III. TỐNG CHÂN TÔNG
QUYỂN 45: NĂM HÀM BÌNH THỨ 2 (KỶ HỢI, 999)
Từ tháng 7 năm Hàm Bình thứ hai đời Chân Tông đến hết tháng 12 cùng năm.
[1] Mùa thu, tháng 7, ngày Nhâm Ngọ, quần thần dâng biểu xin nghe nhạc, nhưng chiếu chỉ không chấp thuận. Từ đó, họ dâng biểu tổng cộng năm lần, cuối cùng mới được đồng ý.
[2] Vua nghe tin quân Khiết Đan sắp xâm lược, ngày Giáp Thân, lấy Mã bộ quân đô ngu hậu, Trung Vũ tiết độ sứ Phó Tiềm làm Đô bộ thự của hành dinh Trấn, Định, Cao Dương Quan; Tây thượng cáp môn sứ, Thứ sử Phú Châu Trương Chiêu Doãn làm Đô kiềm hạt; Lạc uyển sứ, Nhập nội phó đô tri Tần Hàn làm Bài trận đô giám; Lai châu phòng ngự sứ Điền Thiệu Bân làm Áp tiên phong; Sùng nghi sứ Thạch Phổ cùng làm Áp tiên phong; Đơn châu phòng ngự sứ Dương Quỳnh làm Sách tiên phong.
(Ngày mùng 4 Giáp Thân nhận lệnh, đến ngày 23 Quý Mão mới xuất quân, việc sai tiên phong được ghi lại vào ngày Ất Tỵ, nay ghi chung vào đây.)
[3] Tể tướng Trương Tề Hiền xin cấp ruộng chức điền cho quan lại ngoại nhiệm.
Chiếu chỉ cho Tam Quán và Bí Các xem xét lại các chế độ cũ, định rõ quy chế, lấy ruộng quan trang và ruộng bỏ hoang lâu năm để cấp, đều miễn thuế. Dân làm ruộng lấy từ khách trú, thuế ruộng thu được chia đều, theo như lệ ở quê. Các trưởng lại ở châu huyện được cấp năm phần mười, phần còn lại cấp theo thứ bậc. Ở hai kinh và các phủ lớn được cấp bốn mươi khoảnh, các trấn thứ yếu ba mươi lăm khoảnh, châu phòng ngự và đoàn luyện ba mươi khoảnh, châu thứ sử trung và thượng hai mươi khoảnh, châu hạ và các quân, giám mười lăm khoảnh, các châu nhỏ biên viễn[1], huyện thượng mười khoảnh, huyện trung tám khoảnh, huyện hạ bảy khoảnh, chuyển vận sứ và phó sứ mười khoảnh[2], binh mã đô giám, giám áp, trại chủ, li vụ quan, lục sự tham quân, phán ty đều cấp theo số lượng của thông phán và mạc chức mà chia đều.
Ban đầu, Tam Ty muốn bắt dân làm ruộng chức điền nộp thuế theo lệ. Ngu bộ lang trung Đỗ Hạo cùng các quan tâu rằng xét lại chế độ cũ, các đời trước đều không có văn bản quy định nộp thuế, nên việc này dừng lại.
[4] Triệu Hoành Hải tiết độ sứ, Tri Trấn Châu Vương Hiển vào triều. Ngày Kỷ Sửu, bãi chức tiết độ sứ, vẫn giữ chức Kiểm hiệu Thái uý, làm Xu mật sứ, chỉ tăng thêm thực ấp. (chỉ tăng thực ấp, theo ‘Hội yếu’).
[5] Ngày Canh Dần, Thiểm Châu tâu rằng ở huyện Linh Bảo có mưa lớn, vách đất sạt lở, đè chết hai mươi ba hộ dân. Chiếu chu cấp cho những người còn sống mỗi khẩu một hộc gạo, năm hộ có người bị thương được miễn thuế một năm, tám hộ có người chết được miễn thuế hai năm.
[6] Ngày Nhâm Thìn, chiếu định làm lễ tế Nam Giao vào ngày Đông Chí.
[7] Tư phong viên ngoại lang Cao Như Hối tâu rằng: “Tam ty mỗi lần ban lệnh xuống các châu, thường mất đi sự thông suốt, hoặc bắt nộp vật phẩm không phải là sản vật địa phương, hoặc chuyển dịch thuế má, gây bất tiện cho dân, hoặc lời nói tuy như vì công mà ý lại thiên tư, hoặc việc làm dường như có lợi cho quan mà để lại tai họa về sau, những điều kiện như vậy rất nhiều. Các địa phương vốn bị thống trị, đều tuân theo một mực. Mong rằng từ nay cho phép các quan trưởng châu quân xem xét kỹ lưỡng, nếu thấy thực sự có hại, thì làm sớ bác bỏ tâu lên.” Vua nghe theo.
(Cao Như Hối, không rõ lai lịch.)
[8] Ngày Quý Tỵ, miễn giảm 3/10 thuế ruộng của quân Hoài Dương, do hạn hán.
[9] Ngày Đinh Dậu, Diêm thiết sứ Trần Thứ tâu rằng nha lại Yến Hiền của Viên châu điều trà cương đến Thư châu, giữa sông gặp gió lật thuyền, thiệt hại ước hơn nghìn mân, đã tịch thu tài sản của ông ta. Vua ra chiếu tha tội, trả lại tất cả tài sản đã tịch thu.
[10] Tri châu Lãng, nội điện sùng ban, cáp môn chi hậu Tôn Tồn Trung nổi tiếng liêm chính, ngày Tân Sửu, được ban chiếu khen ngợi.
(Tồn Trung, không rõ lai lịch.)
[11] Ngày Nhâm Dần, Trần Nghiêu Tẩu từ sứ Quảng Nam trở về, tâu rằng các châu ở Tây lộ bị hạn hán. Vua sai quốc tử bác sĩ Bành Văn Bảo tạm quyền chuyển vận ty, ước lượng thiệt hại, miễn giảm thuế má, cứu đói dân chúng.
(Bành Văn Bảo, không rõ lai lịch.)
[12] Ngày Quý Mão, tộc trưởng Đa Lạp của tộc Dụ Lặc Bảng thuộc quân Thanh Viễn đến triều cống.
[13] Ngày Giáp Thìn, Vua đến Quốc Tử Giám, triệu học quan Thôi Ốc Thuyên giảng ‘Thượng Thư đại vũ mô’. Sau đó Vua đến Sùng Văn viện, lên Bí các, xem bút tích của Thái Tông, lòng đau xót mãi. Ban cho bí thư giám, tế tửu trở xuống khí tệ. Ốc Thuyên là em của Di Chính.
[14] Ngày Ất Tỵ, quần thần dâng biểu xin tôn hiệu “Sùng Văn Quảng Vũ Thánh Minh Nhân Hiếu”. Vua không nhận, sau đó quần thần dâng biểu năm lần, Vua mới nghe theo.
[15] Ngày Bính Ngọ, đặt chức Hàn lâm Thị độc học sĩ, lấy Binh bộ thị lang Dương Huy Chi, Hộ bộ thị lang Hạ Hầu Kiều, Công bộ lang trung Lã Văn Trọng đảm nhận. Đặt chức Hàn lâm Thị giảng học sĩ, lấy Tế tửu Quốc tử giám Hình Bính đảm nhận. Ban đầu, Thái Tông sai Văn Trọng làm Hàn lâm Thị độc, thường trực trong cung để chuẩn bị ứng đối, nhưng danh vị chưa cao. Vua kế thừa chí nguyện tiên đế, đặc biệt lập chức này, chọn những bậc lão nho đức cao để bổ nhiệm, bậc lương bổng ngang hàng với Hàn lâm học sĩ. Dựng nhà trực ở Bí Các, Thị độc thay phiên trực, Thị giảng thường trực, ban ngày được cấp thức ăn ngon, ban đêm thay phiên túc trực, sai giám sát sách vở ở Quán Các[3]. Trung sứ Lưu Sùng Siêu mỗi ngày trình danh sách quan túc trực, vào cửa Đông Nội. Từ đó, Vua thường triệu đối hỏi han, có khi đến nửa đêm.
[16] Ngày mùng 1 tháng 8, ngày Tân Hợi, Vua ngự ở điện Văn Đức, bá quan vào chầu, Hữu ty Gián, Trực sử quán Tôn Hà đến lượt đợi chế, dâng sớ nói:
“Lục khanh phân chức, là cơ cấu lớn của quốc gia. Vì thế, phủ hội của nhà Chu, Thượng thư của nhà Hán, đặt nền móng cho mọi chính sự, nắm quy cương của trăm quan, Lệnh, Bộc dẫn đầu thuộc hạ, Thừa, Lang phân nhiệm công việc, hai mươi tư ty sáng rõ như sao vây quanh; Lang trung, Viên ngoại xử lý công việc của bộ, Chủ thư, Lệnh sử tiếp nhận sự vụ, bốn biển chín châu rộng lớn, như lưới có giềng. Có Lại bộ, xét khảo tích để nuôi dưỡng nhân tài; có Binh bộ, chọn xe ngựa để trị quân bị; có Hộ bộ, chỉnh đốn bản đồ để làm giàu tài chính; có Hình bộ, nghiêm kỷ luật để trừng trị kẻ bạo ngược; có Lễ bộ, tế thần linh để chọn hiền tài; có Công bộ, tu sửa cung điện và đê điều, sáu chức vụ hoạt động thì mọi việc thiên hạ đều đủ.
Đời nhà Đường có phong khí thời Trinh Quan, được xưng tụng là bậc nhất. Lúc ấy bờ cõi rất rộng, kinh phí lại nhiều, nhưng cũng không nghe chia tách quyền lợi, cải cách chức vụ sứ, mà vẫn đủ quân nhu.
[Đường] Huyền Tông dấy lòng xa xỉ, tham đất không ngừng, phía bắc gây sự với Hề, Khiết Đan, phía nam đánh Cáp La Phượng, huy động binh lính nhiều, thuế má không đủ, bấy giờ Tiêu Mân, Dương Chiêu bắt đầu lấy chức địa quan xử lý việc độ chi[4], còn Vũ Văn Dung làm sứ thuế địa điều, dù lỗi lầm đã mở, tai họa sắp xảy, nhưng sổ sách căn bản vẫn còn ở Nam Cung.
Đời [Đường] Túc Tông, Đại Tông, vật lực suy kiệt, bấy giờ chức vụ của các cơ quan quan liêu đều bị bãi bỏ, mà bọn thần tử nói về lợi ích đã tranh nhau ra mặt. Thuế má nhiều nguồn, bắt nguồn từ việc chuyên đặt chức sứ, nên đầu đời [Đường] Đức Tông, ban hành chiếu thư, truy theo chế độ cổ, tiền lương trong thiên hạ đều quy về Văn Xương, ai cũng cho rằng chuyện cũ phục hưng, thái bình có thể đạt được. Nhưng trời chưa hối hận về tai họa, loạn lạc liên tiếp, kinh phí không đủ, chức sứ lại được đặt ra, bấy giờ Bùi Diên Linh lấy lợi ích dụ dỗ Vua, còn hơn trước. Từ [Đường] Hiến Tông, Mục Tông trở đi, hoặc vì áp lực quân sự, hoặc vì cấp bách quốc kế, để cứu nguy lúc đó, phần lớn đều dùng quyền nghi mà quyết định. Đời Ngũ Đại ngắn ngủi, không từng nghĩ đến điều này.
Quốc gia có ba vị thánh kế thừa, năm loại binh không cần dùng đến, sự nghiệp thái bình, truyền thống lập chế, đều ở thời điểm này. Nên để ba chức sứ trở lại với sáu khanh.
Có người nói: “Lộc của trăm quan, nuôi sáu quân, đều là vật ấy.” Thần cũng có lời bàn. Phàm việc diêm thiết, tức là quản lý việc khai thác từ núi biển, nhưng vật phẩm không tự tụ lại, cần nhờ đến dụng cụ như nồi muối. Hộ bộ là nơi đều đồng việc thu thuế, nhưng của cải không tự sinh ra, cần tính toán từ ruộng đất. Độ chi là nơi cung ứng cho quốc gia, nhưng lương thực không tự vận chuyển, cần nhờ đến đường thủy. Chỉ cần kiểm tra chặt chẽ, tuân theo lệ cũ mà thiết lập. Nay chi bằng cẩn thận chọn một người làm Hộ bộ thượng thư, chuyên trách việc diêm thiết sứ, cho Kim bộ lang trung, viên ngoại chia nhau xử lý; lại chọn hai vị Thị lang thuộc bản ngạch, chia nhau quản lý Độ chi và Hộ bộ sứ, mỗi việc do các Lang trung, viên ngoại thuộc bản ngạch xử lý. Như vậy ba chức sứ và phán quan, dù giảm bớt cũng chẳng khác gì chưa giảm. Vẫn sai Tả Hữu ty lang trung, viên ngoại tổng quản sổ sách, kiểm tra sai sót.
Có người nói: “Việc gì thuận tiện, làm lâu rồi[5], cần gì thay đổi, xa theo người xưa.” Đó là lời bàn không thông suốt. Chỉ cần kết hợp cả nhã tục, cũ mới cùng tồn tại, thì tiến không lo trục lợi, lui có tiếng tường tận, chức trách cố định, quy chế đã định, chế độ nhà Chu, nhà Đường có thể khôi phục lại. Việc này không khó, chỉ ở chỗ Bệ hạ có thi hành hay không mà thôi.”
[17] Ngày Quý Sửu, Hữu chánh ngôn, Tri chế cáo, phán Đại Lý tự Vương Khâm Nhược tâu: “Bản tự công án thường có từ năm mươi đến bảy mươi vụ, gần đây trong ba mươi ngày không có vụ nào. Xưa Hán Văn Đế xử bốn trăm vụ án, Đường Thái Tông tha cho ba trăm chín mươi người, việc ấy còn được ghi vào sử sách, gọi là ‘hình thố’ (không cần dùng hình phạt). Nay bốn phương rộng lớn, muôn vật đông đúc, mà án tấu đã ngưng lại hơn tháng, đủ thấy rõ sự giáo hóa khiến người ta biết xấu hổ, dần dần hình thành phong khí thái hòa. Xin giao cho Sử quán ghi lại, để tỏ rõ thánh trị.” Vua nghe theo.
[18] Ngày Đinh Tỵ, mở đại yến ở điện Sùng Đức, bắt đầu tấu nhạc.
[19] Ngày Mậu Ngọ, Vua làm thơ ngũ ngôn nhân ngày Xã tặng cho các cận thần và bảo họ họa theo. Các quan tể tướng xin được miễn họa thơ, Vua nói: “Vua xướng, thần họa, vốn là chế độ cũ, không cần nhường nhịn nhiều.”
[20] Ngày Canh Thân, bổ nhiệm Thái thường bác sĩ Lư Diễm làm Khai phong phán quan, Bí thư thừa Lý Phòng làm Thôi quan. Vua bảo tể tướng: “Người có tài, khó lòng biết hết, phải trải qua thử thách mới thấy rõ.” Đến ngày họ vào tạ ơn, Vua đặc biệt triệu họ lên điện, dặn dò về việc trong phủ nhiều việc khó nhọc nên phải chọn lựa cẩn thận, và ban cho mỗi người mười vạn tiền. Diễm là người Truy Xuyên, Phòng là người Nội Hoàng.
Phòng từng nhận chiếu chỉ đi khảo sát hộ khẩu bỏ trốn ở các châu Từ, Tương, thu về hơn mười vạn thuế ẩn, nhân đó xin định lại thuế ruộng công bằng. Ông còn tâu: “Huyện nào có hơn năm mươi hộ bỏ trốn, thì cách chức lệnh tá, nếu trăm hộ thì giáng ba bậc, hai trăm hộ thì cách hẳn, còn ai chiêu mộ được dân thì sẽ được thưởng.” Ông lại nói: “Ruộng bỏ hoang nên lập tức giao cho người khác trồng, khiến họ không dễ bỏ đi mà thuế quan luôn thu được.” Sau đó, ông dâng tấu rằng trong thiên hạ có nhiều án oan, xin cùng các phán quan mỗi ba đến năm ngày vào viện quân tuần của phủ để xét lại những án chưa rõ. Ít lâu sau, ông được điều làm Hạp lộ chuyển vận phó sứ. Trước đây, dọc sông có tám mươi chín trạm dịch, mỗi năm hao tốn nhiều nhân lực, ảnh hưởng nặng đến nông nghiệp. Phòng đều dùng lính thành thay thế, dân chúng cho là tiện lợi.
[21] Ngày Nhâm Tuất, ban chiếu cho những mạc liêu, châu huyện quan đã mãn nhiệm hoặc mãn tang được miễn qua thi tuyển.
[22] Ngày Quý Hợi, phán Đại Lý tự Vương Khâm Nhược dâng tấu: “Viện Đại Lý hồ sơ ít ỏi, xin bãi bỏ bốn chức tường đoạn quan, chỉ giữ lại tám người.” Vua nghe theo. Thời quốc sơ, các chức Đại Lý chính, thừa, bình sự đều có định chế, chia nhau xét xử. Sau này chọn những quan khác hiểu rộng luật pháp, nếu là thường tham thì kiêm chức chính, chưa thường tham thì kiêm chức thừa, gọi là tường đoạn quan, trước là sáu người, dần tăng lên mười hai người, sau bỏ danh hiệu kiêm. Từ đó, lấy tám người là định chế.
[23] Ngày Bính Dần, tổ chức đại duyệt. Trước đó, Vua đã ban chiếu cho các quan chọn địa điểm ở thôn Đông Vũ ngoài cửa Hàm Huy để làm bãi tập. Đêm Ất Sửu, vào canh ba, các quân Điện Tiền, Thị Vệ, Mã Bộ, gồm hai mươi vạn người, lần lượt phân chia ra khỏi các cửa, đến sáng mới hết. Vua cầm cương ngựa ra cửa Đông Hoa[6], tông thất, cận thần, Thượng thư, Thị lang, Ngự sử trung thừa, Cấp gián, Thượng tướng quân, Tiết độ, Quan sát, Phòng ngự, Đoàn luyện, Thứ sử, đều được ban áo giáp để đi theo.
Vua đến hành dinh, các quân dàn trận trước đài, tả hữu đối diện, bộ binh và kỵ binh xen kẽ, các đội vệ sĩ đứng hầu sau đài. Các quan tấu rằng trận đã thành hàng, Vua lên đài quay mặt về hướng đông, triệu các quan theo hầu đến xem. Điện tiền đô chỉ huy sứ Vương Siêu cầm cờ ngũ phương để chỉ huy tiến thoái. Lại dựng hậu đài giữa hai trận để quan sát, sai người cầm cờ ứng phó.
Ban đầu, dựng cờ vàng thì các quân làm lễ, dựng cờ đỏ thì kỵ binh tiến lên, dựng cờ xanh thì bộ binh tiến lên, mỗi khi cờ động thì trống nổi, trống nổi và binh sĩ hò reo, đều ba lần nhảy rồi lui. Sau đó, dựng cờ trắng thì các quân lại làm lễ, hô vạn tuế. Các quan tấu rằng trận thế vững chãi và chỉnh tề, binh sĩ dũng cảm và mạnh mẽ, muốn dựng cờ thêm, Vua nói: “Có thể dừng rồi.” Bèn dựng cờ đen để chỉnh lý quân đội, quân bên trái lược qua trận bên phải để trở về, từ trước đài đi ra góc tây bắc; quân bên phải lược qua trận bên trái để trở về, từ trước đài đi ra góc tây nam để trở về doanh trại. Vua ngự tại cửa Đông Hoa xem các quân trở về doanh, quay lại nói với Vương Siêu rằng: “Binh sĩ nghiêm chỉnh, quân ngũ luyện tập chu đáo, là nhờ sức khanh vậy.”
[24] Ngày Đinh Mão, các cận thần, tướng hiệu các quân, chức nội đều được ban rượu. Ban chiếu miễn thuế ruộng dân bị chà đạp trong đợt đại duyệt.
[25] Ngày Tân Mùi, ban chiếu định số quân thường đi theo châu trưởng, Đô giám, Thông phán tại các Châu thuộc Tiết trấn, Phòng ngự, Đoàn luyện có sự khác biệt.
[26] Ngày Nhâm Thân, ban chiếu cho các quan Chuyển vận sứ phó ở các lộ, từ nay khi tâu xin việc hoặc tiến cử, thuyên chuyển quan lại, đều phải xem xét kỹ lưỡng, đảm bảo lợi ích công tư, không vì tư lợi, mới được trình lên. Nếu sau này việc có sai trái, sẽ bị trách phạt nặng.
[27] Ngày Quý Dậu, Xu mật phó sứ, Công bộ Thị lang Dương Lệ qua đời. Vua nói với các Tể thần: “Lệ là người cương trực, thanh liêm, đáng được trọng dụng, chẳng may mất sớm, thật đáng thương.” Vua bèn đích thân đến viếng tang dưới mưa. Nhà riêng của Lệ nằm trong ngõ nhỏ, xa giá không vào được, Vua phải đi bộ vào, càng thương xót hơn. Sau khi mất, ông được truy tặng chức Binh bộ Thượng thư, sai Trung sứ lo việc mai táng.
[28] Ngày Ất Hợi, lấy Xu mật sứ, tặng Trung thư lệnh, truy phong Tế Dương Quận Vương, Vũ Huệ Công Tào Bân phối hưởng trong Thái Tổ miếu; Tư không, Bình chương sự, tặng Thái uý, Trung thư lệnh Văn Huệ Công Tiết Cư Chính, Trung Vũ quân Tiết độ sứ, Đồng Bình chương sự, tặng Trung thư lệnh, Vũ Huệ Công Phan Mỹ, Hữu bộc xạ, tặng Thị trung, Nguyên Ý Công Thạch Hi Tải, phối hưởng trong Thái Tông miếu.
[29] Ngày Bính Tý, lấy Ty phong lang trung, Tri chế cáo Chu Ngang làm quan dịch kinh, nhuận văn ở Truyền pháp viện. Trước đây, Thái Tông từng viết bài tựa ‘Thánh Giáo’, Vua cũng kế tục soạn thêm, đều được biên vào kinh tạng. Vua còn từng viết sách ‘Thích Thị Luận’[7], cho rằng sách giới luật của Phật giáo, tuy khác với Chu, Khổng, Tuân, Mạnh, nhưng đạo lý thì tương đồng, chủ yếu khuyên người làm thiện, ngăn kẻ làm ác. Không giết hại là nhân, không trộm cắp là liêm, không mê hoặc là chính, không dối trá là tín, không say rượu là trang nghiêm. Nếu tuân theo điều này, người quân tử sẽ nhiều, kẻ tiểu nhân sẽ ít. Lại nói về thuyết ba đường (tam đồ) cũng phù hợp với câu “ba đời ở trên trời, quỷ thần sẽ trừng phạt”. Diêm thiết sứ Trần Thứ từng dâng tấu, cho rằng Truyền pháp viện tốn kém của quốc khố, xin bãi bỏ, lời tâu rất khẩn thiết, nhưng Vua không đồng ý.
[30] Ngày Mậu Dần, Độ chi phán quan, Binh bộ viên ngoại lang Trần Nghiêu Tẩu, Cung phụng quan, Cáp môn Chi hậu Trần Thái, Hộ bộ phán quan, Thái thường bác sĩ Đinh Vị, Hữu thị cấm, Cáp môn Chi hậu Tiêu Thủ Tiết, được phân phái đến Tây Xuyên và Hạp Lộ để thể lượng công sự. Thủ Tiết là con của Kế Huân.
(Trần Thái, chưa thấy ghi chép.)
[31] Khi Tào Bân mắc bệnh nặng, Vua triệu con trai ông là Tứ phương Quán sứ, Lân Phủ đẳng châu Trọc Luân Trại Kiềm hạt Tào Xán về kinh. Sau khi Tào Bân qua đời, Xán được khởi phục làm Khách tỉnh sứ, Phu Diên Lộ Phó đô bộ thự. Tháng chín, ngày Quý Mùi, ông được thăng làm Triệu Châu thứ sử, vẫn giữ chức Phó đô bộ thự như cũ. Quân Tây Khương vốn có thù oán, thường xuyên đánh nhau, nhưng sau khi Xán cùng họ lập minh ước, họ không còn xâm phạm nữa.
(Việc này cần xem xét kỹ, nếu không rõ thì nên bỏ đi.)
[32] Xu mật đô thừa chỉ Vương Kế Anh vì quân Khiết Đan xâm lược, đã xin Vua đi tuần thú phương Bắc. Vua khen ngợi và chấp nhận. Ngày Bính Tuất, Vua sai Kế Anh trạm ngựa đến Trấn, Định, Cao Dương Quan lộ để xem xét việc chuẩn bị hành cung và an ủi tướng sĩ.
[33] Ngày Đinh Hợi, Vua sai Tỷ bộ viên ngoại lang, Trực sử quán Hồng Trạm, Cung phụng quan, Cáp môn Chi hậu Hàn Thiệu Huy đi Kinh Hồ Lộ thể lượng công sự.
(Hàn Thiệu Huy, chưa thấy ghi chép.)
[34] Vua nói với các phụ thần: “Thưởng phạt là hai cương lĩnh để cai trị dân. Thưởng công mà có sai lầm thì còn có thể chấp nhận, nhưng xử phạt không đúng thì dân sẽ kêu ai? Cần phải cẩn trọng trong việc này.”
[35] Ngày Giáp Ngọ, bài vị của Thái Tông được đưa vào thờ tại điện mới ở Khải Thánh viện. Vua lập tức đến bái yết, nhìn ngắm mà khóc thương, khiến tả hữu đều cảm động. Vua ban thưởng tiền bạc cho các thị vệ và binh lính sửa chữa điện. Từ đó, mỗi năm vào tháng giêng, Vua đều đến bái yết, do Thái thường khanh dẫn lễ, các thị thần dâng rượu tế.
[36] Ngày Mậu Tuất, Vua nước Cung Bộ Xuyên Man là Nặc Khu sai con trai là Bộ Đích đến triều cống phương vật. Nặc Khu cũng dâng biểu xin ban ấn “Đại Độ Hà Nam Sơn tiền hậu Đô Quỷ chủ”, Vua sai quan hữu ty đúc ấn ban cho.
[37] Ngày Canh Tý, Vua hạ lệnh cho Hàng Châu, Minh Châu mỗi nơi đặt một Thị bạc ty, cho phép thương nhân ngoại quốc đến buôn bán tự do.
[38] Nhâm Dần, lấy Điện trực Tề Lân làm Cung phụng quan, giám áp quân Ninh Hóa. Lúc ấy, khi Tam ban dẫn vào gặp, Lân tự nhận mình vốn là người Thái Nguyên, từ thời Thái Tổ đến quy thuận, được nhiều lần sai khiến, chạy việc ở các quận biên, nhiều lần giết giặc phương Bắc. Vua hỏi Điện tiền đô chỉ huy sứ Vương Siêu, Siêu tâu: “Dùng Lân làm việc khác thì không phải sở trường, nhưng ông ấy thạo việc biên cương, già càng thêm hăng hái.” Vua hỏi tuổi, Lân đáp: “Thần đã 73 tuổi. Nhưng nếu Bệ hạ cất nhắc, thần vẫn có thể bắt giặc mạnh.” Vua khen là hùng dũng, nên có chỉ mệnh này, ban thêm trăm lạng bạch kim.
[39] Giang Hoài Lưỡng Chiết chế trí trà diêm, Độ chi viên ngoại lang Vương Tử Dư tâu: “Giang, Hoài, Lưỡng Chiết thu được 3.970.000 quan tiền từ việc bán trà và muối, so với định mức cũ tăng thêm 508.000 quan.” Sau đó, ban chiếu cho Tử Dư kiêm quản việc thu thuế phèn, lại lĩnh thêm chức ở Lộ Kinh Hồ.
(Việc kiêm thu thuế phèn cùng quản lộ Kinh Hồ theo ‘Hội yếu’ chép thêm vào đây, không rõ ngày tháng.)
[40] Ban đầu, Phó Tiềm phái tiên phong Điền Thiệu Bân, Thạch Phổ, v.v. đóng quân ở Bảo Châu. Thạch Phổ bí mật bàn với Tri châu Dương Tự kế hoạch xuất binh đánh giặc [8]. Đến đêm, Thạch Phổ và Dương Tự chưa trở về, Điền Thiệu Bân nghi ngờ họ bại trận, liền dẫn quân đến cứu viện. Thạch Phổ và Dương Tự quả nhiên bị quân giặc vây khốn, vượt sông Liêm Lương, bị tổn thất nhiều binh lính. Khi Điền Thiệu Bân đến, liền hợp lực đánh gấp, chém được hơn hai nghìn thủ cấp, bắt được năm trăm ngựa, cùng vũ khí, giáp trụ tương đương. Dương Tự là con của Dương Tín.
Ngày Quý Mão, Phó Tiềm phái Hữu thị cấm Quách Quân cưỡi ngựa nhanh đến báo tin thắng trận. Lúc đó, nhà Vua đang yến tiệc bắn cung ở vườn sau, các quan cùng bái lạy chúc mừng. Ngày Giáp Thìn, lại cùng nhau đến sùng Đức điện chúc mừng.
(Bản kỉ và ‘Thực Lục’ đều chép là đường Liêm Lương, ‘Điền Thiệu Bân truyện’ chép là sông Nghiêm Lương, ‘Thạch Phổ truyện’ chép là thành Viêm Lương, ‘Dương Tự truyện’ cũng chép là Liêm Lương, nay theo ‘Dương Tự truyện’ cùng bản kỉ và ‘Thực Lục’. Xét: ‘Tống Sử’ ‘Thạch Phổ truyện’ cũng chép là thành Liêm Lương, chú dẫn ‘Viêm Lương’, có lẽ sai.)
[41] Bảo châu duyên biên đô tuần kiểm sứ Dương Diên Lãng lúc bấy giờ đang ở thành Toại, thành nhỏ không có phòng bị, giặc đánh gấp rút, vây thành nhiều ngày. Mẹ ông thân chinh đốc chiến, quân sĩ đều lo sợ. Diên Lãng tập hợp trai tráng trong thành lên mặt thành, phát vũ khí, giáp trụ giữ gìn. Gặp trời rất rét, ông sai múc nước tưới lên mặt thành, sáng hôm sau nước đóng băng cả, trơn cứng không thể leo lên được, giặc bèn tan chạy, thu được rất nhiều giáp trụ, khí giới.
(Sự việc này trong sử Thực lục không ghi rõ ngày tháng, nay phụ chép sau việc phá giặc ở sông Liêm Lương.)
[42] Ngày Ất Tỵ, truy tặng nguyên tri nghi châu, nội điện sùng ban Phùng Lệ chức Tả vũ vệ Đại tướng quân, nguyên tuần kiểm các châu Quế, Chiêu, cung phụng quan Vũ Kế Vinh chức Phiêu kị tướng quân. Nguyên trước đó, giặc Man xâm phạm biên giới, Lệ đem quân đánh sâu vào, tử trận, Vua thương xót, nên có lệnh này, lại ban cấp hậu hĩ cho gia đình họ.
[43] Trước đây, cung phụng quan Trương Tòng Cổ làm tri nghi châu, nhiều lần đánh tan giặc Khê Man, chuyển vận sứ Trần Nghiêu Tẩu tâu lên công trạng của ông, ông dần được thăng làm nội điện sùng ban, các môn chi hậu, tại nghi châu tổng cộng tám năm. Sau khi Phùng Lệ tử trận, lại lệnh Tòng Cổ làm tri nghi châu, giặc Man liền không gây hấn nữa. Tòng Cổ là người bình dị.
(Âu Dương Tu trong phần chí về mộ bà Văn Nhã họ Trương có ghi việc Tòng Cổ lại làm tri nghi châu, so với bản truyện thì chi tiết hơn, nhưng thứ tự rất lộn xộn, nay tham khảo mà sửa lại. Việc Tòng Cổ xuất hiện trước đó vào tháng 5 năm Thuần Hóa thứ 5, có lẽ là một người khác.)
[44] Xuống chiếu cho quần thần không thu thuế đối với phần vật phẩm được chiết trừ từ bổng lộc tháng.
[45] Thái tử Thái bảo Lã Đoan cáo bệnh đã đủ 300 ngày, hữu ty nhiều lần nói nên bãi bỏ bổng lộc, Vua đều không đồng ý. Ngày Đinh Mùi, Đoan khỏi bệnh, vào chầu ở điện Sùng Chính.
[46] Mùa thu năm đó, tộc trưởng người Khương nổi loạn ở Hà Tây là Mông Dị Bảo và Xuyết Ngoa thuộc bộ hạ ở Phủ Châu dẫn quân của Triệu Bảo Cát cướp phá vạn hộ cốc thuộc Lân Châu, tiến đến trại Tùng Hoa. Tri phủ châu Chiết Duy Xương cùng với chú họ là Đồng Tuần kiểm sứ Hải Siêu và em là Cung phụng quan Duy Tín dẫn quân chống cự tại thành Hội. Lúc đó, quân của Bảo Cát rất mạnh, Duy Xương dốc sức chiến đấu, bị tên bắn trúng cánh tay trái ngã ngựa, quân sĩ thất thế chút ít. Duy Xương cầm cung đứng dậy, nhờ viên tướng nhỏ dẫn ngựa đưa ông vùng vẫy thoát khỏi vòng vây, còn Hải Siêu và Duy Tín đều tử trận. Vua sai Trung sứ đến thăm hỏi Duy Xương, ban cho kim đan, rượu thượng hạng, áo gấm, đai vàng, ngựa quý, cùng các vật dụng quý giá. Chưa đầy một tháng, đảng của Bảo Cát là Vạn Bảo Di lại đến cướp phá, Duy Xương cùng với Trú bạc Tống Tư Cung, Kiềm hạt Lưu Văn Chất hợp binh đánh bại chúng ở núi Mai Tỉnh, chém và bắt sống rất nhiều, cướp được trâu ngựa, lạc đà, cung tên. Vua ban chiếu khen ngợi.
(Tư Cung chưa thấy ghi chép, chỉ thấy xuất hiện vào tháng 5 năm Tường Phù thứ 2, có lẽ không phải là người này.)
[47] Mùa đông, tháng 10, ngày Canh Tuất (mùng một), vì hai vùng Chiết Giang, Kinh Hồ gặp hạn hán, Vua sai Khố bộ viên ngoại lang Thành Túc cùng ba người khác chia đường đi thăm hỏi và cứu tế dân nghèo.
[48] Ngày Tân Hợi, Vua ban chiếu cho các lộ Chuyển vận ty: từ nay, các quan lại thuộc hạ nếu lười biếng, không làm việc công, đều phải chỉ rõ sự việc, trình bày rõ ràng lên triều đình. Nếu triều đình sai quan điều tra, xét xử xong mà người đó lại kêu oan, phải điều tra lại, nếu rõ ràng là vu khống, thì Chuyển vận sứ và phó sứ ắt phải chịu tội nặng. Lúc đó, có người dâng thư nói rằng Chuyển vận ty khi hặc tấu các quan lại trong địa hạt, thường thiên vị hoặc ghét bỏ, nên mới đặt ra quy định này.
(Theo ‘Hội Yếu’.)
[49] Ngày Nhâm Tý, tướng ở Nghi Châu dẫn hơn 30 tù trưởng người Man từ các động đến yết kiến ở điện Sùng Chính, Vua hỏi: “Các ngươi sao dám tùy tiện xâm phạm?” Họ đáp: “Thần là dân nhỏ ở nơi xa xôi, đâu dám quấy nhiễu vùng biên, chỉ vì đói rét mà thôi.” Vua quay lại bảo tả hữu: “Trước kia ta không muốn tiêu diệt hết, nếu để cho chém giết, thì chẳng còn ai sống sót.” Bèn tha tội cho họ, ban cho áo gấm, mũ đai, tiền bạc, rồi cho về.
[50] Ngày Quý Sửu, bổ nhiệm quân sĩ Lý Vinh thuộc quân Phụng Nhật làm Phó Đô đầu quân Hổ Dực. Trước đó, cha của Lý Vinh là Lý Phan làm Chỉ huy sứ quân Hổ Dực, đóng quân ở Hà Tây, gặp phải quân của Lý Kế Thiên, đã chém giết được vài chục người, thân bị trúng nhiều mũi giáo, vẫn cố sức chiến đấu, nhưng khi ngựa bị trúng tên ngã xuống, nên ông đã hy sinh tại trận. Vua thương xót vì ông chết vì việc nước, nên ban ân thuởng cho con trai ông, và nói với Điện tiền Đô chỉ huy sứ Vương Siêu rằng: “Lý Kế Thiên dẫn hơn một vạn quân xâm phạm biên giới, gặp quân triều đình ở cửa ải, bèn tập kích, giết và bắt được rất nhiều người. Nếu không vì ngựa ngã, Lý Phan cũng không đến nỗi thất bại.” Vương Siêu nói: “Quân triều đình tuy thắng, nhưng ý đồ của địch khó đoán, mong bệ hạ càng thêm cẩn thận phòng bị biên giới.” Vua rất tán thành lời nói đó.
[51] Ra chiếu cho châu Lễ không thu thuế của dân vùng Man vừa trở về làm ăn.
[52] Ngày Giáp Dần, ra chiếu rằng: “Nghe nói dân thường biết có ân xá, nên cố ý đi cướp bóc, từ nay những kẻ như vậy không được tha tội.”
[53] Lệnh cho các lộ Chuyển vận sứ từ nay về sau, nếu trong khu vực quản lý có tăng thêm số hộ khẩu, hoặc những người không vì thiên tai mà bỏ trốn, đều ghi vào sổ, giao cho Tam ty khảo xét, báo lên Viện Thẩm quan để làm căn cứ thưởng phạt.
[54] Ngày Ất Mão, Chuyển vận sứ Phúc Kiến xin bỏ thuế bán sen ở hồ, đầm thuộc châu Chương, để dân được lợi và thuận tiện cho việc tưới tiêu. Vua đồng ý.
(Thực lục chép tên Chuyển vận sứ Phúc Kiến là Triệu Hạ. Xét thấy Triệu Hạ có truyện, mất năm Khang Định nguyên niên, chưa từng nhậm chức ở Phúc Kiến, có lẽ là một Triệu Hạ khác, nên nay bỏ tên ông.)
[55] Trước đó, lộ Phúc Kiến không lập kho lương cho dân, Khố bộ Viên ngoại lang Thành Túc cho rằng vùng xa xôi cần được đặc biệt chăm lo, nên xin lập thêm. Ngày Mậu Ngọ, Vua đồng ý lời xin của Thành Túc.
[56] Ngày Quý Hợi, châu Chương báo cáo núi lở, nước lụt phá hủy hơn một nghìn căn nhà dân, có người bị chết đuối. Vua ra lệnh cho chôn cất, miễn thuế cho người còn sống, cấp lương thực.
[57] Ngày Bính Dần, lệnh cho các lộ Chuyển vận ty thực hiện chế độ Huệ dân thời Thuần Hoá, năm được mùa thì mua với giá cao, năm đói kém thì bán với giá thấp.
[58] Ngày Mậu Thìn, phong Mã Nê, tộc trưởng lớn của 16 phủ tộc Lặc Lãng, chức Quy Đức đại tướng quân, Thứ sử Châu Ân, làm Đoàn luyện sứ bản châu. Lý Kế Phúc, tộc trưởng tộc Dụ Lặc Sấm thuộc địa giới Châu Tuy, được phong Quy Đức tướng quân, sung chức Quân chủ bản tộc.
[59] Ngày Tân Mùi, Trần Tĩnh, viên ngoại lang bộ Hình, trực sử quán, được bổ làm Độ chi phán quan. Trần Tĩnh nhiều lần dâng sớ bàn việc khuyến nông, lại nói: “Quốc gia phòng thủ phía tây bắc nhưng phải dựa vào vận lương từ đông nam, nếu lương thực không đủ sẽ ảnh hưởng đến đại kế. Xin tăng cường tu sửa pháp chế khuyến nông, dùng đó để đánh giá công lao của quan lại các châu huyện, mỗi năm có thể tiết kiệm được hơn trăm vạn thạch vận lương từ Giang, Hoài.”
Lại xuống chiếu cho Trần Tĩnh vạch kế hoạch tâu lên. Trần Tĩnh kiến nghị xin cho Thứ sử đi trông nom mùa xuân, Huyện lệnh khuyến khích việc cày cấy, những người hiếu đệ cần cầy cấy được ban tước, lập tổ chức ngũ bảo để kiểm tra trộm cắp, ghi sổ những dân lười nhác bắt họ làm việc. Chiếu cho Kinh Tây chuyển vận sứ Cảnh Vọng cùng Trần Tĩnh bàn bạc, Cảnh Vọng tâu rằng các đề nghị của Trần Tĩnh đều có thể thực hiện. Lại xuống cho Tam ty bàn, Tam ty xin giao cho Trần Tĩnh, Cảnh Vọng chia lộ đảm nhiệm việc khuyến nông. Tuy nhiên cuối cùng việc này không được thực hiện.
[60] Ngày Quý Dậu, miễn thuế đinh thân năm nay cho hộ trung đẳng ở Hàng Châu, do hạn hán.
[61] Hộ bộ sứ, Hữu gián nghị đại phu Sách Tương nhận chiếu chỉ xét duyệt biên soạn điều lệ của Tam ti, đã cùng Hà Bắc chuyển vận sứ, Hình bộ viên ngoại lang Vương Phù tư thông cầu cạnh, tự ý thay đổi sổ sách.
Ngày Giáp Tuất, Tương bị giáng chức làm Tướng tác thiếu giám, còn Phù bị giáng làm Giám thừa.
[62] Châu Xử tâu rằng lúa đã chín hai lần.
[63] Như kinh sứ Liễu Khai dâng tấu:
“Thần năm ngoái được Bệ hạ phái đến làm Tri châu Đại, năm nay điều chuyển làm Tri châu Hãn, thường thấy người từ phương Bắc quy thuận nói rằng Khiết Đan đang chuẩn bị xâm lược với quy mô lớn. Thần ban đầu chưa dám tin chắc, nhưng từ tháng 8 trở lại đây, nghe tin quân địch đóng quân đông đúc ở biên giới Hà Bắc, nhiều lần xâm phạm trại Bình Hình ở Nhạn Môn và quân Ninh Hóa. Suy đoán âm mưu của chúng, ắt chúng sẽ không dễ dàng rút lui, thần lo sợ rằng khi trời trở rét, Khiết Đan sẽ càng tăng cường tấn công.
Thần ngu muội xin Bệ hạ sau khi hoàn thành lễ tế Giao, ban thưởng xong, trong vòng năm đến bảy ngày, hãy mau chóng khởi giá, thẳng đến Trấn Châu, thân chinh chỉ huy sáu quân, phát huy uy vũ, đừng sinh lòng do dự, đừng nghe những mưu tính chần chừ. Những việc gần đây của Chu Thế Tông cũng như Thái Tổ và Thái Tông của ta đều có thể noi theo. Huống chi Bệ hạ để tang ba năm, không vi phạm lễ nghi, nếu thuận theo hành động này, ai dám chống lại! Nếu Thánh giá qua Hà Bắc, Khiết Đan ắt sẽ tự rút lui, bốn phương tám hướng không ai không khuất phục, việc chính trị thành công đều nhờ vào hành động này.”
[64] Khiết Đan xâm phạm Định Châu, đóng quân ở dịch trạm Hoài Viễn[9]. Chiếu sai Nam tác phường sứ Lý Kế Tuyên dẫn ba nghìn quân đi đánh úp. Đến nơi thì quân địch đã phá cầu, Kế Tuyên bắc gỗ qua sông, đuổi theo hơn năm mươi dặm. Quân địch lại đốt cháy cầu Thường Sơn và Trung Độ, Kế Tuyên lại dẫn quân đến, Khiết Đan nghe tin liền rút trại bỏ chạy. Kế Tuyên hăng hái đánh giặc, nhiều lần đến gặp Đô bộ thự Phó Tiềm xin xuất quân nhưng Tiềm thường ngăn cản, không cho đi đánh xa, vì thế không lập được công.
(Việc này không rõ thời gian cụ thể, ghi phụ vào cuối tháng 10.)
[65] Ngày mùng 1 tháng 11, năm Canh Thìn, bãi bỏ xưởng đúc Long Sơn ở Tề Châu.
[66] Ngày Nhâm Ngọ, lấy Thái thường thừa Lưu Tống làm Chuyển vận phó sứ Hà Bắc. Tống từng tâu rằng: “Các quan chức châu huyện, mạc chức bị cách chức vì tuổi già, trong số đó có những người thực sự liêm chính, cẩn trọng, hoặc có con nhỏ không nơi nương tựa, hoặc không có ruộng vườn để trở về, chỉ nhờ bổng lộc để sống qua ngày. Một khi bị cách chức, họ sẽ rơi vào cảnh đói rét. Điều này dưới triều đại thánh minh, e rằng tổn thương khí hòa. Mong từ nay về sau, họ đều được bổ nhiệm làm quan về hưu.” Lại tâu: “Các pháp quan xử án đều dựa vào văn bản luật lệnh để định tội nặng nhẹ. Khi tâu lên, lại nói ‘lo lắng chưa hợp lý, xin được chỉ thị’, điều này trái với nguyên tắc nhất quán, lại gây phiền phức trong việc xử án. Mong ràng buộc, không được làm như vậy nữa. Hà Bắc sau khi chịu hậu quả của binh đao, dân chúng suy kiệt, các chức mạc chức, châu huyện quan do Lại bộ bổ nhiệm đều là người từ nơi khác đến, không quen phong tục địa phương, lại luôn mong về quê cũ, vì thế chính sự thường bị trì trệ. Xin từ nay về sau, bổ nhiệm người Hà Bắc, mong họ an cư lạc nghiệp, chăm chỉ với chức trách.”
[67] Chiếu rằng từ nay về sau, thân vương kiêm nhiệm Đại đô đốc, Tiết trấn, châu phủ thì không được kiêm chức Trưởng sử.
[68] Ngày Ất Dậu, dâng lễ tế Thái miếu, khi đến điện Thái Tông, Vua khóc ướt áo.
[69] Ngày Bính Tuất, hợp tế trời đất tại đàn Viên Khâu, thờ Thái Tổ, Thái Tông cùng phối hưởng. Lên đàn dâng ngọc bạch xong, mới đến nơi rửa tay, rồi lại lên đàn, theo nghi lễ cũ. Đại xá thiên hạ. Ngự tại điện Triều Nguyên, nhận sách tôn hiệu.
(Theo ‘Đông Đô Sự Lược’ của Vương Xưng: Khiết Đan xâm phạm biên giới.)
[70] Ngày Đinh Hợi, Thừa tướng kiêm Binh bộ thượng thư Trương Tề Hiền được gia phong chức Môn hạ thị lang, Hộ bộ thị lang Lý Hãng được gia phong chức Trung thư thị lang[10]. Thời Thái Tông, khi tổ chức lễ Giao tự để ban thưởng, quần thần phần lớn đều được thăng chức hoặc thay đổi chức vụ, vì vậy Tôn Hà có đề xuất cải cách việc thuyên chuyển quan chức, Tả ty gián Cảnh Vọng cũng lên tiếng về việc này. Từ đó, các quan văn vũ trong triều ngoài trấn chỉ được gia tăng cấp bậc, huân tước và ấp phong.
(Theo sách này. Việc Thừa tướng thuyên chuyển chức vụ, theo chế độ cũ, chức Binh bộ thượng thư nên chuyển sang chức Lại bộ thượng thư[11], chức Hộ bộ thị lang nên chuyển sang Lễ bộ thượng thư, nhưng nay chỉ gia phong Môn hạ thị lang và Trung thư thị lang, không phải là thăng chức. Môn hạ thị lang và Trung thư thị lang, theo nghi thức xếp hàng, đứng dưới Lục bộ thượng thư và Thường thị, đến năm Đại Trung Tường Phù thứ nhất mới được nâng lên đứng trên Thường thị, xếp hàng sau Lục bộ thượng thư.)
[71] Ngày Giáp Ngọ, lấy chức Tả thần vũ đại tướng quân Đức Cung làm Hữu vệ đại tướng quân, kiêm chức Phán quản Quắc châu, Tả vũ vệ đại tướng quân Đức Long làm Hữu vũ đại tướng quân, kiêm chức Phán quản Trừ châu. Đức Cung và các quan dâng tấu chương, xin được tham dự triều hội. Được chấp thuận.
[72] Thủ lĩnh lớn của tộc Tang Tài tám nhánh ở Phong Châu, Hà Bắc là Giai Thưởng La và các người khác dâng ngựa quý để tiến cống.
[73] Ngày Ất Mùi, ban chiếu rằng vì biên giới nhiễu loạn, sẽ tạm thời đến Hà Bắc vào tháng tới. (Sách “Thực lục” chép chiếu thân tuần Hà Bắc vào ngày Tân Hợi tháng chạp, nay theo bản kỷ.) Lệnh cho Tuyên huy bắc viện sứ Chu Oánh làm Đô bộ thự tiền quân tùy giá, Ung Châu quan sát sứ Lưu Tri Tín làm phó tướng; Nội thị đô tri Dương Vĩnh Tuân[12] làm Đô giám bài trận; Bảo Bình tiết độ sứ, Phò mã đô uý Thạch Bảo Cát làm Đô bộ thự tiên phong hành dinh bắc diện, Từ Châu phòng ngự sứ Khang Đình Hàn làm phó tướng, Minh Châu đoàn luyện sứ Thượng Quan Chính làm Kiềm hạt.
(Dương Vĩnh Tuân, Khang Đình Hàn chưa thấy ghi chép.)
[74] Ngày Bính Thân, Nội viên sứ Tào Tịch vì phạm lỗi ở cửa khuê không nghiêm, bị cách chức làm Quân châu đoàn luyện phó sứ. Tịch là con của Tào Bân, cũng là con rể của Tần vương.
[75] Ngày Kỷ Hợi, Vua đi săn ở vùng ngoại ô kinh thành.
[76] Xuống chiếu cho những người bị trở ngại trong việc tuyển chọn cùng những người dân thường, đều được phép tham gia tuyển chọn. Từ đó đến năm Thiên Hi thứ 3, tổng cộng đã ban bảy chiếu chỉ như vậy.
[77] Ngày Tân Sửu, ban tặng vải lụa và quần áo cho chín mươi mốt cụ già ở kinh thành, như ông Chúc Tán.
[78] Lưỡng Chiết chuyển vận sứ xin xuất mười vạn thạch gạo từ kho của Thường châu và Nhuận châu để cứu đói dân chúng, Vua đồng ý.
[79] Ngày Mậu Thân, lấy Thừa tướng Lý Hãng làm Đông kinh lưu thủ, Hào châu thứ sử Lý Trứ làm Đại nội đô bộ thự, quyền tri Khai Phong phủ Ngụy Vũ làm Phán lưu ty Tam ty, Diêm thiết sứ Trần Thứ làm Tùy giá chuyển vận sứ.
(Theo ‘Tống triều yếu lục’: Lấy Định quốc tiết độ sứ Ngụy Hàm Tín làm Bối Ký lộ hành dinh đô bộ thự.)
[80] Vua cho rằng Thái tử thái sư, phân ty Tây Kinh Trương Vĩnh Đức là tướng lão luyện, bèn triệu vào để bàn việc quan trọng ở biên cương. Đến ngày Tân Hợi tháng chạp, phong ông làm Kinh thành nội ngoại đô tuần kiểm sứ.
[81] Ngày Quý Sửu, ban tặng quần áo chiến đấu và ngựa cho các đại thần.
[82] Ngày Giáp Dần, xa giá rời khỏi kinh thành.
[83] Ngày Ất Mão, dừng ở huyện Trường Viên, lên đông đình của hành cung, nhìn ra ngoài thành, nói với tả hữu: “Dân cư đông đúc, đây quả là một ấp tốt.” Sai sứ ban trà và trái cây cho tất cả các vệ sĩ.
[84] Lệnh cho Phụng nhật tả sương đô chỉ huy sứ Trương Mỹ và những người khác tuần tra từ Thiền châu đến Thiên Hùng quân.
(Trương Mỹ, không thấy rõ tiểu sử.)
[85] Ngày Bính Thìn, dừng ở huyện Vi Thành, lên đông đình của hành cung, thấy binh lính làm việc ở xưởng xe có người áo rách, liền ban tiền cho họ.
[86] Ngày Đinh Tị, dừng ở huyện Vệ Nam.
[87] Ngày Mậu Ngọ, đóng quân ở Thiền châu.
[88] Ngày Kỷ Mùi, Tri châu Ký Châu là Trương Mân sai sứ chạy trạm tâu lên rằng đã đánh bại quân Khiết Đan ở phía nam thành, giết hơn nghìn người, thu được trăm con ngựa.
(Sách ‘Uất Chiêu Mẫn Chánh Truyện’ chép: Chiêu Mẫn làm Đô giám hành dinh Bối Ký, quân Khiết Đan đem năm nghìn kỵ binh đột kích đến phía nam thành Ký Châu. Chiêu Mẫn chỉ huy quân bộ đánh lại, đánh bại chúng, thu được khí giới và giáp trụ, giặc bỏ chạy, còn quân triều không mất một người. Chân Tông nghe tin rất vui mừng. Xét theo ‘Thực Lục’, tin thắng trận này đến hành tại vào ngày Kỷ Mùi tháng chạp, tám ngày sau là ngày Đinh Mão, mới ghi chép việc Nội điện Sùng ban Uất Chiêu Mẫn làm Đô giám, e rằng lúc thắng trận Chiêu Mẫn chưa làm Đô giám. Cần xem xét thêm.)
[89] Cùng ngày, chém đầu ba người là Ngô Vinh và hai người khác, đều là Điển quân Tri lương thuộc quân Phụng Nhật, vì tội ăn cắp và làm thiếu hụt lương quân.
[90] Ngày Tân Dậu, đãi yến các bề tôi theo hầu tại hành cung, lấy Điện tiền Đô chỉ huy sứ Vương Siêu, Quyền Đô ngu hậu Trương Tiến làm Đề điểm tiền phong đại trận, Mã bộ quân Đô quân đầu Hô Diên Tán, Mã quân Đô quân đầu Vương Tiềm làm Tiên phong, Binh Châu Phòng ngự sứ Vương Vinh, Mã bộ quân Phó đô quân đầu Vương Kế Trung làm Sách tiên phong. Trong cung đưa ra bản đồ trận pháp cho Siêu xem, bảo họ nhận rõ phần vụ. Trương Tiến là người Khúc Phụ; Vương Kế Trung là người Khai Phong.
(Vương Tiềm chưa thấy chép rõ.)
[91] Ngày Nhâm Tuất, ban cho các phụ thần áo giáp, cung tên, kiếm, ngự giá đến cầu phao, lên đình bên sông, ban cho các bậc phụ lão ở Thiền Châu áo gấm, trà và lụa.
[92] Ngày Quý Hợi, (14 ngày), dừng chân tại Thanh Đức Quân.
[93] Ngày Giáp Tý, dừng chân tại Đại Danh Phủ, nhà Vua mặc áo giáp ở trung quân, Xu mật sứ Vương Hiển, Phó sứ Tống Thục chia nhau chỉ huy hậu trận, kéo dài mấy chục dặm.
[94] Uy lỗ quân báo rằng quân Khiết Đan đến cướp phá, bèn xuất binh đánh bại chúng, giết được chủ tướng của địch. Khi giặc vừa đến, quan Tri quân Thạch Bảo Hưng tự ý lấy của cải trong kho phân phát cho quân sĩ. Người chủ quản cứ khăng khăng không chịu, Bảo Hưng nói: “Thành nguy ngập như thế này, còn kịp bẩm báo gì nữa [13]. Đợi sau khi sự yên ổn, tôi nguyện đền bù bằng gia sản của mình.” Khi giặc rút lui, Bảo Hưng đem việc này tâu lên, Vua tha tội, không truy cứu. Bảo Hưng là con trưởng của Thạch Thủ Tín.
[95] Dân chúng Hà Bắc nhiều người hoảng loạn, ngày Bính Dần, sai quan Đồn điền lang trung Lý Phàn cùng bảy người khác chia nhau đến các châu Hình, Minh, Kỳ, Triệu, Hùng, Bá, Bối, Ký, đi khắp các làng xã, truyền đạt rằng xa giá của Vua đã đến Đại Danh, hãy mau trở về làm ăn, lại ra chiếu lệnh cho các châu huyện phải tăng cường thương xót, giúp đỡ họ.
[96] Vua lên lầu thành phía nam của thành con thuộc Đại Danh, hỏi quan Tri phủ sự Lưu Tri Tín: “Trong thành có bao nhiêu dân cư?” Tri Tín đáp: “Chủ và khách hợp lại có đến mấy vạn nhà.” Vua quay lại bảo các quan phụ tá: “Các phiên trấn ở Hà Sóc, nơi này thật là đô hội vậy.” Hôm sau, triệu kiến tám mươi bốn vị phụ lão, ban thưởng, ủy lạo họ.
[97] Ngày Đinh Mão, quan Tả thị cấm, Cáp môn chi hậu Vệ Cư Thực từ Phủ châu chạy ngựa vào tâu: “Quan Trú bạc Tống Tư Cung cùng quan Tri châu Chiết Duy Xương, Kiềm hạt Lưu Văn Chất dẫn quân vào Ngũ Hợp Xuyên thuộc Khiết Đan, phá được trại của Hoàng Thái úy, giết sạch quân địch, đốt hơn một ngàn năm trăm trại, thu được vạn con ngựa chiến, trâu dê, cùng hơn ngàn bộ áo giáp, cung kiếm.” Vua ban cho Cư Thực gấm bào, đai bạc, thúc bạch, thăng làm Cung phụng quan; lại ban cho Tư Cung và những người khác gấm bào, đai vàng, thăng chức cho những tướng sĩ lập công. Ban thưởng vật phẩm khác nhau cho các thủ lĩnh phiên bộ.
(Vệ Cư Thực, chưa rõ lai lịch.)
[98] Lấy quan Tân châu phòng ngự sứ Vương Vinh làm Phó đô bộ thự hành dinh Bối, Ký châu. Trước đó, Đô bộ thự Thạch Bảo Cát đến Thiên Hùng, tiến quân chậm trễ, có chiếu thúc giục, đến Bối châu thì quân địch đã rút lui. Liền triệu Bảo Cát về.
Trước đây, Hà Bắc chuyển vận sứ Bùi Trang nhiều lần dâng tấu trình rằng Phó Tiềm không có tài cầm quân, e rằng sẽ bỏ lỡ cơ hội. Xu mật sứ Vương Hiển cùng Tiềm vốn là người thân cận, thường bao che, nên khi tấu chương của Trang đến, đều không báo.
Tiềm đóng quân ở Định châu, các thành trì biên giới đều gấp rút gửi thư cáo cấp, quân bộ và kỵ dưới trướng Tiềm có hơn tám vạn người, đều tự trang bị vũ khí sắt, tranh nhau muốn đánh giặc. Tiềm nhút nhát, đóng cửa cố thủ, tướng sĩ xin ra trận thì bị mắng nhiếc thậm tệ. Không lâu sau, quân địch phá các trại ở núi Lang Sơn, dồn lực đánh Uy Lỗ, hai ngày đêm không thắng, liền rút quân đánh chiếm Ninh Biên quân, tiến vào Kỳ, Triệu, cướp bóc khắp nơi, kỵ binh tuần tiễu xuất hiện giữa Hình, Minh, khiến dân chúng hoảng loạn, già trẻ tranh nhau chạy vào thành, đường từ Trấn, Định bị cắt liên lạc hơn một tháng.
Triều đình nhiều lần sai sứ đi đường tắt, thúc giục xuất quân, phối hợp với các đạo quân khác cùng đánh. Đô giám Tần Hán và Định châu hành dinh đô bố thự Phạm Đình Triệu nhiều lần thúc giục, nhưng Tiềm không nghe. Đình Triệu tức giận, quở trách Tiềm rằng: “Ngài tính nhút nhát, chẳng bằng một người đàn bà.” Tiềm không đáp lại được. Đô kiềm hạt Trương Chiêu Doãn lại khuyên Tiềm, Tiềm cười nói: “Thế giặc như thế này, bắt ta đối đầu, chỉ làm hao tổn khí lực mà thôi.” Người nghe không ai không nắm tay tức giận. Đình Triệu liên tục thúc giục, Tiềm mới chia tám ngàn kỵ binh, hai ngàn bộ binh giao cho Đình Triệu, lệnh ra chặn đánh ở Cao Dương quan, hứa sẽ xuất quân hỗ trợ, nhưng Tiềm vốn chẳng có ý định ra quân.
Khi nhà Vua sai Thạch Bảo Cát, Thượng Quan Chính từ Đại Danh đưa tiền quân đến Trấn, Định hợp lực đánh, Tiềm vẫn trì hoãn không xuất quân.
[99] Ngày Bính Tý, chiếu cho Ngự sử trung thừa Ngụy Tường, dụ các quan dâng tấu chương, thẳng thắn bàn việc biên cương. (Việc này chép theo ‘Tôn Hà tập’, là chuyện ngày 26 tháng này.) Sau đó, Công bộ thị lang, Tập hiền học sĩ Tiền Nhược Thủy tâu rằng:
“Bệ hạ tự mình mặc giáp trụ, đóng quân ở quận Nguỵ, đã hơn mười ngày mà tin thắng trận vẫn chưa tới. Điều cấp bách hiện nay, đại khái không ngoài việc lập kế hoạch chống giặc ngay lúc này và tìm phương sách yên ổn biên cương về sau. Thần nghe Tôn Vũ viết sách, lấy mưu lược đánh giặc làm đầu, Hán Cao Tổ dùng tướng, lấy việc dùng phép làm trọng. Thế nào là dùng mưu? Là tướng soái có thể đoán địch mà giành thắng lợi. Thế nào là dùng phép? Là triều đình có thể thưởng phạt công bằng.
Hiện nay, Phó Tiềm nắm trong tay mấy vạn quân tinh nhuệ, đóng cửa không ra, ngồi nhìn quân địch cướp bóc dân chúng, trên thì phụ lòng tin tưởng của Bệ hạ, dưới thì làm nhụt chí khí quân đội. Ấy là do Phó Tiềm không thể thắng địch, triều đình không dùng phép luật mà ra nông nỗi này. Quân pháp nói: “Đứng trước trận mạc mà không tuân lệnh thì chém.” Nếu giờ đây minh thị quân pháp, chém Phó Tiềm để răn đe, sau đó đề bạt những người như Dương Diên Lãng, Dương Tự năm bảy người, thăng chức tước, trao binh quyền, sai họ chỉ huy vài vạn quân, dùng thêm cung nỏ mạnh, chia đường tiến đánh, ai dám không tuân lệnh? Khiết Đan nghe tin tướng soái của ta ai nấy đều tuân lệnh, lui thì chết[14], há chẳng sợ sao? Đã sợ thì chẳng những chỉ muốn chạy trốn, mà sang năm cũng không dám xâm phạm biên giới nữa. Như vậy, chưa đầy nửa tháng, có thể yên ổn biên cương, rồi Bệ hạ trở về kinh sư, uy danh sẽ vang khắp bốn cõi.
Thần từng đọc sử cũ, khi Chu Thế Tông mới lên ngôi, Lưu Sùng liên kết với Khiết Đan xâm lược, sai đại tướng Dương Cổn dẫn mấy vạn kỵ binh theo Sùng đến Cao Bình. Bấy giờ, các tướng hèn nhát như Phàn Ái Năng, Hà Huy đều không dám giao chiến, Thế Tông biết chuyện, hôm sau mở tiệc lớn, chém Ái Năng, Huy, đề bạt hơn mười viên tướng nhỏ, chia quân đánh Thái Nguyên. Lưu Sùng nghe tin, run rẩy không dám ra, Khiết Đan ngay hôm đó rút lui. Nhờ đó, uy võ quân đội vang dội, thu phục Hoài Điện, hạ Tần Phượng, bình Quán Nam, dễ như cuốn chiếu. Bệ hạ thông minh thánh võ, há thua kém Thế Tông ư? Đó chính là kế sách chống giặc ngay lúc này vậy.
Kế sách an biên trong tương lai, thần không dám viện dẫn nhiều chuyện xưa, chỉ xin lấy việc gần đây mà nói, Thái Tổ chế định chính sách đã đạt được sự phù hợp nhất. Ông bố trí Quách Tiến ở Hình châu, Lý Hán Siêu ở Quan Nam, Hà Kế Quân ở Trấn Định, Hạ Duy Trung ở Dịch châu, Lý Khiêm Bạc ở Thấp châu, Diêu Nội Bân ở Khánh châu, Đổng Tuân Hối ở Thông Viễn, Vương Ngạn Thăng ở Nguyên châu, chỉ ban cho danh hiệu Tuần kiểm vùng biên, không giao chức Bộ thự Hành dinh, đều giữ nguyên chức vụ hơn mười năm, người lập công biên cương thì được ban thưởng hậu hĩnh, nhưng chức vụ cũng không vượt quá Quan sát sứ. Chức vụ không cao thì triều đình dễ kiểm soát, giữ nguyên lâu dài thì am hiểu tường tận việc biên cương, rồi sau đó ban cho mưu lược sáng suốt, không cho phép gây sự, giặc đến thì tiêu diệt, giặc đi thì không đuổi theo. Bởi vậy, trong mười bảy năm, Bắc Địch và Tây Phiên không dám xâm phạm biên cương, thậm chí nhiều lần cử sứ giả đến trước cầu hòa.
Những việc này đều rõ ràng trước mắt[15], Bệ hạ đều biết rõ. Thần xin mong noi theo việc cũ của Thái Tổ, lựa chọn bậc danh thần, phân công coi sóc các quận biên cương, bãi bỏ danh hiệu Bộ thự, khiến họ không thống lĩnh lẫn nhau, đặt lại danh hiệu Tuần kiểm, để họ tương trợ lẫn nhau, như thế thì ra ngoài ắt đánh giặc, vào trong thì giữ thành, chẳng bao lâu nữa, có thể khiến cho lửa cháy biên cương được dập tắt, không còn cảnh báo.”
[100] Khởi cư xá nhân, trực sử quán Lý Tông Ngạc tâu:
“Quốc gia trị biên, mưu chế thắng, tài năng tướng lĩnh, số lượng quân đội, kế sách của triều đình, đều nằm trong quỹ đạo. Nay những người bàn việc, chỉ xin Bệ hạ xuất binh lớn, tích trữ lương thực, hợp lực tiêu diệt, chia đường tập kích. Điều này nói thì dễ, làm thì khó. Khi mới nhận mệnh, chỉ nghĩ đến việc công phá trận địa là kế hoạch lớn, đến khi gặp địch thì lại chỉ coi việc đóng cửa phòng ngự là kế trên, phụ lòng giao phó của Vua cha, khiến dân chúng lâm vào cảnh khốn cùng. Nói đến đây, thật đáng thở dài.
Theo thần thấy, có điều khác biệt. Từ xưa hành quân xuất chinh, đều trước hết chọn tướng lĩnh. Tướng lĩnh không nhất thiết phải là người trấn thủ cầm quân cấm vệ mới được giao việc ngoài biên. Trước hết phải xem cách họ cư xử, xét mưu trí của họ, ai có khả năng chỉ huy nghìn người thì giao quyền nghìn người, ai có thể địch nổi vạn người thì trao chức vạn người. Mỗi người trấn giữ một quận, kiểm soát một thành, phân lĩnh quân tinh nhuệ, chiếm giữ nơi hiểm yếu, địch đến thì đánh gấp, địch rút thì không truy. Lại cần gì phải đặt tên ba lộ bộ thự, quyết định sinh tử của sáu quân, khiến người tài năng không được thi thố, dù muốn lập công lớn, báo đáp ân sủng, nhưng bị người khác khống chế, cũng không thể được.
Vào mùa thu năm nay, Bệ hạ đã chọn tướng lĩnh, giao phó việc phương bắc, đem quân tinh nhuệ tập trung tại Trung Sơn, các thành ven biên giới đều tuân theo sự chỉ huy của họ. Việc tuyển dụng không phải là không chu đáo, quyền vị không phải là không trọng đại, lời răn dạy không phải là không thận trọng, cách xử lý không phải là không chuyên chú. Thế nhưng, khi Hung Nô xâm phạm biên ải, vùng Hà Sóc bị khuấy động, đất Ký, Triệu nhân dân lâm vào cảnh khốn cùng, ruộng vườn trở nên hoang tàn, trẻ già ly tán. Đến tháng lạnh giá, Bệ hạ thân chinh, nhưng không thấy một người lính, một kỵ binh nào được điều đi cứu viện. Họ dường như không hiểu ý nghĩa của việc đào hào sâu, đắp lũy cao, nuôi ngựa béo, rèn binh hùng[16], để làm gì? Thần cho rằng giữa lúc này, cần thay tướng tại trận, đề bạt quân sĩ lên làm tướng; người có công thì thưởng tại triều, kẻ bất tuân mệnh thì chém giữa chợ.
Thần không dám dẫn việc xưa xa xôi để làm phiền thánh thính. Gần đây, Chu Thế Tông phía tây lấy đất Tần, Phượng, phía nam bình định Hoài Điện, phía bắc thu phục Quan Nam, chỉ trong vài năm, uy danh chấn động thiên hạ, Khiết Đan phải nép hơi không dám nam tiến. Nguyên nhân là do trận Cao Bình, giết mấy viên đại tướng như Hà Huy, Phàn Ái Năng. Từ đó, các tướng lĩnh đều sợ hãi, biết rằng pháp lệnh sẽ được thực thi nghiêm minh, không được dung túng, ai nấy đều tranh nhau tận lực, đi đâu cũng thành công.
Hiện nay, đóng quân tại Toàn Ngụy, chỉ cách mặt trận vài bước, sớm tối mong nghe tin thắng trận, cần phải bày mưu phá địch, sao lại chỉ dẫn lời trách tướng! Lời của kẻ nho sinh nhu nhược chẳng ích gì cho việc lớn. Uy lệnh không chấn, quân pháp không thi hành, tuy có công tạm thời, nhưng chẳng phải là kế lâu dài. Giả như năm nay kẻ địch mạnh bỏ chạy, sang năm lại theo mùa thu mà tới, giày xéo lúa mạ, xâm lấn quận huyện, liệu Bệ hạ có lại sai tướng trước đi chống giữ chăng? Điều này thần không biết được. Quan biên cương thấy vậy ắt sẽ bắt chước mà nói: ‘Người ấy làm đại tướng, nắm quân trọng yếu, ngồi yên trong thành kiên cố không nghe bị tội, chúng ta cần phải làm gì nữa?’ Đây chính là thi hành chính sách khoan dung, đi theo đường lối cũ kỹ, khiến cho Hà Bắc mấy nghìn dặm cùng mấy vạn quân tinh nhuệ ngồi mà làm mồi cho Hung Nô. Những điều trước đây nói về việc thay tướng, bãi tướng, phạt tội, thưởng công, thời cơ không thể bỏ lỡ, xin Bệ hạ mau chóng thi hành, sau đó ban chiếu thư đau buồn, thực hiện ân huệ giảm thuế, trở về kinh đô, ngồi yên trị vì, há chẳng phải là việc tốt đẹp sao!”
[101] Hữu ty gián, trực sử quán Tôn Hà tâu:
“Kể từ khi Bệ hạ lên ngôi, huấn luyện quân sĩ, chọn dùng tướng lĩnh, có thể nói là rất nhiều, với đại độ của Cao Tổ, cùng lòng trung thành của Tiêu Vương, uy vũ vượt các vị Vua đời trước, binh lính tinh nhuệ gấp bội thời xưa, đủ để chặt đứt cánh tay phải của Hung Nô, đón tiếp Hô Hàn đến chầu. Những người trấn thủ biên cương, cầm quyền trọng binh, vốn nên lấy việc thân chinh tiên phong làm tâm, lấy để quân địch đến xâm phạm quân phụ làm điều nhục nhã. Thế mà các thành liên tiếp, chỉ biết giữ mình, nắm quân mạnh nhưng ngồi yên bỏ bê kế hoạch, khiến cho Khiết Đan đốt phá huyện thành, bắt bớ dân chúng. Bệ hạ giương cao cơn phẫn giận của trời người, lại thương xót sinh linh Hà Sóc, thân chinh dẫn đại quân đến Thiền, Ngụy, tiếng uy chấn động, kẻ địch bỏ chạy bốn phương, tuy đường Trấn, Định đã thông, nhưng lửa bụi ở Đức, Lệ vẫn chưa dứt. Điều này chắc là do tướng soái chưa được chọn người tài, biên tấu có khi bị che lấp, lân cận không tương cứu, lương thảo phải đợi vận chuyển mà nên vậy.
Tướng súy là gì? Có kẻ ỷ mạnh mà không có mưu lược, có kẻ ghen ghét công lao và xem thường giặc, chỉ lo giữ thành trì mà không thương xót dân chúng.
Việc báo về biên giới ra sao? Các quan giữ biên cương chỉ biết vun vén bổng lộc, duy trì địa vị, thành trì bị đốt phá cướp bóc nhưng không báo cáo đúng sự thật, dân già trẻ nhỏ bị giết hại mà lại đổ tội cho bọn trộm cướp khác.
Vì sao không đến cứu viện? Các thành ấp dọc biên giới liền kề như răng chó, phụ thuộc lẫn nhau như môi với răng, bảo vệ lẫn nhau như đầu với chân tay, có kẻ viện cớ quân ít nên không ra quân, có kẻ lại chờ lệnh trên phê chuẩn mới hành động.
Vì sao chậm trễ việc vận chuyển? Kỵ binh địch đi lại nhanh như gió, như chim bay[17], lương thảo theo sau, vạn xe mới bắt đầu hành quân, đến khi ta tới nơi thì giặc đã bỏ chạy.
Bốn việc này là những nhiệm vụ cấp bách hiện nay. Lựa chọn tướng súy thì không gì bằng trong hàng ngũ văn võ, dùng thêm những bề tôi có mưu lược. Để tránh việc bị bưng bít thông tin, không gì bằng việc khi báo cáo về biên phòng, phải được Hoàng thượng gặp mặt và chất vấn tại triều đình. Để hợp sức cứu viện, không gì bằng dùng quân lệnh mà giám sát, cho phép tùy cơ xử lý. Để vận chuyển lương thảo, không gì bằng mang nhẹ đi nhanh, đua với sự nhanh nhẹn của địch.
Hiện nay, xe tứ mã của Hoàng thượng đã đóng ở Nghiệp Hạ, Khiết Đan rốt cuộc không dám nảy ý xâm lược phương Nam, điều đáng lo lắng là những thành trì ở đông bắc không được phòng bị. Việc tu sửa và củng cố phòng thủ chu đáo không thể không cẩn thận. Hơn nữa, giặc phương tây sợ đại quân của ta, phương bắc không có đường về, tàn quân của chúng có thể còn chưa bị tiêu diệt hết, cần phải chuẩn bị trước trong trường hợp chúng chạy loạn. Những chỗ qua lại trên sông lớn đều có, cũng mong phân bố quân tinh nhuệ, giữ vững những nơi yếu hại, thì chẳng bao lâu có thể bắt được Thiền vu.”
[102] Hữu chánh ngôn, Trực tập hiền viện Triệu An Nhân tâu:
“Thần cho rằng hiện nay có ba việc cấp bách, và năm việc quan trọng lâu dài.
Ba việc cấp bách:
Một là kích lệ các tướng quân, thi hành pháp chế thưởng phạt. Từ khi chuẩn bị phòng thủ mùa thu đến nay, có người bảo vệ một đạo quân, giữ một thành lũy mà lập công; cũng có người nắm giữ binh quyền trọng yếu, đóng quân ở vị trí chiến lược nhưng không có thành tích. Vì vậy, chưa thể xóa bỏ dấu vết của kẻ địch xảo trá, chấm dứt mưu đồ xâm lược của chúng. Nay nếu ai có công thì được ban thưởng hậu hĩnh, tăng thêm binh lực mạnh mẽ, cho trấn thủ nơi hiểm yếu; kẻ không có hiệu quả thì tước quyền thống lĩnh binh mã, ban hình phạt nặng, trừng trị tội chần chừ tránh chiến. Như vậy, uy phong của quân đội tự nhiên sẽ vang dội, khí thế giặc sẽ tự tiêu tan. Vì thế, thưởng phạt không thể không thi hành.
Hai là cứu tế dân biên giới, ban ân huệ ưu đãi và thương xót. Từ khi quân Khiết Đan quấy nhiễu biên cương, có dân biên giới bị giặc bắt giết chết trong đao kiếm, hãy sai sứ thu nhặt thi thể chôn cất; có gia đình ly tán, nhà cửa bị thiêu rụi, quan chức địa phương phải phủ dụ và thương xót; có người vì giữ thành lũy mà bỏ lỡ việc canh tác, quan phủ phải hỗ trợ khôi phục. Vì vậy, ưu đãi và thương xót không thể không thực hiện.
Ba là đề nghị xa giá trở về kinh đô, củng cố uy thế thần vũ. Bệ hạ ngự trị trung ương, soi sáng bốn biển, vì một phương động loạn mà khiến xe vạn thừa phải vất vả tuần du. Nay các quan biên cương đã thực hiện thưởng phạt nghiêm minh, phong tục biên thùy cũng thuận theo sự yên ổn, nên trở về phụng thờ tông miếu, để làm yên lòng người xa gần. Uy thế thần vũ không thể không coi trọng.
Những điểm chính yếu có năm: Thứ nhất là chọn lựa tướng lược. Hiện nay, binh sĩ đã được huấn luyện kỹ càng và số lượng rất đông, nhưng khi dùng ở biên cương, lập công rất ít, thực sự là do chủ tướng không có mưu lược. Há chẳng phải người chỉ có sức mạnh của một kẻ võ biền, không đủ để đối phó với vạn người sao? Xưa kia, Khước Hộc làm Tướng trung quân, thông thạo thi, thư, nói lễ, nhạc; Đỗ Dự dẹp yên nước Ngô, trên lưng ngựa vẫn nghiên cứu kinh Xuân Thu. Những tướng lĩnh theo Nho học, hiểu rõ sự tồn vong, thấu suốt thành bại, tìm kiếm ở thời nay, mỗi thời đại đều không thiếu người hiền. Thái Tổ, Thái Tông từng tự tay chọn lựa nhân tài trong thiên hạ, nay phân bố khắp trong ngoài[18], không dưới mấy nghìn người, trong đó có người biết binh pháp, có thể làm tướng. Nếu chọn dùng họ, thì việc thống lĩnh quân đội, huấn luyện binh sĩ, an định biên cương, đối phó với kẻ địch, há chẳng tốt hơn người chỉ có sức mạnh của một kẻ võ biền sao? Huống họ hiểu đạo quân thần phụ tử, biết lẽ trung hiếu đễ thuận, khác xa với những kẻ không biết chữ.
Thứ hai là nắm vững thế binh. Kinh sư là căn bản của thiên hạ. Thiền, Ngụy là yết hầu của Hà Sóc. Trấn, Định là vùng đất trọng yếu. Vậy cần biết căn bản phải vững chắc, yết hầu phải khống chế, vùng trọng yếu phải vận dụng linh hoạt. Số lượng quân ít nhiều, quý ở chỗ hợp lý. Nếu tay chân lớn hơn thân thể, ngọn nặng hơn gốc, tức là đem vũ khí sắc bén trao cho người khác.
Thứ ba là cầu mưu lược quân sự. Xưa dùng binh tất có kế hoạch rõ ràng, tham vấn, bàn bạc, để hỗ trợ việc quân. Gần đây việc dùng quân, đều không có sự chọn lựa này. Từ nay, phàm bổ nhiệm tướng giữ biên cương, nên chọn người hiểu rõ sự cô, hư, thành, bại, nắm rõ tình hình địch để tham mưu, nâng cao phẩm hàm, ưu tiên thăng chức. Huống nay đã bàn việc khôi phục thi võ cử, khoa quân mưu hoành viễn võ nghệ tuyệt luân, mong theo gương đời Đường, khôi phục sự chọn lựa này.
Thứ tư là sửa đổi chính sách quân đội. Danh tướng xưa, tất được lòng quân, quân thắng ở đoàn kết, đánh là thắng, việc chia sẻ rượu thịt, sử sách đều ghi rõ. Nếu không vừa uy nghiêm vừa yêu thương, sao khiến quân sĩ vui lòng phục vụ. Cho nên ‘Cốc Lương truyền’ nói: “Người giỏi dạy quân không cần bày trận, người giỏi bày trận không cần đánh.” Ý nói địch sợ uy pháp lệnh của mình. Nay đối với tướng lĩnh, trước hết hãy xét năng lực quản lý quân đội để thăng giáng, thì mọi người tự khắc tuân theo pháp lệnh.
Thứ năm là tiết kiệm sức dân. Biên cương nước nhà còn nghiêm ngặt, chi phí lại lớn, năm nay việc vận chuyển lương thực đã quá vất vả, có thể bàn việc giảm thuế và miễn các khoản phụ thu, không cần ban thưởng, để bớt gánh nặng cho dân. Mong đặc biệt cảnh cáo các quan, bảo họ giảm bớt việc, tiết kiệm sức dân, để phục vụ quân đội.
Bệ hạ với tài thánh vượt trội, lại thêm mưu lược thần vũ, đánh dẹp giặc thù, chỉ trong sớm tối. Lời nói cuồng ngông của thần, chỉ là để tỏ lòng trung thành ngu muội, há đủ để góp vào kế sách thắng lợi của triều đình sao!”
[103] Hữu Tư gián Lương Hạo tâu:
“Thần nghe từ xưa, đạo dùng binh chỉ ở chỗ nắm vững hai quyền thưởng phạt mà thôi. Tuy nhiên, thưởng không thể một mình thi hành, phạt cũng không được thiếu sót. Bởi vậy, binh pháp có nói: “Phạt mà không thực hiện, giống như đứa trẻ kiêu căng, không thể dùng được[19]“. Lại nói: “Người tướng giỏi, uy lực chấn động nước địch, mệnh lệnh thi hành khắp ba quân. Ai hết lòng trung thành, giúp ích thời thế, dù là kẻ thù cũng phải thưởng; ai phạm pháp, làm hỏng việc, dù là người thân cũng phải phạt.” Bởi vậy, Tôn Vũ chém đội trưởng mà quân đội đều chỉnh tề, Nhương Tư chém giám quân mà quân địch lui binh. Như vậy mà nói, binh pháp không thể không nghiêm chỉnh.
Trước đây, sai tướng xuất quân, nhân mùa thu phòng bị biên ải, nhưng Phó Tiềm vâng mệnh lệnh sáng suốt, nắm binh quyền lớn, lại do dự không có mưu kế, trì hoãn chơi đùa với giặc, giữ thành đóng kín cổng, chọn cách nhút nhát để tự bảo toàn, binh hùng tướng mạnh lại gò bó không dùng. Khiến cho ngựa rợ tràn xuống phía nam, bụi biên ải giữa ban ngày cũng kinh động, dân chúng vùng Hà Sóc chạy trốn chưa yên, từ Ngụy Bác về phía bắc bị giày xéo sạch không.
Cuối cùng, xa giá phải ra tuần tra, Thánh quân tắm gội vất vả, tàn quân chưa diệt hết, giặc thù vẫn còn, đây chính là câu nói ‘để giặc lại cho Vua cha’, lòng người oán hận, thần linh nổi giận, tội phải xử trảm. Nếu lại tha không hỏi tội, thì lấy gì đền đáp cho dân chết oan? Nếu giáng chức mà không xử tử, thì lấy gì khôi phục mưu lược dùng binh? Xét theo quân pháp, đáng lẽ phải chém Phó Tiềm để răn quân sĩ, ban chiếu chỉ ra khắp thiên hạ. Làm như vậy, mới hợp với điển chương xưa, cảnh tỉnh tướng soái đời sau, rồi mới chọn những viên biên thần có thể dùng được, giao phó trọng trách cho họ.
Thần từng đọc sử trước, thấy Lý Quảng nhà Hán đóng quân ở biên giới, hành quân không theo đội ngũ trận hình, chỉ tìm đến nơi có nước và cỏ tốt, ai nấy tự do, không đánh mõ để tự vệ, không đặt quân canh giữ, nhưng chưa từng gặp tai họa, mà Lý Quảng cuối cùng trở thành danh tướng, Hung Nô sợ uy, quân lính vui vẻ phục tùng. Lại nữa, Đường Cao Tổ phòng bị biên giới phía bắc, chọn quân tinh nhuệ làm kỵ binh tuần tra, không mang theo lương thực, đi theo nước và cỏ, gặp địch thì đánh, lúc đó cho là kế sách hay.
Mong rằng trong các tướng biên giới, không xem xét địa vị cao thấp, chỉ chọn những người có võ dũng và mưu lược, vốn được mọi người kính phục, chọn mười người, mỗi người cấp năm nghìn kỵ binh, khí giới đầy đủ, mang ít lương thực, đi theo nước và cỏ dọc biên giới, đi lại phòng thủ, không được vào thành ấp, cũng không được tụ tập một chỗ, gặp giặc thì tùy lúc tiêu diệt, lại lệnh cho các đồn canh nhìn thấy nhau, hỗ trợ lẫn nhau.
Các tướng lãnh thủ thành ở châu quận biên giới, thì củng cố thành lũy để đề phòng, gặp kỵ binh tuần tra gần thành, diệt giặc thì trong thành tùy nghi xuất binh cứu viện. Như vậy thì người giữ thành không cần đóng cửa lũy chặt chẽ, tránh ngồi nhìn thắng thua, người phòng thủ biên giới không cần ỷ lại vào thành quách, có thể chủ động đề phòng giặc cướp. Tuy chưa phải là kế sách tốt, nhưng cũng khác với việc cứng nhắc.”
(Triệu An Nhân, Lương Hạo dâng sớ, có thể vào mùa xuân năm sau, nay xin ghi chép đầy đủ vào đây.)
[104] Từ sau khi bình định Lý Thuận, nhân tâm vùng Tây Xuyên chưa yên ổn. Phù Chiêu Thọ, con của Phù Ngạn Khanh, giữ chức Kiềm hạt ở Ích châu và Đoàn luyện sứ ở Phượng châu, kiêu căng tự phụ, không thân chính việc quân, mọi quyết định chỉ sai gia nhân truyền đạt. Ông ta tập trung nhiều thợ dệt, làm ra các sản phẩm tinh xảo, các vật dụng cần thiết đều bắt dân chúng cung cấp, hơn nửa năm không trả tiền, lại dung túng bộ hạ cướp đoạt. Lại mua nhiều lúa mạch, hỏng thì bắt tăng lữ và đạo nhân bồi thường. Gia nhân nhân thế ức hiếp quân sĩ, dân chúng đều oán hận. Tri châu, Hữu Gián nghị đại phu Ngưu Miện bỏ bê chính sự.
Lúc đó, Thần Vệ quân đóng ở Thành Đô có hai đội, do Đô Ngu hậu Vương Quân và Đỗng Phúc chia nhau phụ trách. Phúc quản lý quân sĩ nghiêm chỉnh, nên bộ hạ được đối đãi tử tế, còn Quân ham rượu chè cờ bạc, quân trang đều tiêu hết.
Tháng này, ngày Giáp Tý, Miện và Chiêu Thọ tổ chức duyệt binh lớn ở ngoại ô phía đông, người Thục thích xem, nhưng quân phục của hai đội tân tà lộn xộn, bộ hạ của Quân đều hổ thẹn và căm phẫn, buông lời bất kính. Đến hôm Mậu Dần, Miện chuẩn bị rượu thịt khao đãi nha đội, nhưng Chiêu Thọ chẳng thiết đãi gì, quân sĩ càng thêm phẫn nộ, nên Triệu Diên Thuận cùng tám người khác mưu tạo loạn.
- 'biên viễn' nguyên bản là 'phòng', căn cứ vào Tống bản, Tống toát yếu bản và Tống hội yếu chức quan 58/3, Trường biên kỷ sự bản mạt quyển 21 chính tích sửa lại. ↵
- 'Chuyển vận sứ phó sứ mười khoảnh', 'chuyển vận' nguyên bản thiếu chữ 'sứ', căn cứ vào Tống bản và Tống toát yếu bản bổ sung. Theo Tống hội yếu, Trường biên kỷ sự bản mạt và Tống sử quyển 172 chức quan chí chức điền đều ghi 'chuyển vận sứ, phó mười khoảnh'. ↵
- Lệnh giám sát sách vở ở Quán Các, chữ 'các' dưới nguyên có chữ 'các' thừa, theo Tống bản, Tống toát yếu bản, Các bản mà bỏ đi. ↵
- Bấy giờ Tiêu Mân, Dương Chiêu bắt đầu lấy chức địa quan xử lý việc độ chi 'Tiêu Mân' nguyên là 'Tiêu Cảnh', do người đời Tống kiêng húy Thái Tông mà đổi, nay căn cứ vào 'Tống Văn Giám' quyển 43, bài luận về chế độ quan chức của Tôn Hà mà đổi lại. 'Địa quan', bản đời Tống, bản 'Tống Toát Yếu' và 'Tục Thông Giám' quyển 21 đều chép là 'tha quan'. Xét 'địa quan' vốn xuất phát từ 'Chu Lễ', thời Võ Tắc Thiên năm Quang Trạch Nguyên Niên từng đổi Lục Tào thành các chức Thiên, Địa, Tứ Thời Lục Quan, lấy Hộ bộ làm 'Địa quan'. Tiêu Mân thấy trong 'Cựu Đường Thư' quyển 49, 'Tân Đường Thư' quyển 43 chí về thực hóa, 'Cựu Đường Thư' quyển 196 truyện Thổ Phồn thượng, và 'Thông Giám' quyển 214 đến 216, từng làm Phó sứ chuyển vận Giang Hoài, Hà Nam, sau làm Đô sứ, lại lấy chức Thị lang Hộ bộ xử lý việc Lương Châu, chưa từng làm việc 'độ chi'. Dương Chiêu xử lý việc độ chi, thấy trong các bản truyện của 'Tân Đường Thư', 'Cựu Đường Thư', 'Thông Giám' quyển 215 đến 216, và 'Dung Trai Tục Bút' quyển 11 mục về các chức sứ của Dương Quốc Trung. 'Địa quan', 'tha quan', cả hai đều có thể giải thích, nay theo bản in gốc. ↵
- Làm lâu rồi 'làm' nguyên bản là 'theo', căn cứ vào bản Tống, Tống toát yếu và Văn giám đời Tống sửa lại. ↵
- 'Án' trong 'thượng án bí xuất đông hoa môn' nguyên bản viết là 'an', theo Tống bản, Tống toát yếu bản, các bản khác và 'Trường biên kỷ sự bản mộc' quyển 21 chữa lại. ↵
- ‘Thích’ nguyên có chữ ‘Sùng’ trên đầu, theo Tống bản, Tống toát yếu bản và ‘Tục Thông Giám’ quyển 21 đã bỏ. ↵
- Thạch Phổ bí mật bàn với Tri châu Dương Tự kế hoạch xuất binh đánh giặc. 'Tri châu' nguyên bản chép là 'Hòa Châu', căn cứ theo Tống bản và 'Tống Toát Yếu' bản đã sửa lại. Xét trong 'Tống Hội Yếu' phần Phiên Di, quyển 1, trang 23 chép rằng vào năm Hàm Bình thứ hai, 'tháng 9, quân Khiết Đan vài vạn kỵ binh đến cướp phá ba đường, tiên phong Điền Thiệu Bân, Thạch Phổ cùng với Tri Bảo Châu Dương Tự đánh chặn, đánh bại chúng ở đường Liêm Lương.' Các phần Binh chế quyển 8, trang 8 và quyển 14, trang 15 cũng chép tương tự. 'Tống Sử' quyển 260, 'Dương Tự truyện' chép rằng Dương Tự vào năm Thuần Hóa thứ hai 'được cải làm Tri Bảo Châu', sau đó 'lại làm Tri Bảo Châu', đầu năm Hàm Bình, 'cùng quân địch chiến đấu ở Liêm Lương… lập công được thăng chức Bảo Châu Thứ sử.' Xét kỹ sự việc lịch sử, 'Hòa Châu' rõ ràng là sai so với 'Tri châu'. ↵
- Trong truyện Lý Kế Tuyên, quyển 308 của 'Tống Sử', gọi là Hoài Đức Kiều ↵
- Chữ 'Hộ bộ thị lang' trong câu 'Hộ bộ thị lang Lý Hãng gia Trung thư thị lang' vốn bị thiếu, căn cứ theo bản Tống, bản tóm tắt Tống và sách 'Trị tích thống loại' quyển 5 về 'Chân Tông thánh chính', cùng với 'Tống sử' quyển 282 trong phần bản truyện để bổ sung. ↵
- Chữ 'Lại thư' nguyên bản ghi là 'Lại bộ', căn cứ theo bản Tống và bản tóm tắt Tống để sửa. ↵
- Chữ 'thị' nguyên bản ghi là 'sứ', căn cứ theo bản Tống, bản tóm tắt Tống và các bản khác để sửa. ↵
- Chữ 'trung' trong câu 'hà hạ trung phúc' nguyên bản viết là 'Thân', căn cứ theo sách 'Tống bản', 'Tống toát yếu bản' và 'Tống sử' quyển 250, 'Thạch Bảo Hưng truyện' mà sửa lại ↵
- lui thì chết: nguyên văn là 'lui thì cũng', căn cứ theo bản Tống và bản Tóm tắt Tống sửa lại ↵
- Những việc này đều rõ ràng trước mắt, chữ 'tại' vốn thiếu, căn cứ theo sách trên và quyển 6 'Biên niên cương mục' mà sửa lại. ↵
- 'rèn binh hùng': chữ 'lệ' nguyên bản là 'lợi', căn cứ theo 'Tống sử' quyển 265, 'Lý Tông Ngạc truyện' mà sửa. ↵
- 'Tiêu trì ô thệ': chữ 'Tiêu' nguyên vốn là 'Diễm', theo 'Tống Sử' quyển 306, 'Tôn Hà truyền' sửa lại. ↵
- 'Phân bố' nguyên bản là 'tồn tại', theo bản Tống và bản Tóm tắt đời Tống sửa lại. ↵
- Chữ 'dã' vốn thiếu, căn cứ theo bản Tống, bản Tống toát yếu bổ sung. ↵