thừa', căn cứ vào bản Tống, Tống toát yếu, các bản khác và sách 'Tục thông giám' quyển 20 mà sửa
  3. Chiêu đạo Vương chi vô thiên dã: 'Thiên' nguyên bản viết 'Ngoại', theo bản đời Tống, bản Cống toát yếu, bản các và 'Trị tích thống loại' quyển 4 'Chân tông kinh chế Khiết Đan', 'Tống sử' quyển 306 'Chu Đài Phù truyện' sửa lại.
  4. Vi nhất giới chi sứ: Chữ 'vi' nguyên bản thiếu, theo bản đời Tống, bản Cống toát yếu và 'Trị tích thống loại', 'Tống sử' thêm vào.
  5. Nhân dữ chi tận khí tiền ác: 'tận' nguyên bản viết 'tiễn', theo sách nói trên đã sửa.
  6. Bỉ tất tư chi: 'Tư chi', bản đời Tống, bản Cống toát yếu đều viết 'Uý chi'; 'Trị tích thống loại' thì viết 'Uý phục'.
  7. Phương bắc: trong bản Tống, bản Tóm lược Tống và bản Các đều ghi là 'Bắc Địch chi Nhung'. Theo 'Hán thư', quyển 94 hạ, 'Hung Nô truyện hạ', ghi là 'Bắc Địa chi Địch'.
  8. Nguyên tác 'thương nhân tụ tập đông đúc', theo các bản sửa
  9. Gặp lúc có chiếu sai khảo sát và tu sửa lại hai huyện Tân Lạc, Bồ Âm thuộc Định Châu, nguyên tác viết 'Tân Bồ Lạc Âm'. Theo sách 'Hoàn Vũ Ký' quyển 62, Định Châu quản lý hai huyện Tân Lạc, Bồ Âm; 'Cửu Vực Chí' quyển 2, Định Châu thuộc huyện có Tân Lạc, Kỳ Châu thuộc huyện có Bồ Âm; 'Tống Sử' quyển 86, 'Địa Lý Chí' phần Trung Sơn phủ thuộc huyện có Tân Lạc, Kỳ Châu 'năm Cảnh Đức thứ nhất dời trị sở về Bồ Âm thuộc Định Châu', thuộc huyện cũng có Bồ Âm. Lại tra 'Tống Sử' quyển 277, 'Tác Tương Truyện' chính là 'Tân Lạc, Bồ Âm'. Nguyên bản đảo lộn, nay sửa lại
  10. Chữ 'hứa' nguyên bản là 'chư', căn cứ vào quyển 6 của 'Biên niên cương mục' và 'Tương truyền' sửa lại.
  11. Chữ 'xử' trong các bản Tống, 'Tống toát yếu' và 'Tương truyền' đều ghi là 'Ngu'. Xét chữ 'xử' có nghĩa là 'dừng lại', tra cứu trong 'Thi・Thiệu Nam・Giang Hữu Dĩ' chú giải, cũng như 'Quốc ngữ・Ngô ngữ' chú giải của Vi Chiêu, ý cũng thông.
  12. lợi ích của dân đều về tay quốc gia 'Quốc' nguyên văn là 'Công', theo bản Tống, bản Tóm tắt Tống, bản các và bản toàn văn Tống sử quyển 5 trên sửa lại.
  13. Đục cửa đẩy trục 'đục cửa' nguyên văn là 'xuất môn' , dẫn theo 'Thục Văn Tập Tồn' quyển 3 Chu Đài Phù ứng chiếu trần tuệ tinh hạn tai sơ sửa. Xem 'Hoài Nam Tử・Binh Lược Huấn', tướng quân nhận mệnh, 'đục cửa dữ ra' , 'đục cửa' đúng nghĩa hơn.
  14. Không biết quân không thể tiến mà bảo tiến, không biết quân không thể lui mà bảo lui, chữ 'không' ở trên 'có thể tiến' và 'có thể lui' đều bị thiếu, theo sách 'Tôn Tử - Mưu Công Thiên' cùng lời giải của người đời Đường, Tống bổ sung.
  15. Huống hồ vùng Giang, Chiết từng có trại nghĩa quân, trong sách 'Thục Văn Tập Tồn' quyển 3, Chu Đài Phù dâng sớ về sao chổi và hạn hán, không có chữ 'trại', theo văn đối ý dưới, chữ 'trại' có lẽ là thừa.
  16. Dư thừa không cho phép chiêu mộ, chữ 'lệnh' nguyên là 'hợp', theo sách trên sửa.
  17. Gần đây bổ nhiệm phần nhiều là những kẻ tầm thường 'tòng' nguyên tác 'viên', theo các bản sửa.
  18. Nguyên văn 'con' dưới có thừa chữ 'đệ', căn cứ vào bản Tống, 'Tống toát yếu' và 'Tống sử toàn văn' quyển 5 thượng, 'Tống sử' quyển 293, truyện Trương Vịnh bỏ. 'Chị' dưới khuyết chữ 'rể', căn cứ theo truyện Trương Vịnh bổ sung.
  19. Nguyên văn khuyết 'di thư', căn cứ 'Biên niên cương mục' quyển 6, 'Tống sử toàn văn' quyển 5 thượng và truyện Trương Vịnh bổ sung.
  20. Nguyên văn 'sái' đổi thành 'lỗi', căn cứ vào bản Tống, 'Tống toát yếu' và truyện Trương Vịnh sửa đổi.
  21. há phải nước lớn tự hạ mình mà tranh chấp chút bực tức với rợ Địch sao? Xét bản Tống, bản Tóm yếu của Tống, dưới câu này đều có thêm 'Vả lại, bậc nhân quân bao trùm vạn phương, há trách chó mèo quen thuộc? Chó mèo dữ tợn, chỉ cần gọi chúng, dùng thức ăn dụ dỗ, chắc chắn sẽ vẫy đuôi đến, nằm phục xuống đất. Nếu trói buộc và đuổi đánh, chúng sẽ sủa nhảy càng dữ.' bốn mươi bảy chữ.
  22. chữ 'thời' nguyên bản thiếu, nay căn cứ vào bản Tống, bản Tống toát yếu và sách 'Trường biên kỷ sự bản mạt' quyển 21 phần 'Chính tích' bổ sung
  23. chữ 'sự' nguyên bản thiếu, nay căn cứ vào sách trên bổ sung
  24. nguyên bản viết 'Vương Tịch', nay căn cứ vào sách 'Miễn thủy yến đàm' 10 quyển hiện còn, đề là của Vương Tịch Chi người Tề Quốc, cùng lời tựa của Mãn Trung Hành xưng cùng đỗ tiến sĩ, danh, tự, quê quán đều giống, sách 'Tống sử' quyển 206 phần 'Nghệ văn chí' cũng chép 'Miễn thủy yến đàm' 10 quyển của Vương Tịch Chi, nay bổ sung chữ 'Chi'
  25. chữ 'dân' nguyên bản thiếu, nay căn cứ vào bản Tống, bản Tống toát yếu và sách 'Trường biên kỷ sự bản mạt' quyển 21 phần 'Chính tích' bổ sung
  26. Chữ 'Xu nhị' nguyên gốc là 'Xu phủ', căn cứ vào bản 'Tống Toát Yếu' và 'Vương Tăng Bút Lục' sửa lại. Theo đó, Tào Vĩ giữ chức Thiêm thư Xu mật viện sự, kiêm chức Hoàn Khánh lộ Đô tổng quản An phủ sứ, nên chữa thành 'Xu nhị' là đúng.
  27. Chữ 'phục' nguyên gốc là 'hậu', căn cứ vào sách trên đã sửa lại.
  28. 'Độ' nguyên bản chép là 'bì', theo 'Tống sử' quyển 273 truyện Hà Thừa Củ và 'Tấu nghị' quyển 322 về việc phòng biên sửa lại.

Bản quyền

Tục Tư Trị Thông Giám Trường Biên Copyright © 2025 by khosachviet.com. All Rights Reserved.