III. TỐNG CHÂN TÔNG
QUYỂN 60: NĂM CẢNH ĐỨC THỨ 2 (ẤT TỴ, 1005)
Từ tháng 5 năm Cảnh Đức thứ 2 đời Chân Tông đến hết tháng 7 cùng năm.
[1] Tháng 5, ngày Mậu Thìn (mùng một), Vua ngự giá đến Quốc Tử Giám xem kho sách, hỏi Tế tửu Hình Bính về số lượng bản khắc sách. Bính tâu: “Lúc đầu triều đình chưa đầy 4.000 bản, nay đã hơn 10 vạn bản, kinh sử và chính nghĩa đều đầy đủ. Thần lúc trẻ theo nghiệp Nho, thấy học trò có đủ kinh sách chỉ một hai phần trăm, vì việc sao chép không đủ. Nay bản khắc đã đầy đủ[1], nhà nào cũng có, đây là điều may mắn của kẻ sĩ gặp thời.” Vua vui mừng nói: “Quốc gia tuy coi trọng Nho thuật, nhưng nếu bốn phương không yên ổn, sao có thể được như thế.”
Trước đó, các cơ quan quán các đã thu thập nhiều sách, hiệu đính cẩn thận, những kinh sử chưa có bản in đều cho khắc in. Có người nói 《Tam quốc chí》 là sách ghi chuyện gian hùng tranh giành, không nên truyền bá. Vua nói: “Việc thiện ác của Vua tôi đều đáng làm gương, sách 《Xuân Thu》 của Khổng Tử chẳng phải cũng là sách ghi chuyện tranh đấu giữa các nước sao?”
Trước đây, giấy thừa từ việc in sách đều bán đi để chi dùng cho Giám. Bính xin giao số tiền đó về Tam ty để giúp quốc kế. Từ đó, kinh phí cho học giả không đủ, các giảng quan càng chán nản vì sự thưa thớt.
(Có người ghi chép việc này vào lúc Bính qua đời.)
[2] Tuyên Huy Bắc viện sứ Lôi Hữu Chung là người phóng khoáng, tự tin, không câu nệ tiểu tiết, từng trải qua nhiều chức vụ ở biên cương, biết cách vỗ về quân sĩ, thường tổ chức yến tiệc ban thưởng hậu hĩnh. Khi quỹ công không đủ, ông sẵn sàng lấy tiền riêng bù vào. Có người nói ông không được tiếng là liêm khiết, nhưng bản thân ông sống rất giản dị, chỉ có một bộ yên cương bằng đồng. Ngôi nhà ở phường Sùng Nhân, kinh thành vốn do cha ông là Lôi Đức Tương xây dựng. Khi ở Thục, Hữu Chung từng mượn vài trăm vạn tiền từ kho, sau đó dâng biểu xin nộp lại nhà để trả nợ, được chiếu chỉ ân xá miễn. Sau đó, ông từ Tịnh châu về kinh nhậm chức Tuyên Huy sứ. Hoàng đế biết nhà Hữu Chung không có của cải dư thừa, nên vào ngày Kỷ Dậu, đặc cách ban cho ông 2000 quan tiền công dụng ở trấn Liêm. Vương Kế Anh lúc đó đang nắm quyền Xu mật, rất ghen ghét việc Hữu Chung được trọng dụng, nhiều lần dèm pha rằng khi ở Thục và trấn giữ biên cương, ông đã tiêu pha nhiều để thu phục lòng quân sĩ. Nhưng hoàng đế vẫn bảo vệ ông. Vài tháng sau, Hữu Chung qua đời, để lại món nợ cũ không dưới một trăm vạn.
(Sách 《Hội yếu》 có ghi chép về việc Hữu Chung tham nhũng, cần tham khảo thêm.)
[3] Tri Hùng châu Hà Thừa Củ tâu rằng, Đô giám Tân Thành, Khiết Đan là Lưu Nhật Tân gửi thư cùng tặng chiên, dê và rượu. Chiếu chỉ cho Thừa Củ nhận và đáp lễ bằng thuốc men.
[4] Trước đây, Lý Kế Long trong di biểu có đề cập đến 30 người thân thuộc và nha hiệu. Hữu ty xin áp dụng ân điển như trường hợp của Tào Bân và Phan Mỹ. Hoàng đế nói: “Kế Long là anh của Thái hậu, có thể lấy trường hợp của Đỗ Thẩm Tiến làm chuẩn.” Bèn cho tra cứu hồ sơ và tìm được đầy đủ. Do đó, con cháu của Kế Long đều được thăng chức vượt cấp, kể cả những người thân thuộc xa và người hầu cận đều được bổ nhiệm. Em trai ông là Lạc Uyển sứ Lý Kế Hòa cảm thấy xấu hổ khi nhận ân thưởng nên không liệt kê trong di biểu. Ngày Canh Tuất, đặc cách phong ông làm Tây thượng các môn sứ.
[5] Trước đó, có tên giặc là Vương Trường Thọ, vốn là tên lính trốn tránh, có sức mạnh và nhiều mưu kế, tụ tập hơn trăm đệ tử, đến Trần Lưu, cướp phá các quận huyện, quan quân bắt không được. Triều đình đặc biệt cử sứ giả tăng thêm binh lực, truy đuổi ở vùng Thiền, Bộc. Gặp lúc Khiết Đan xâm lược phương nam, dân chúng hai bên sông hoảng loạn, Trường Thọ kết bè kết đảng càng đông, mọi người đều lo sợ. Thứ sử Từ Châu là Hứa Quân từ Vĩnh Hưng dẫn quân bản bộ đến hành tại, đến Tộ Thành, Trường Thọ cùng hơn năm nghìn đệ tử vào huyện cướp bóc, quân của Hứa Quân cởi trần chiến đấu, dùng mưu kế bắt sống được Trường Thọ, tiêu diệt hết bọn ác đảng. Vua cho rằng đang phòng bị giặc ngoài, chưa muốn vì việc bắt giặc mà khen thưởng Hứa Quân, chỉ ban thưởng cho những binh sĩ bị thương, tặng lụa và thăng cấp. Sau đó, nhắc lại công lao trước đây, thăng ông làm Đoàn luyện sứ bản châu.
Bá Châu tâu: “Nhận được công văn của Đô giám Vĩnh Thanh ở biên giới phía bắc, dân trong vùng là Lý Gia Hưng trước đây dùng hai mươi ngàn tiền chuộc người phụ nữ A Đỗ bị bắt từ biên giới phía nam làm vợ, gần đây cùng đến Bá Châu bán chiếu, bị chồng cũ là Tề Loan bắt đi, xin truy bắt trả lại cho Gia Hưng. Bản châu cho rằng Đỗ vốn là vợ của Loan, khó lòng đòi lại, đã gửi công văn báo cáo.” Vua nói: “Đây là việc cướp bóc trước khi hòa hiếu, nếu có yêu cầu thêm, nên dùng tiền công để chuộc trả lại cho Gia Hưng.”
[6] Chiếu rằng các châu quân ở Hà Đông, nếu có hai viên Đô giám và Giám áp thì bỏ bớt một viên.
[7] Ngày Tân Hợi, chiếu rằng các châu quân biên giới Thiểm Tây, nếu bộ lạc người Phiền nộp phạt hoặc dâng tặng dê ngựa, đều phải ghi vào sổ để dùng vào việc công. Trước đây, bộ lạc người Phiền phạm tội thường nộp tiền để chuộc tội, hoặc khi quan lại thay đổi chức vụ, thường dùng gia súc làm lễ chúc mừng, đều đưa vào tay quan lớn, thậm chí có kẻ gây chuyện để kiếm lợi, khiến dân chúng không yên. Vua biết rõ tệ nạn này, muốn chấm dứt ngay, nhưng lại lo người Nhung vi phạm mà không có gì răn đe, nên ban chiếu này.
[8] Điện tiền đô ngu hầu, Ninh Châu phòng ngự sứ Trương Ngưng trung dũng, thích công danh, nhiều lần nhậm chức ở vùng Tây Bắc, giỏi huấn luyện binh sĩ, sửa sang vũ khí, đến đâu cũng có chí hăng hái báo đáp. Trước sau được ban thưởng rất hậu, nhưng ông thường dùng để khao quân, nhà không có của cải dư thừa, ở kinh thành không có nhà ở. Vua từng bàn luận với các quan cận thần về tướng soái, nói: “Chọn dùng võ thần thật khó, nếu chưa từng trải qua nhiều chức vụ thì không thể biết rõ tài năng của họ. Thái Tông đã đề bạt rất nhiều người, nhưng được ưu đãi chỉ có Trương Ngưng cùng Vương Bân, Vương Hiến và một số ít người khác, mỗi lần ban thưởng đều vượt xa đồng liêu, mới biết tiên đế sáng suốt trong việc biết người.” Lúc đó, Trương Ngưng đang giữ chức Cao Dương Quan phó đô bộ thự, qua đời, Vua rất thương tiếc, ban tặng thêm, sai trung sứ hộ tống tang lễ về quê an táng.
(Vương Hiến, không rõ. Vương Bân có truyện, vào tháng 4 năm Thiên Hi nguyên niên, người Dương Trạch.)
[9] Từ khi có việc ở hai biên giới, quân đồn trú ngày càng đông, việc vận chuyển lương thực cho quân đội đều dựa vào buôn bán, các cơ quan chức năng cố gắng nâng giá hàng hóa để thu hút nhập khẩu. Ở Hà Bắc có đường vận chuyển bằng thủy, nhưng địa lý gần hơn thì cũng có người từ kinh thành chở đến. Giá nhập khẩu, đại khái mỗi đấu lương thực tăng thêm 65 đồng, thức ăn cho ngựa tăng thêm 45 đồng. Vùng biên giới phía Tây xa xôi và qua vùng sa mạc, việc vận chuyển rất khó khăn, giá nhập khẩu ở Linh Châu có khi lên đến hơn 1000 đồng một đấu thóc, các châu khác cũng không dưới vài trăm đồng[2]. Ngoài giá thị trường ở biên giới, còn tăng thêm giá nhập khẩu, giá cả không cố định, đều do chuyển vận sứ xem tình hình cấp bách lúc đó mà quyết định.
Ví dụ như giá thóc đáng lẽ là 750 đồng, thì giao dẫn lại cho 1000 đồng, lại tăng gấp đôi thành 2000 đồng, vì nhu cầu cấp thiết nên không tiếc hàng hóa phương Nam. Ban đầu, thương nhân coi muối là mặt hàng quan trọng, đều tranh nhau mua, đến khi cấm muối ở Giang, Hoài, lại tăng thêm việc dùng trà, giá trị đáng lẽ là 15-20 ngàn đồng, thì lại tăng thêm 100 ngàn đồng.
Lại có hao hụt của quan, tùy theo lợi ích mà tăng thêm.
Những người vận chuyển lương thực đến biên giới không phải đều là thương nhân, mà phần lớn là người địa phương. Sau khi nhận được giấy giao dịch, họ đặc biệt đến các châu, phủ trọng yếu để bán, nhưng số lượng người mua được ít khi đến kinh sư.
Ở kinh sư có các thương nhân ngồi bán, lập cửa hàng, đăng ký tên tại cơ quan quản lý thương mại. Những người có giấy giao dịch tập trung lại đây. Nếu là thương nhân, thì cửa hàng sẽ bảo lãnh, đến cơ quan quản lý thương mại ở kinh sư để nhận tiền, rồi chuyển văn thư đến các châu phía nam để nhận trà. Nếu không phải là thương nhân, thì cửa hàng tự bán, chuyển nhượng cho các thương nhân buôn trà.
Khi hòa bình được lập lại, việc dự trữ ở biên giới tạm thời lắng xuống, giá cả giảm nhẹ, nhưng danh nghĩa tiền hư ảo do quan phát hành giấy giao dịch vẫn chưa thay đổi. Khi dùng trà thay thế muối, nhưng doanh thu từ việc mua trà không đủ để chi trả, giấy giao dịch tích tụ lại, nên thương nhân nhận được trà phải đợi đến vài năm sau. Giấy giao dịch ở kinh sư ngày càng rẻ, thậm chí có khi chỉ bằng giá thực của lương thực vận chuyển, cả quan lẫn tư đều không có lợi.
Bấy giờ, Vua sai Diêm thiết phó sứ Lâm Đặc cùng Cung uyển sứ Lưu Thừa Khuê, Sùng nghi phó sứ Lý Phổ đến Tam ty xem xét các điều lệ cũ để định ra quy chế mới. Lâm Đặc triệu tập các thương nhân lớn để hỏi ý kiến, rồi soạn thành pháp lệnh mới. Theo đó, ở kinh thành, ai nộp vàng, bạc, lụa, vải trị giá 50 nghìn tiền thì được cấp 100 nghìn tiền thực trà. Ở vùng biên giới Hà Bắc, ai nộp vàng, vải, cỏ khô, thóc gạo thì cũng theo chế độ như kinh thành, nhưng được thêm 10 nghìn tiền trà, còn vùng kế cận biên giới thì thêm 5 nghìn. Ở vùng biên giới và kế cận biên giới Hà Đông cũng vậy, nhưng mức tăng có chênh lệch 8 nghìn và 6 nghìn.
Ở vùng biên giới Thiểm Tây cũng tương tự, nhưng được thêm 15 nghìn, còn vùng kế cận biên giới thì mức tăng như ở Hà Bắc. Ở ba vùng gần kinh thành, mức thu và cấp đều theo như kinh thành. Lại ra lệnh cho các hộ trồng trọt ở các sơn trường phải cẩn thận trong việc thu chi. Sau khi bàn bạc, Vua triệu tập các quan Tam ty xem xét xem có thể thực hiện được không, ai cũng cho là tiện lợi. Vua ban chiếu theo như nghị định. Ngày Nhâm Tý, phong Lý Phổ làm Chế trí Hoài Nam, Giang, Chiết, Kinh Hồ trà diêm phàn thuế kiêm Đô đại phát vận sự, giao cho ông hoàn thành công việc.
(《Thực lục》 chép vào tháng 9 ngày Nhâm Tuất, Tam ty xin cho phép thương nhân ở các châu quân Hà Bắc, Hà Đông, Thiểm Tây được nộp tiền mặt, vàng bạc theo lệ ở kinh thành, cứ 55 quan tiền thực thì cấp 100 quan trà Hải Châu, Vua đồng ý. Nay theo 《Bản chí》, chép cả vào đây. 《Thực lục》 chỉ chép là kiêm Đô đại phát vận sự, còn 《Hội yếu》 thì chép là Phát vận sứ. Xét vào tháng 8 năm Cảnh Đức thứ 4, Lý Phổ từ Phát vận phó sứ được thăng làm Phát vận sứ, nên lúc đầu được bổ nhiệm chắc chắn không phải là sứ, nay theo 《Thực lục》. Lại nữa, vào tháng 2 năm Cảnh Đức thứ 3, Phùng Lượng được bổ nhiệm làm Phát vận sứ, 《Hội yếu》 và 《Bản chí》 đều chép rằng năm Cảnh Đức thứ 3 khôi phục chức Phát vận sứ một người, có lẽ chức Phát vận bắt đầu được đặt tên sứ từ đây, Phùng Lượng làm sứ, Lý Phổ làm phó sứ.)
[10] Nghi Châu tâu rằng, trước đây Trại chủ Chế Thắng Quan là Lận Huân thông qua buôn bán để xâm phạm và vơ vét của cải từ các bộ lạc, cưỡng ép mua các vật phẩm ban thưởng của quân đội. Có quân sĩ tranh chấp với dân trong bộ, sau khi xử án xong, lại bắt họ đeo gông để thị chúng hơn 270 ngày. Đến nay, bị dân trong bộ kiện. Vua nói: “Người vốn khó biết. Huân trước đây thường tâu lên những việc bất pháp của quan lại, vì thế có người khen là hết lòng vì công, nên được trọng dụng. Nay dám tham lam tàn bạo như vậy, mà Chuyển vận sứ cũng không xét cử, là sao? Nên lấy việc này làm gương để răn dạy khắp các lộ, xét tội Huân rồi tâu lên.”
[11] Ngày Quý Sửu, sai Tuy Châu Đoàn luyện sứ Khang Tiến, Quắc Châu Đoàn luyện sứ Mộ Hưng, Bộc Châu Thứ sử Quách Tự Minh, Duy Châu Thứ sử Khấu Đạt, Can Châu Thứ sử Thụ Siêu đều trở về chức cũ, vì từng giữ biên giới mà không có thành tích gì, nên bãi bỏ chức vụ quân sự.
(Quách Tự Minh, Khấu Đạt, Thụ Siêu, chưa rõ lai lịch.)
[12] Lấy Thái thường bác sĩ Trương Kiểm làm Tri Châu Triệu, Quốc tử bác sĩ Trương Thân làm Tri Châu Lạc. Vua lo rằng các quận ở Hà Bắc vì biên giới yên ổn nên lơ là việc võ bị, nên chọn kỹ các quan giữ chức. Nhân đó, ban mật chiếu cho Trương Kiểm rằng, phàm các công trình phòng thủ như thành lũy, hào rãnh, phải thường xuyên tu sửa.
(Trương Kiểm, Trương Thân, đều chưa rõ lai lịch.)
[13] Tri phủ Thiên Hùng quân Triệu Xương Ngôn tâu rằng trong khu vực quản hạt vẫn còn trộm cướp chưa dẹp xong, đã hạ lệnh cho quân dân, ai báo tin bắt được giặc sẽ được thưởng vàng lụa, và bổ nhiệm làm Nha hiệu, Trấn tướng[3], thăng bổ chức vụ quân sự. Đưa tờ tâu này đến Xu mật viện, Vương Kế Anh nói: “Trong làng xã có chút trộm cắp nhỏ, không nên tự ý đặt ra quy chế thưởng, làm theo sẽ không tiện.” Vua nói: “Nếu vậy thì lệnh của Xương Ngôn trở thành lời nói suông, khiến quan trên mất lòng tin với dân[4], chính sách giáo hóa sao có thể thực hiện được? Có thể sửa lại văn bản, chỉ cần nói ‘sẽ tâu lên xin ban thưởng’ là được.”
[14] Tri châu Trấn Nhung quân Tào Vĩ tâu: “Nơi đây là vùng đồng bằng rộng rãi, thuận tiện cho kỵ binh chiến đấu, không có lợi cho quân triều. Xin từ núi Lũng về phía đông, dọc theo tường thành cổ đào hào để làm ranh giới.” Vua đồng ý. Lại tâu: “Dân biên giới ứng mộ làm cung tiễn thủ đều quen thuộc địa hình hiểm trở, hiểu tiếng người Khương, chịu được gian khổ, khi có biến có thể tham gia cùng chính quân làm tiên phong, nhưng quan phủ chưa từng cấp khí giới, lương thảo, khó bắt họ liều chết. Xin cấp ruộng bỏ hoang trong vùng, miễn thuế vĩnh viễn, mùa xuân thu cày cấy, xuất quân bảo vệ họ làm ruộng.” Chiếu rằng: “Mỗi người cấp hai khoảnh ruộng, xuất một lính mặc giáp, nếu được ba khoảnh thì xuất một con ngựa chiến. Đặt đồn bảo, sắp xếp đội ngũ, bổ nhiệm từ chức Chỉ huy sứ trở xuống, Hiệu trưởng có công lao cũng được bổ làm Quân đô chỉ huy sứ, đặt Tuần kiểm để thống lĩnh.” Sau đó, các châu quân Phu, Diên, Hoàn, Khánh, Kinh, Nguyên cùng Hà Đông cũng đều chiêu mộ đặt ra.
(Việc cấp ruộng miễn thuế vào ngày Giáp Tý, nay gộp chép. Truyện Tần Hán chép: Trước đây, biên giới phía tây không có hàng rào kiên cố, Hán làm Kinh, Nguyên Nghi, Vũ Kiềm hạt, quy hoạch nơi hiểm yếu, đào hào lớn, tính toán công sức ba mươi vạn, huy động quân lính mấy năm mới xong, không làm phiền dân, có chiếu khen thưởng. Việc này hẳn liên quan đến việc của Vĩ, nên khảo cứu. Lại nữa, tháng 4 năm Tường Phù thứ 7, Vĩ đào hào dọc biên giới dài 51 dặm, xem kỹ lại, có thể phụ chép thêm quy cách hào và phép cấp ruộng mua ngựa.)
[15] Quang lộc khanh, phân ty Tây Kinh Lý Xương Linh xin nghỉ hưu[5], Trung thư dâng danh sách, Vua nói: “Xương Linh vốn không có tiếng tốt, không thể khôi phục chức Thừa lang.” Ngày Giáp Dần, thụ chức Bí thư giám cho nghỉ hưu.
[16] Chiếu sửa chữa cung điện lớn và các công sở ở Tây Kinh, vì sắp đi tế lăng.
(Việc sắp đi tế lăng, theo 《Hội yếu》.)
[17] Hàn lâm học sĩ thừa chỉ Tống Bạch, Hàn lâm học sĩ Lương Chu Hàn, tuổi già trí giảm, việc soạn thảo chiếu thư nhiều lần không hợp ý Vua. Ngày Ất Mão, cả hai đều bị cách chức. Tống Bạch giáng làm Hình bộ thượng thư, Học sĩ Tập hiền viện, kiêm phán viện sự; Lương Chu Hàn giáng làm Cấp sự trung, kiêm phán Chiêu văn quán sự.
Triệu hồi Hữu gián nghị đại phu Tri chế cáo Triệu Huýnh, Khởi cư xá nhân Tri chế cáo Lý Tông Ngạc, cùng làm Hàn lâm học sĩ.
Tông Ngạc khi ở Xá nhân viện, từng gửi công văn đến Ngự sử đài mà không để trống đầu dòng, Trung thừa Lã Văn Trọng gửi văn thư chất vấn. Tông Ngạc đáp rằng hai tỉnh (Trung thư, Môn hạ) với Ngự sử đài không có quan hệ thống thuộc. Văn Trọng bất bình, tâu lên Vua. Vua ban chiếu yêu cầu giải thích rõ. Tông Ngạc dẫn ra tám việc để chứng minh hai bên không thống thuộc, và nói: “Hai tỉnh Trung thư, Môn hạ, từ Chánh ngôn trở lên, đều là quan thị tòng của thiên tử, khi đứng chầu thì xếp hàng riêng, không so sánh với các cơ quan bên ngoài. Vì vậy, ở chính nha thì đứng cùng hàng với tể tướng, ở ngoài đường thì đi riêng với Trung thừa, khi tham triều thì sư phó đi trước hai tỉnh, khi triều hội thì quan đài đứng sau hai tỉnh. Địa vị đặc biệt cao quý, chức nghiệp khác biệt, giữa các cơ quan không có quan hệ thống thuộc. Ngự sử đài mỗi lần gửi công văn đến bản tỉnh cũng không để trống đầu dòng, nên bản tỉnh gửi báo cáo cũng theo nghi thức đó. Văn Trọng chỉ dựa vào lời của lại viên, vội tâu lên, lại không có điển chương làm căn cứ. Thần nghĩ rằng chức vụ của Ngự sử đài là để tra xét gian tà, biện minh oan khuất, nếu đình thần có việc bất pháp thì được tâu lên, dân chúng có người oan ức thì được xét xử. Còn việc tranh cãi trong công văn về để trống hay không để trống đầu dòng, việc ấy nhỏ nhặt, sao có thể giúp ích cho uy phong được?” Cuối cùng, mọi việc đều theo lời Tông Ngạc, những người giữ chức đều cho là phải.
[18] Bổ nhiệm Khởi cư xá nhân, Trực Chiêu văn quán Chủng Phóng làm Hữu gián nghị đại phu. Phóng cáo bệnh, xin đi du ngoạn Tung Sơn, Vua ban chiếu cho phép, lại sai quan thủ thần Hà Nam thường xuyên quan tâm, an ủi. Triệu vào đối, ban yến, làm thơ tiễn hành, ân lễ rất hậu.
[19] Hình bộ viên ngoại lang, Tri chế cáo Đinh Vị làm Hữu gián nghị đại phu, quyền Tam ty sứ sự, lại ban chiếu cho Vị khi vào chầu ở nội điện được đứng trên các Tri chế cáo.
[20] Ngày Bính Thìn, Thiểm Tây chuyển vận sứ xin tu sửa các trấn Kim Thang, Bạch Báo để đón nhận các tộc người Thổ phiên đầu hàng. Vua lo ngại việc này làm khổ dân nên không cho phép.
[21] Trước đó, Vua thấy các sách về thiên văn, địa lý, âm dương, thuật số phần nhiều sai lầm, bèn sai Tư thiếu giám Sử Tự cùng người khác biên soạn lại, chọn lấy những điều tinh yếu, phân loại thành sách 《Càn Khôn Bảo Điển》 gồm 417 quyển. Ngày Đinh Tỵ, Sử Tự dâng sách lên, Vua viết lời tựa và cất giữ trong bí các.
[22] Miễn thuế còn thiếu cho dân huyện Vĩnh Minh, châu Đạo.
[23] Ở Giao Châu, Lê Hoàn chết, con thứ là Long Việt tự lập làm Vua. Anh của Long Việt là Long Toàn cướp của kho rồi bỏ trốn. Em của Long Việt là Long Đình giết Long Việt rồi tự lập làm Vua. Anh của Long Đình là Minh Hộ đem quân ở trại Phù Lan đến đánh. Quốc tín sứ Thiệu Diệp đang ở Lĩnh Biểu, tâu việc này lên. Ngày Mậu Tý, Vua bèn sai Thiệu Diệp làm An phủ sứ vùng biển phía tây lộ Quảng Nam[6], cho phép tùy nghi bày mưu kế. Con của Lê Hoàn là Minh Đề trước đã vào cống, đang trên đường về, Vua sai sứ thần đi tiễn, đối đãi thêm ân cần.
(《Quốc sử Giao Chỉ truyện》 chép việc Lê Hoàn chết vào năm sau là sai. Khi Thiệu Diệp được bổ làm An phủ sứ vùng biển, Lê Hoàn đã chết rồi, 《Quốc sử truyện》 chép sai sự thực[7], nay sửa lại. 《Hội yếu》 chép việc Lê Hoàn chết vào tháng 2 năm sau cũng sai.)
[24] Vua hạ chiếu cho châu Hùng, nếu người Khiết Đan xin mở chợ buôn bán thì ưu đãi giá cả để giao dịch.
[25] Vua hạ chiếu cho ty Kiềm hạt phủ Lân, từ nay các bộ tộc Thổ phiên quy thuận thì không cần phát binh đón tiếp.
[26] Ngày Kỷ Mùi, Vua hạ chiếu cho Tam ty hàng năm phải kiểm tra sổ thuế trong thiên hạ, xem tăng giảm thế nào rồi tâu lên, theo lời xin của Độ chi phán quan Hoàng Thế Trưởng.
[27] Chuyển vận sứ Quỳ Châu lộ là Tiết Nhan tâu rằng, các thủ lĩnh người Man đầu hàng đều đã tự đặt tên chức vụ, xin nhân đó mà phong cho họ. Vua nói: “Trước đây, vùng Xuyên Hạp nhiều lần bị quấy nhiễu, phần lớn là do tự tiện bổ nhiệm các chức Tuần kiểm tướng, họ thường kiêu ngạo phóng túng. Nay người Man lại đặt tên chức như vậy, không thể theo được, chỉ nên cho họ bổ nhiệm thứ bậc Nha hiệu.”
[28] Chiếu rằng các Hiệu úy trong quân Điện tiền và Thị vệ đã trên 15 năm chưa được thăng chức, phải liệt kê tên để dẫn vào triều đối đáp.
[29] Trước đó, Vua ra chiếu cho Lễ bộ Cống viện tổ chức kỳ thi riêng cho các cống cử nhân Hà Bắc. Những người từng tham gia phòng thủ thành, dù Tiến sĩ không đạt chuẩn, cũng được đặc cách ghi tên. Các khoa thi khác, nếu đã qua hai đến ba trường thi, cho phép thi đến cuối cùng. Những người đã thi năm lần, từng qua thi Đình và trên 50 tuổi, đều được báo danh. Dù không tham gia phòng thủ thành, nếu đã thi bảy lần, trên 60 tuổi hoặc có công lao ở Doanh Châu, cũng được xét tương tự. Ngày Canh Thân, Vua ngự tại điện Sùng Chính thân hành chủ trì kỳ thi, kéo dài bảy ngày, lấy đỗ 51 Tiến sĩ như Phạm Chiêu, ban cho học vị Cập đệ, 45 người được học vị Xuất thân. Các khoa thi khác, ban học vị Cập đệ, Đồng xuất thân và bổ nhiệm chức Trợ giáo các châu là 698 người. Những Tiến sĩ và các khoa thi đặc cách, ban học vị Cập đệ, Xuất thân đến chức Nhiếp trợ giáo thuộc quân Điện thị là 662 người.
[30] Vua cho rằng năm ngoái Hà Bắc dùng binh, dân chúng rất hoang mang, những người lên thành chống giặc dũng cảm phần lớn là sĩ tử, nên muốn rộng rãi tuyển chọn. Có câu hỏi kinh nghĩa có hai cách hiểu, thí sinh dẫn cả hai cách để trả lời, quan khảo thi định đánh trượt, nhưng Vua tự tay phê chuẩn.
[31] Tiến sĩ đặc cách là Lý Chính Từ bàn về thứ tự trước sau của văn vũ, cho rằng: “Văn vốn lấy tĩnh làm gốc, vũ vốn lấy động làm gốc, động để ngăn loạn mà đạt đến tĩnh, thì thứ tự trước sau có thể biết được.” Vua khen là gần với đạo lý, định cho đỗ cao, nhưng có người nói ông từng phạm tội bị đánh trượng, nên chỉ bổ làm Tam ban Phụng chức.
[32] Phủ Châu tiến sĩ Yến Thù 14 tuổi, Đại Danh phủ tiến sĩ Khương Cái[8]12 tuổi, đều nổi tiếng tài giỏi, được đặc cách triệu tập thi. Yến Thù thi một bài thơ và một bài phú, Khương Cái thi sáu bài thơ. Yến Thù viết văn nhanh nhẹn, Vua rất khen ngợi.
Tể tướng Khấu Chuẩn cho rằng Yến Thù là người Giang Tả, muốn hạ thấp ông để đề cao Khương Cái. Vua nói: “Triều đình tuyển chọn nhân tài, chỉ cần tài năng, bốn biển là một nhà, sao lại phân biệt xa gần? Như các bậc tiền bối Trương Cửu Linh đâu có vì ở nơi hẻo lánh mà bỏ qua?” Bèn ban cho Yến Thù danh hiệu tiến sĩ, còn Khương Cái được ban danh hiệu đồng học cứu.
Hai ngày sau, lại triệu Yến Thù thi thơ, phú và luận. Yến Thù nói rằng đề phú đã từng học qua, Vua càng yêu mến sự ngay thẳng của ông, đổi sang đề khác. Sau khi làm xong, Vua nhiều lần khen ngợi. Thăng chức Bí thư tỉnh chính tự, đọc sách ở Bí các, lại sai Trực sử quán Trần Bành Niên theo dõi việc học của ông và kiểm tra những người ông giao du.
[33] Thọ Xuân huyện chúa dâng tâu: “Anh chồng của thần giữ chức quản lý cỏ khô, vì bỏ bê công việc bị quan trên tố cáo, xin tha tội cho ông ấy.” Vua không đồng ý, bắt phải trị tội. Huyện chúa là con gái của Sở vương Nguyên Tá.
[34] Ngày Mậu Thìn, Quyền Tam ty sứ Đinh Vị tâu: “Trước đây các châu ở Xuyên Hạp đóng quân, việc điều động lương thực gây nhiều phiền nhiễu, mà muối tích trữ lại rất nhiều. Xin chiêu mộ người phương Nam nộp thóc để bình ổn giá cả, rồi trả bằng muối. Nay lương thực dự trữ đã dần đầy đủ, xin dùng muối đổi lấy tơ lụa.” Vua xuống chiếu cho các quân tích trữ lương thực đủ hai năm, các châu ở vùng núi đủ ba năm, theo lời xin của ông.
[35] Ngày Kỷ Tỵ, Vua xuống chiếu: “Từ nay các quan lại ở các châu nếu minh oan cứu được mạng người, đều được tính là công lao.” Trước đó, Trứ tác tá lang Tào Định tâu: “Quan lại minh oan là trách nhiệm của họ, không nên tính vào thành tích.” Do đó, Thái tử chiêm sự, Phán Hình bộ Thận Tòng Cát tâu: “Dùng hình phạt sai lầm thì đều bị trách phạt, còn minh oan cứu người thì chẳng được ban ơn. Như vậy e rằng không hợp lý trong việc khuyên răn và khuyến khích. Mong ban hành quy định mới để khích lệ mọi người tận tâm.” Vua đồng ý.
[36] Lúc bấy giờ, thời thái bình đã lâu, những người nắm giữ tài chính thi hành pháp lệnh ngày càng nghiêm ngặt, thu hết những lợi lộc còn sót lại. Phàm việc so sánh thuế khóa đều lấy mức thuế của năm trước làm chuẩn, mỗi năm tăng thêm. Các cơ quan thu thuế liên tục nhiều năm có số dư, Tam ty liền lấy số thu nhiều hơn làm mức chuẩn. Vua cho rằng việc này không chờ chỉ dụ triều đình, có thể dẫn đến việc bóc lột dân chúng, ngày Quý Dậu, ban chiếu rằng việc tăng mức thuế đều phải tâu xin quyết định.
[37] Ngày Giáp Tuất, lấy cựu Tri Hưng Nguyên phủ Thái thường bác sĩ Triệu Tương, cựu Tri Thông châu Điện trung thừa Triệu Chẩn cùng làm Phán Tông chính tự sự. Vua cho rằng chức vụ Tông chính phụng sự lăng miếu, trách nhiệm rất nặng nề, nên chọn lựa những quan viên trong hoàng tộc có tài năng và uy tín để đảm nhiệm, nhằm thể hiện sự tôn kính nghiêm túc. Nghe nói Triệu Tương và Triệu Chẩn có tiếng là người trị dân tốt, nên cho ngựa trạm triệu về và bổ nhiệm. Khi họ đến, đều ban cho áo tía, cá vàng, hai trăm lạng bạc trắng, lương tháng đều bằng tiền mặt, lại cấp thêm mười ngàn tiền. Triệu Chẩn là người Tuyên Thành.
[38] Ban chiếu rằng các chức vụ mạc liêu, châu huyện quan theo lệ được miễn tuyển chọn, nếu có tội tham nhũng hoặc hành vi quá đáng, đều phải đợi đến khi mãn nhiệm kỳ tuyển chọn mới được bổ nhiệm. Riêng những trường hợp phạm tội liên quan đến rượu thịt, không thuộc phạm vi này.
[39] Ngày Ất Hợi, Tri Hùng châu Hà Thừa Củ tâu rằng, khi sứ Khiết Đan vào cõi, xin cho họ tạm trú ở Tân Thành, đợi sứ tiếp đón đến, rồi đón họ ở đầu biên giới. Vua đồng ý. Hà Thừa Củ lại tâu rằng, việc giao thiệp sứ mệnh mới bắt đầu, lễ đãi ngộ nên điều hòa vừa phải, để có thể duy trì lâu dài, bèn dâng tấu trình đầy đủ. Vua ban chiếu khen ngợi và chấp nhận, lại cho phép nếu có việc gì chưa rõ ràng, được tùy nghi xử lý.
[40] Khi sứ giả Khiết Đan đến biên giới, cử một viên quan thường tham và một viên chức nội đình, giả làm Thiếu khanh, Giám, hoặc các chức sứ trở lên để tiếp đón. Các cơ quan nội đình chuẩn bị lều trại, chia làm ba phiên, do các quan nội thần phụ trách. Đến dịch trạm Bạch Câu thì ban yến tiệc, đến châu Bối thì ban trà và thuốc, mỗi thứ một hộp bạc, đến phủ Đại Danh lại ban yến tiệc. Khi đến gần kinh thành, cử Phán quan phủ Khai Phong đến đón tiếp, lại sai các quan đài tỉnh và các chức sứ đến quán Ban Kinh để đón, đến dịch trạm Đô Đình thì ban hoa vàng, đồ dùng bạc mạ vàng, chăn đệm gấm.
Ngày triều kiến, ban cho Đại sứ mũ bạc mạ vàng, mũ lông dê đen, tám bộ quần áo, đai thắt lưng mạ vàng, giày da đen, đồ dùng bạc trị giá hai trăm lạng, hai trăm tấm lụa màu; ban cho Phó sứ mũ lụa đen gập lên, bảy bộ quần áo, đai vàng, hốt ngà, giày da đen, đồ dùng bạc trị giá một trăm lạng, hai trăm tấm lụa màu, mỗi người một con ngựa có yên cương. Tùy tùng gồm thượng tiết mười tám người, mỗi người được ban áo gấm luyện thước và bốn bộ quần áo, đồ dùng bạc trị giá ba mươi lạng, ba mươi tấm lụa màu; trung tiết hai mươi người, mỗi người được ban áo gấm bảo chiếu và ba bộ quần áo, đồ dùng bạc trị giá mười lạng, hai mươi tấm lụa màu; hạ tiết tám mươi lăm người, mỗi người được ban áo lụa tía và bốn bộ quần áo, đồ dùng bạc trị giá mười lạng, hai mươi tấm lụa màu, tất cả đều được thêm đai bạc mạ vàng. Thượng tiết và trung tiết còn được thêm giày thêu. Khi đến quán, ban lương thực tươi, Đại sứ được mười hộc gạo tẻ, mười hộc kê, hai mươi hộc bột mì, năm mươi con dê, mười bình rượu pháp và mười bình rượu nếp; Phó sứ được bảy hộc gạo tẻ, bảy hộc kê, mười lăm hộc bột mì, ba mươi con dê, mười bình rượu pháp và mười bình rượu nếp.
Ngày lễ Thừa Thiên, mỗi người được ban thêm một bộ quần áo. Gặp ngày Lập Xuân, ban cờ phướn mạ vàng chạm bạc và đĩa xuân. Lại sai Tiết suý đến vườn Ngọc Tân để cùng bắn cung, ban cho sứ giả ống tên bạc, một cây cung, hai mươi mũi tên, người bắn trúng còn được ban năm bộ áo chẽn gấm[9], đai thắt lưng vàng, ngựa có yên cương. Ở quán gặp ngày lễ tiết, thì sai quan cận thần đến ban yến tiệc. Ngày từ biệt, ở điện Trường Xuân ban năm tuần rượu, ban cho Đại sứ áo chẽn gấm vân cầu và bảy bộ quần áo, đồ dùng bạc trị giá ba trăm lạng, hai trăm tấm lụa màu; ban cho Phó sứ áo chẽn lụa hoa tía và sáu bộ quần áo, đồ dùng bạc trị giá hai trăm lạng, một trăm tấm lụa màu, tất cả đều được thêm đai thắt lưng vàng, lụa, gấm, lĩnh, lụa trắng mỗi thứ một trăm tấm. Tùy tùng mỗi người được thêm áo gấm lụa tía hoa và đồ dùng bạc, lụa màu.
Khi sắp lên đường, lại ban bình bạc, chậu bạc, lụa sa, bát đựng nước. Lại sai quan cận thần tiễn ở quán Ban Kinh, Suy quan phủ Khai Phong tiễn ở ngoài thành, Phó sứ tiếp đón lại làm sứ tiễn đưa, dọc đường nhiều lần ban yến tiệc[10].
Lúc đầu, Vua sai Nội thị Hữu ban Phó đô tri Diêm Thừa Hàn sắp xếp lễ vật. Có người bàn nên ban y phục Hán cho sứ giả Khiết Đan, Thừa Hàn nói: “Nam Bắc khác nhau, nên theo phong tục của họ là được.” Vua nghe theo ý Thừa Hàn.
Thừa Hàn lại xin dời các doanh trại người Bột Hải, Khiết Đan ở kinh thành ra ngoài, Vua nói: “Nam Bắc thông hiếu, không nên làm phiền người ta, nếu gấp gáp gây phiền nhiễu thì không phải ý ta.” Không cho phép.
(Lệnh Thừa Hàn sắp xếp lễ vật, sách 《Hội yếu》 chép vào tháng 5, nhưng 《Thực lục》 không ghi, nay chép chung vào cuối tháng này.)
[41] Tháng 6, ngày Đinh Sửu mùng một, Vua hạ chiếu rằng những người đỗ Tiến sĩ, các khoa cùng xuất thân được thí làm Chủ bạ Tướng tác giám, đều phải chờ đợi tuyển dụng. Theo lệ cũ, người đỗ đều có thời hạn chờ tuyển. Gần đây, đỗ đạt liền được bổ làm quan. Năm Hàm Bình thứ 3, bắt đầu khôi phục thi Đình, người được ban xuất thân cũng được miễn chờ tuyển. Đến nay, số người đỗ rất đông, nên đặt nhiều cấp bậc để thăng tiến người bị chậm trễ, dù tài nghệ không đạt chuẩn, đều được ban đồng xuất thân, thí chức để ra làm quan, nên lệnh cho các cơ quan áp dụng thường lệ để phân biệt. Lại hạ chiếu khuyến học, tạm ngừng thi Hương 2 năm. Lúc đó, Vua sai hai chế soạn chiếu khuyến học, bài của Triệu An Nhân nói đúng nhất về tệ nạn khoa cử, nên đặc biệt dùng bài đó.
[42] Cấm các vật phẩm kém chất lượng.
[43] Ngày Mậu Dần, Vua hạ chiếu rằng từ nay các trại biên giới ở Châu Hãn, Châu Đại, nếu có người từ phương Bắc mang văn thư đến, đều đưa về Châu Đại, và cấp vật phẩm theo quy định. Vì cách xử lý hồi báo không thống nhất.
[44] Ngày Kỷ Mão, các quan Pháp trực ở Hình bộ, Đại Lý tự, Tam ty, lệnh cho Lại bộ tuyển chọn những quan viên lưu nội đã qua một nhiệm kỳ ba khảo trở lên, cẩn thận giỏi giang, không phạm lỗi, giỏi viết văn án, liệt kê tên để dẫn vào đối đáp, thí xử năm vụ án, ai đạt chuẩn thì bổ nhiệm. Ở Tam ty, Đại Lý tự một năm, Hình bộ ba năm mà không phạm tội riêng, thì được bổ làm quan kinh. Trước đây, đều do Lệnh sử thăng bổ. Năm Đoan Củng, Khấu Chuẩn phụ trách tuyển dụng, tâu xin dùng sĩ nhân, đến nay, lại thi hành chiếu cũ.
[45] Ở các châu phía đông kinh thành có sâu non sinh sôi, ngày Canh Thìn, sai sứ đi bắt, và làm lễ tế cẩn thận.
[46] Tri phủ quân Vĩnh Hưng kiêm Đề cử binh giáp các châu Hướng Mẫn Trung xin dời quân đồn trú ở Hoàn, Vị đến đóng ở Kinh, Khánh châu để tiết kiệm chi phí biên phòng, được chấp thuận.
[47] Ngày Tân Tỵ, các cơ quan tâu rằng 18 quân sĩ thặng dư của Khiết Đan ở Thanh Sóc, Cầm Nhung đã già yếu, nên cho giải ngũ. Triều đình ra chiếu cho Điện tiền ty xem xét, nếu không có thân thuộc thì cho tiếp tục phục vụ, ai muốn giải ngũ thì tùy ý. Vua cho rằng những người từ nơi xa về quy thuận, già cả bị bỏ rơi, có thể không nơi nương tựa.
[48] Ty Thiên tâu rằng thiên văn có điềm tai họa, ứng vào đất Ngô, Việt. Triều đình ra chiếu tăng quân đồn trú ở Ích, Thăng, Hồng, Hàng, Phúc châu, lệnh cho Lục trạch sứ Khang Kế Anh và ba người khác chia nhau làm Đô giám trú bạc, Đề cử việc tuần tra binh mã các châu trong lộ.
[49] Quân An Túc tâu rằng có một số dân trong bộ tư ý sang đất Bắc ở Dịch châu, tướng châu bắt gửi trả lại. Triều đình ra chiếu dụ các quan biên giới, nếu người phương Bắc tự ý vào đất ta, cũng lập tức bắt gửi trả.
[50] Ngày Nhâm Ngọ, Giám sát ngự sử người Lâm Xuyên là Thôi Hiến tâu: “Trước đây khi làm Tri quân Quảng Đức, thấy có miếu Từ Sơn, vốn nổi tiếng linh ứng, dân chúng khắp nơi thường dâng trâu để cày. Từ thời ngụy mệnh đến nay, cho phép dân làng thuê trâu, mỗi con mỗi năm nộp một tấm lụa để chi phí cho miếu. Gần đây, lụa đều nộp vào quan, xin cấp 400 tấm để tu sửa miếu.” Vua nói: “Nếu việc này được ghi trong điển lễ, có ích cho dân, thì nên do quan phụng sự, cần gì phải thu lụa.” Bèn lệnh cho quân ấy tu sửa.
[51] Ngày Quý Mùi, ra chiếu rằng các châu có thuế thương nghiệp hàng năm từ 30.000 quan trở lên, lệnh cho Thẩm quan viện chọn quan thân dân đến giám sát, và cấp thêm lương cho Thông phán.
[52] Ngày Đinh Hợi, vì nắng nóng, giảm thuế dịch ở kinh thành.
[53] Triệu Đức Minh ở Hạ châu sai nha tướng Vương Mân dâng biểu xin quy phụ, ban cho Mân áo gấm, đai bạc, sai Thị cấm Hạ Cư Hậu mang chiếu đáp lại.
[54] Dân Tào Châu là Triệu Gián cùng em là Triệu Ngạc đều là kẻ hung ác xảo quyệt, vô lại, dọa nạt để cướp tiền, kết giao với quyền thế, các quan lớn đều phải đối đãi ngang hàng, thường can thiệp vào chính sự quận.
Thái thường bác sĩ người Trịnh là Lý Cập nhận chiếu làm Thông phán châu sự[11], Triệu Gián vừa đến kinh sư, dâng danh thiếp xin gặp, Lý Cập từ chối, Triệu Gián nổi giận, mắng chửi rồi bỏ đi. Sau đó dán bảng cáo buộc Lý Cập phỉ báng triều chính, Lý Cập biết được, vì là việc nặc danh nên chưa dám phát giác. Gặp lúc Đại Lý tự thừa Nhậm Trung Hành vốn cùng quê với Triệu Gián, biết rõ hành vi gian ác của hắn, bèn dâng biểu mật tâu lên.
Vua liền sai trung sứ đến điều tra, Kinh Đông chuyển vận sứ Thi Hộ, Tri Tào Châu Tạ Đào cùng Lý Cập đều tâu lên những hành vi xấu xa của anh em Triệu Gián[12], bèn bắt giam vào ngục Ngự sử. Lại hạ chiếu cho quan dân Khai Phong phủ và Tào Châu, những ai trước đây bị Triệu Gián, Triệu Ngạc dọa nạt, được phép tự thú để được tha tội. Sai lục soát nhà họ, thu được rất nhiều thư từ của các quan triều, chức nội đình và hoạn quan, tính ra tang vật trị giá rất lớn.
Ngày Kỷ Sửu, đều chém ở Tây thị, bè đảng bị đánh trượng rồi lưu đày ra Lĩnh ngoại, những người thân thiết với họ đều bị giáng chức hoặc cách chức. Nhân đó hạ chiếu: “Từ nay những kẻ kiện cáo việc không liên quan đến mình, sẽ bị đánh trượng, đeo gông và bêu rông mười ngày, nếu tình tiết độc ác[13], nhiều lần kiện cáo người khác, thì ghi tên tâu lên, rồi đày đi nơi xa.”
Vua ban đầu muốn xử lý triệt để những người giao du với Triệu Gián, đưa ra danh sách hơn bảy mươi người giao cho ngục, Trung thừa Lã Văn Trọng xin đối đáp, nói rằng những người bị bắt rất nhiều[14], có người ở ngoại quận, nếu bắt hết, e rằng sẽ gây xôn xao. Vua nói: “Khanh giữ chức Hiến, nên ghét ác như kẻ thù, há lại công khai bao che bè đảng sao?” Lã Văn Trọng cúi đầu nói: “Chức vụ Trung ty không chỉ là răn đe những kẻ phạm lỗi, mà còn phải nghĩ đến đại cục quốc gia. Nay dù bảy mươi người này đều có tội, nhưng với lòng nhân từ của bệ hạ, chắc chắn không giết hết, chỉ cách chức mà thôi. Chỉ cần ghi tên họ, xét lại hành vi, cho làm chức nhàn tản, hoặc khi thi cử, ứng đối thì loại bỏ, cũng chưa muộn.” Vua nghe theo lời ông.
(Thi Hộ, không rõ lai lịch.)
[55] Ngày Canh Dần, ban chiếu rằng từ nay vào ngày giỗ tông miếu, Tây Kinh và các tiết trấn được cấp 10.000 tiền, phòng đoàn châu 7.000, quân sự châu 5.000 để chuẩn bị lễ trai, không được tự ý thu gom.
[56] Ngày Tân Mão, Trương Sùng Quý, Kiềm hạt Phu Diên lộ tâu rằng Triệu Đức Minh đã dâng biểu xin quy phụ, xin lệnh cho các tộc người Hà Tây giữ gìn biên giới. Chiếu rằng nếu các bộ không bị Đức Minh xâm phạm, thì không được tùy tiện đem quân ra khỏi biên giới.
[57] Ngày Quý Tỵ, ban chiếu cho Thái thường bác sĩ, Tri châu Trịnh Châu là Đoàn Diệp ở Quản Thành[15] vào triều, ban cho áo mũ ngũ phẩm rồi cho về nhiệm sở. Trước đây Diệp làm Thông phán Vận Châu, gặp lúc Tri châu Đinh Vị được triệu vào làm Quyền Tam ty sứ, liền lấy Diệp làm Tri châu sự. Vị lại tiến cử tài năng của Diệp, nên có mệnh lệnh này.
[58] Ngày Giáp Ngọ, Trương Sùng Quý từ Diên Châu vào tâu, chiếu dụ rằng Lý Kế Thiên trước kia có nhiều mưu mẹo gian trá, nay nên bắt Đức Minh tự lập thệ ước, dâng đất Linh Châu, chỉ ở Bình Hạ, cho con em vào làm túc vệ, trả lại các quan lại bị bắt, giải tán hết quân Hán và quân Phiên cùng con tin, nếu có xâm phạm biên giới thì phải bẩm báo triều đình, tất cả bảy điều; thì sẽ phong cho Đức Minh làm Định Nam Tiết độ sứ, Tây Bình Vương, ban cho 40.000 quan tiền vàng bạc, 20.000 cân trà, cấp bổng lộc như Tiết độ sứ trong nước, cho phép buôn bán qua lại[16], bãi bỏ lệnh cấm muối xanh[17], tất cả năm điều. Lại sai Cáp môn thông sự xá nhân Tiêu Thủ Tiết cùng đi, gọi thân tín của Đức Minh đến bảo rằng nếu thuận mệnh thì sẽ ban ân chiếu. Sau đó Đức Minh sai Trương Phổ đến gặp Sùng Quý để bàn bạc và gửi thư, nhưng chỉ đòi hỏi nhiều, không chịu tự lập thệ ước.
[59] Ngày Ất Mùi, ban cho Điện tiền đô chỉ huy sứ Cao Quỳnh bản kinh sử, theo lời thỉnh cầu của ông. Vua tôn sùng văn nho, chú trọng học thuật, nên các bề tôi võ nghị đều tự nhiên hóa theo.
[60] Cao phẩm Trần Diên Khánh tâu rằng việc tu sửa hai cung Thái Thanh và Động Tiêu ở châu Bạc đã hoàn thành. Sai sứ đến làm lễ tế, tăng thêm đồ dùng, cấp binh lính quét dọn.
[61] Ngày Bính Thân, lệnh cho phủ Khai Phong kiểm tra các trường thu thuế hạ, không để chậm trễ.
[62] Nước lũ ở châu Ninh tràn ngập, làm hư hại nhà dân và doanh trại quân đội. Sai trung sứ đi ngựa trạm đến thăm hỏi, cấp tiền lương, người chết đuối được quan phủ chôn cất, sửa chữa nhà cửa.
[63] Trại Quân Thành ở châu Định tâu rằng nhận được công văn của An phủ sứ Phi Hồ thuộc mặt Tây Nam nước Khiết Đan, xin răn dân chặt gỗ không vượt biên giới. Lệnh cho chuyển vận sứ cùng châu này căn cứ vào nơi dân lấy gỗ, triệu tập quan lại biên giới, cùng lập mốc giới để báo cho dân chúng biết.
[64] Ngày Tân Sửu, lấy Tây thượng các môn sứ Tôn Toàn Chiếu làm Đông thượng các môn sứ, kiêm chức Thứ sử châu Anh. Toàn Chiếu người thấp bé, tinh nhanh hiểu binh pháp, dùng nghiêm khắc để chỉnh đốn quân đội, nhưng tính tình cương trực dễ nổi nóng, chuyên dùng hình phạt. Trung thư lúc đầu tiến cử làm Thứ sử châu Nghiêm, Vua nói: “Toàn Chiếu sâu sắc khắc nghiệt, thường lo người ta dùng sự nghiêm khắc để chê bai mình, nay cho chức này, e có ý chế giễu.” Bèn đổi mệnh lệnh.
[65] Triều đình hàng năm theo lệ làm lễ tế Mã Tổ, Tiên Mục, Mã Xã, Mã Bộ. Khi ấy, Quần mục ty xin lệnh cho các phường, giám trong ngoài chọn đất xây miếu, dựng tượng bốn vị thần, hàng năm vào các tháng Trọng giao cho viện này làm lễ tế. Chiếu cho Sùng Văn viện xem xét kỹ điển lệ, Kiểm thảo quan Đỗ Hạo tâu rằng: “Bốn vị thần đều có đàn riêng, thờ phụng theo thời, chỉ có đồ tế không đủ.” Bèn hạ chiếu từ nay mỗi lễ tế dùng một con dê, việc xây miếu bãi bỏ.
[66] Ngày Nhâm Dần, lệnh cho Ty Thiên giám bắt đầu đặt chức Giám sinh, chọn người giỏi lịch toán để làm.
[67] Chiếu rằng từ nay nếu đầy tớ trộm của chủ năm quan tiền thì phạt làm lao dịch ở lao thành bản châu, mười quan thì phạt làm lao dịch ngoài năm trăm dặm, hai mươi quan trở lên thì tâu lên xin xét xử. Sửa đổi chế độ năm Hàm Bình thứ sáu, lo ngại việc giam giữ lâu ngày.
[68] Tháng đó, Vua bảo các quan phụ tá rằng: “Quân cấm binh của Điện tiền, Thị vệ ty[18], người già yếu nhiều, vì lâu ngày theo việc chinh chiến, không được luyện tập. Gần đây vì điều động về kinh sư, tuy có xem xét thêm, cũng chỉ loại bỏ được những người quá kém. Nay phần lớn đã triệu hồi, nên chọn lọc kỹ càng, dù có người lo sợ sẽ làm động lòng quân, cũng phải quyết tâm thực hiện. Xưa Thái Tổ cũng thường lo ngại như vậy, nên đã tiến hành tuyển chọn toàn bộ[19], lúc đó mọi người rất lo sợ, nhưng sau đó quả nhiên trở thành tinh nhuệ.”
Xu mật sứ Vương Kế Anh nói: “Quân cấm so với trước đây số lượng đã tăng gấp đôi, nếu nhân lúc này ngừng chiến tranh, loại bỏ những người yếu kém, thật là thuận tiện.”
Vua nói: “Đúng vậy. Nhưng vì phương Bắc xin kết minh, phương Tây nộp khoản, nếu lập tức thực hiện việc này, thì quân lính sẽ cho rằng triều đình muốn bỏ binh lính để tiết kiệm chi phí, chi bằng trước hết từ quân hạ tuyển chọn những người dũng cảm khỏe mạnh bổ sung lên quân thượng[20], cũng có thể trấn áp lời đồn, khiến mọi người không hoang mang. Những người già yếu, đợi đến mùa thu đông sẽ chọn tướng thần, lệnh cho họ loại bỏ hết.”
[69] Đặt thêm một chức Thông phán ở Tân châu, vì Thứ sử Chu Tự về nhậm chức. Vua cho rằng võ quan phần nhiều không hiểu chính sự, nếu không có Thông phán liêm chính tài giỏi, thì dân sẽ bị hại. Bèn hạ chiếu rằng các chức Phòng, Đoàn, Thứ sử đang tại chức và các chức Tri châu đang có Thông phán tại nhiệm, lệnh cho Chuyển vận sứ bí mật tâu lên khả năng của họ.
[70] Tháng 7 mùa thu, ngày Kỷ Dậu, đổi chức Câu đương chế trí quần mục ty sự thành Quần mục phó sứ, lấy Nội thị Tả ban Phó đô tri Diêm Thừa Hàn làm chức này. Chức Chế trí quần mục sứ bỏ chữ “Chế trí”, chỉ gọi là Quần mục sứ.
[71] Ngày Canh Tuất, Quần mục sứ Triệu An Nhân tâu rằng: “Theo chế độ nhà Đường, ngựa có hai giám tả hữu, mỗi giám đều lấy tên đất đai đặt tên.” Bèn đổi các châu Mục Long phường đều thành giám, ban tên và đúc ấn cấp cho.
[72] Ngày Tân Hợi, có người dâng thư lên nói: “Hình bộ xét các quan lại ngoại châu xử án sai dẫn đến án tử hình, theo luật xử án, nếu do sơ suất mà xử sai án tử hình thì giảm ba bậc, phạt đi đày hai năm rưỡi. Tội công chia làm bốn bậc, quan xử án bị giảm ngoài việc đi đày ba năm, người đứng đầu bị truất quan, ba bậc còn lại chỉ phạt tiền đồng.
Thần cho rằng pháp luật nặng nhất là tử hình, điều con người cần bảo vệ là sinh mạng. Nếu quan lại không hết lòng, thì hình phạt sẽ có sai sót, làm tổn thương khí hòa bình, trái với lòng nhân từ của bề trên. Có lẽ do các quan Mạc chức, Châu huyện mới vào nghề, chưa thông thạo công việc, quan trên biết rõ tội nhẹ không đến mức truất quan, chỉ cốt giữ lệ cũ, không tự mình xem xét kỹ lưỡng. Lại có chiếu tháng 7 năm Ung Hi thứ 3, quyền phán Hình bộ Trương Tất dâng sớ xin rằng nếu xử sai án tử hình thì không được dùng chức quan để chuộc tội, Tri châu, Thông phán đều bị cách chức. Đến khi biên soạn chiếu lệnh năm Hàm Bình thứ 2, lại bỏ điều này, khiến quan trên dần không còn sợ hãi, tùy tiện dùng điều luật. Thần cho rằng nếu theo luật cũ thì dường như thiếu sự răn đe, nếu theo lời xin của Trương Tất thì chưa phải là biện pháp thích đáng.
Mong rằng từ nay những người xử sai án tử hình mà không đến mức truất quan thì xử cách chức, đợi đến ngày bổ nhiệm thì bổ làm quan ở nơi xa xôi hẻo lánh, các quan Mạc chức, Châu huyện liên đới ký tên thì bổ làm quan ở nơi nhỏ, Kinh triều quan làm Tri châu, Thông phán, Tri lệnh lục, Mạc chức nhận chức Giám đương ở nơi xa, những người có chức vụ cao cùng võ quan, nội chức thì tâu xin chỉ thị.” Chiếu chuẩn y.
[73] Ngày Bính Thìn, Quần mục phán quan Vương Thự dâng sách 《Quần mục cố sự》 gồm 6 quyển, chiếu lệnh cất giữ ở bản ty.
[74] Ngày Đinh Tỵ, chiếu lệnh ngày 13 tháng 11 sẽ làm lễ tế Nam Giao.
[75] Ngày Mậu Ngọ, duyệt binh sĩ Thần Dũng quân tập trận ở điện Sùng Chính.
[76] Ngày Kỷ Mùi, chiếu lệnh người đến cửa khuyết tố cáo việc, phải do châu huyện xử án không đúng, đã từng tố cáo với Chuyển vận sứ có ghi rõ ngày tháng, thì Cổ ty, Đăng văn viện mới được nhận.
[77] Ngày Canh Thân, đúc lại 54 con dấu của các cơ quan như Môn hạ tỉnh. Trước đây, trên văn bản con dấu đều có chữ “tân chú” (đúc mới), do Phán Hình bộ Thận Tòng Cát[21] tâu lên, nên đổi lại.
[78] Ngày Giáp Tý, ban chiếu khôi phục lại các khoa thi: Hiền lương phương chính năng trực ngôn cực gián, Bác thông phần điển đạt ư giáo hóa[22], Tài thức kiêm mậu minh ư thể dụng, Vũ túc an biên động minh thao lược, Vận trù quyết thắng quân mưu hoành viễn, Tài nhiệm biên ký, lệnh Thượng thư Lại bộ truyền cáo các lộ, cho phép các quan văn võ và kẻ sĩ ẩn dật trong dân gian đến ứng thí, giao cho Trung thư Môn hạ trước tiên khảo thí, nếu tài năng khả quan thì tâu lên tên tuổi. Lúc đó, Vua nói với Khấu Chuẩn rằng: “Hiện nay văn võ đều có nhiều người tài, há lại không có kẻ sĩ tài năng xuất chúng mà chưa được thăng tiến sao? Đến như chức vụ tướng súy, lại càng khó tìm được người tài. Đời trước dùng chế sách để thử tài, xem xét năng lực, cầu lấy người thực tài, đó cũng là kế sách lâu dài của quốc gia.” Bèn đưa ra danh mục các khoa thi chế sách đời Đường, chọn lấy 6 khoa để dùng.
(Việc khôi phục 6 khoa thi năm Cảnh Đức là theo đề nghị của Thịnh Độ, chi tiết xem ở phần khôi phục 6 khoa thi năm Thiên Thánh thứ 7, Điền Tích cũng từng đề nghị trước đó, cần xem xét thêm.)
[79] An Quốc quân Tiết độ suy quan Lý Hoành tâu rằng: “Các lộ mỗi khi mở viện để tra xét tù nhân, nếu gặp tháng hè, xin lệnh cho 10 ngày một lần rửa gông cùm, theo chế độ của ngục châu.” Vua nghe theo.
(Lý Hoành, không rõ lai lịch.)
[80] Ngày Bính Dần, ban chiếu cho thuế ruộng của chùa Thái Bình Hưng Quốc và chùa Can Minh ở Lư Sơn được giảm 3/10 để dùng vào việc tu sửa chùa chiền, kinh tượng, lệnh cho Giang Châu lập sổ sách kiểm tra, chọn các tăng nhân có danh tiếng và đức hạnh để quản lý. Do Trương Tri Bạch đi sứ về, tâu rằng các tăng nhân trong chùa không cẩn thận.
[81] Ngày Kỷ Tỵ, ban chiếu rằng từ ngày mùng 1 tháng 8 trở đi, những kẻ cầm vũ khí cướp bóc, nếu gặp ân xá trong lễ Nam Giao, sẽ không được xá miễn.
[82] Ngày Canh Ngọ, Đại Lý tự tâu: “Lễ giao gần đến, các châu tấu án phần nhiều không tinh tường, mong được xem xét lại để kéo dài thời gian, chờ đợi sự khoan hồng. Xin từ nay, những vụ xâm phạm tài sản, tình tiết rõ ràng, công khai chống đối, cần bác bỏ, thì phải trình bày đầy đủ tình tiết để định đoạn, nhằm dứt bỏ sự may rủi.” Chiếu chuẩn y. Lại có chiếu rằng những kẻ mưu giết người chưa đến mức gây thương tích hoặc chết người, nhưng tình tiết hung ác, không thể lưu lại tại địa phương, phải trình bày đầy đủ hồ sơ để xem xét.
[83] Ngày Tân Mùi, quần thần dâng ba biểu xin được nghe nhạc. Chiếu rằng lễ giao miếu dùng nhạc theo đúng lễ, việc xong thì ngừng lại.
[84] Quân đầu ty dẫn 29 viên liêu trực vào chầu, những người già yếu phải chuyển sang làm thặng viên, Vua thấy họ từng trải qua chiến trận, đặc cách cho mỗi tháng cấp 500 tiền.
[85] Ngày Nhâm Thân, chiếu giảm số lượng người được cử đi hộ tống các quan thay thế ở các lộ Giang, Chiết, Kinh Hồ, Phúc Kiến, Quảng Nam, theo lời thỉnh cầu của Điện trung thừa Triệu Chẩn.
[86] Ngày Quý Dậu, các tể thần cố xin dùng nhạc trong ngày lễ sinh thần, Vua nói: “Nếu vì sứ Bắc, thì đến ngày đó có thể dùng nhạc ở bên ngoài.” Các tể thần lại dâng biểu trình bày, nhưng cuối cùng vẫn không được chấp thuận.
[87] Ngày Giáp Tuất, sai 8 người thuộc Ngự tiền trung tá chia nhau đi các lộ Kinh Đông, Kinh Tây để huấn luyện và duyệt binh các quân.
[88] Ngày Bính Tý, Long đồ các đãi chế Thích Luân cùng Lễ bộ Cống viện tâu rằng: “Năm nay các đạo tiến sĩ chỉ có khoảng ba nghìn người[23], các khoa khác hơn một vạn người, trong đó có nhiều người văn lý lộn xộn, kinh nghĩa mười phần sai chín phần[24]. Nếu không có biện pháp đặc biệt để ràng buộc, e rằng sẽ càng làm tăng thói quen cẩu thả. Lại lo rằng quan lại vì sợ bị phạt nên tránh việc, hoàn toàn không tiến cử ai.
Thần nghĩ rằng phương pháp tuyển chọn nhân tài nên có chế độ lâu dài, nay xin các loại cử nhân đều phải trở về nguyên quán để thủ giải, không được gửi ứng thí hoặc mua ruộng đất lập hộ khẩu. Các châu thủ giải, phát người gửi ứng thí[25], từ trưởng lại trở xuống xin theo lệ phạt người thủ giải mười phần sai[26]. Khai Phong phủ giao cho quan lại giám sát, người phạm tội cũng bị phạt như vậy. Những người ở xa quê hương, đã lâu ở kinh thành, cho phép thủ giải tại Quốc tử giám, nhưng phải có quan chức bản quán bảo lãnh, phán giám dẫn nghiệm, mới được phụ học, ngày phát giải tâu xin cử quan khảo thí. Những năm gần đây, tiến sĩ phần nhiều chuộng hư danh, không chú trọng thực học, chỉ sao chép văn phú cổ kim, mang vào trường thi.
Kỳ thi đình trước đây dùng chính kinh ra đề, nhiều người không biết xuất xứ. Lệ cũ chỉ cho phép mang 《Thiên vận》 vào thi, nay xin ngoài 《Quan vận lược》 ra, không được mang sách vở, lệnh cho quan giám môn, tuần phố âm thầm giám sát, người phạm lỗi lập tức đuổi ra, và bị đánh trượt một kỳ thi. Chiếu chỉ năm Hàm Bình thứ ba quy định, tiến sĩ dự thi không được thắp nến, hàng năm Cống viện tuy có treo bảng thông báo, nhưng vẫn có người đến sáng vẫn chưa xong. Nay xin ngoài bàn viết ra, không được mang trà, bếp, nến vào, nếu sau giờ Dậu chưa xong, thì bị loại, và xin khuyên răn chuyên tâm học kinh sử.
Từ nay, Khai Phong phủ, Quốc tử giám, các lộ châu phủ, căn cứ vào số cử nhân nộp đơn thi thu, giải bốn phần mười, nếu tài nghệ xuất sắc, hoặc quá kém, thì không kể nhiều ít. 《Khai Bảo thông lễ nghĩa toản》 xin đổi thành nghĩa sơ, từ nay về sau, mỗi trường thi 《Thông lễ》 hỏi bốn câu kinh bản, sáu câu nghĩa sơ, đúng sáu câu là đỗ, kinh bản đúng hai câu, nghĩa sơ đúng ba câu cũng được. Kỳ thi thu năm nay[27], chỉ giải người cũ, người mới hãy cho học tập. Tây Xuyên, Quảng Nam trước đây thủ giải cử nhân, đều được miễn giải.
Từ nay về sau, những người đỗ Tam sử, Thông lễ, Tam lễ, Tam truyền, khi bổ nhiệm quan chức, so với học cứu, minh pháp, mong được bổ nhiệm vào nơi có lương cao, để khuyến khích.”
Vua cho rằng số lượng người được chọn quá ít, quy định quá nghiêm khắc, sợ cản trở con đường tiến thân của sĩ tử, bèn hạ chiếu cho hai chế và quan tri cống cử cùng bàn bạc kỹ lưỡng rồi tâu lên.
Khi ấy, Hàn lâm học sĩ Triều Huýnh và các quan dâng tấu: “Xin lệnh cho các châu ước định số lượng người được tiến cử, nếu châu nào chỉ có hai ba người dự thi thì cho phép tiến cử toàn bộ, hoặc nếu có người tài năng xuất chúng thì báo riêng tên lên.
Một ngày trước khi thi tại Nam tỉnh, phân định chỗ ngồi, niêm yết danh sách để mọi người biết, không được thay đổi. Người ở xa không có hộ tịch thì cho phép được quan chức bảo lãnh đến kinh phủ để nhận giải. Con cháu của quan văn võ đang tại chức được phép theo học tại Quốc học. Người trước đây đã ghi danh nhưng phải trở về nguyên quán thì không được tính lại.
Kỳ thi trước về các môn Thượng thư, Chu Dịch, Học cứu, Minh pháp, kiến thức chưa rộng, nên hỏi sáu câu về nghĩa lý và bốn câu về chú giải, đạt sáu câu là đỗ. Các môn Tam lễ, Tam truyền nội dung rộng lớn, tinh thông rất khó, xin hỏi bốn câu về chú giải và sáu câu về nghĩa lý, đạt ba câu trở lên là đỗ.
Các điều khác xin theo như tấu chương của Thích Luân và các quan.” Vua đồng ý.
(Bản chí vừa chép nghị sự của Huýnh ở đây, lại chép lại vào tháng 5 năm Tường Phù thứ 4, nội dung giống nhau, có lẽ do Thực lục nhầm lẫn. Xét tháng 4 năm Tường Phù thứ 4, các đạo chưa đưa người dự thi đến kinh, Huýnh làm sao biết được số lượng, hơn nữa số lượng lại trùng khớp với năm nay, rõ ràng là nhầm lẫn, nay xóa bỏ.)
- Chữ 'bản' trong 'Kim bản bản đại bị' nguyên bản thiếu, căn cứ theo Tống bản, Tống toát yếu bản và 《Tục thông giám》 quyển 25 bổ sung. ↵
- 'Tự dư châu suất bất hạ số bách' nguyên bản chép là 'bách', theo bản trong các bộ sách sửa lại. ↵
- Chữ 'tướng' nguyên bản là 'quân', theo Tống bản, Tống toát yếu bản, Các bản sửa lại. ↵
- Chữ 'ư' nguyên bản có chữ 'thiên', theo Tống bản, Tống toát yếu bản bỏ. ↵
- Quang lộc khanh phân ty Tây Kinh Lý Xương Linh xin nghỉ hưu, 'Quang lộc khanh' nguyên chép là 'Quang lộc tự', theo 《Tống hội yếu》 chức quan 46-2 sửa lại. Xét 《Tống sử》 quyển 287 bản truyện chép: 'Đổi làm Quang lộc khanh, bệnh không thể làm việc, Chuyển vận sứ tâu lên, lệnh giữ chức cũ phân ty Tây Kinh.' ↵
- Nguyên bản chữ 'Biên' sửa thành 'Hải', căn cứ theo chú thích trong sách này, quyển 63, tháng 6 năm Cảnh Đức thứ 3, ngày Tân Mão, cùng các truyện Thiệu Diệp và Giao Chỉ trong 《Tống sử》 quyển 426 và 488. ↵
- Nguyên bản chữ 'Tiện' sửa thành 'Truyền', căn cứ theo văn trên. ↵
- Các bản Khương Cái đều giống nhau. Bản Tống, bản Tóm tắt Tống và 《Tống sử toàn văn》 quyển 5 hạ, cùng 《Trị tích thống loại》 đều chép là 'Khương Ích'. 《Tục thông giám》 quyển 25 thì ghi cả hai. ↵
- Người bắn trúng còn được ban năm bộ áo chẽn gấm 'Áo chẽn gấm', bản Tống và bản Tống toát yếu đều ghi là 'Áo chẽn, quần áo'. ↵
- Dọc đường nhiều lần ban yến tiệc 'Ban' nguyên bản ghi là 'Tòng', theo bản Tống, bản Tống toát yếu và bản các sửa lại. ↵
- Thái thường bác sĩ người Trịnh là Lý Cập nhận chiếu làm Thông phán châu sự, hai chữ 'châu sự' nguyên bản khuyết, theo 《Tống hội yếu》 Hình pháp 3-13 bổ sung. ↵
- đều tâu lên những hành vi xấu xa của anh em Triệu Gián, chữ 'Gián' nguyên bản khuyết, theo sách trên bổ sung. ↵
- tình tiết độc ác, chữ 'độc' nguyên bản viết 'thiết', theo bản Tống, bản tóm tắt Tống và 《Tống hội yếu》 Hình pháp 3-12 sửa. ↵
- nói rằng những người bị bắt rất nhiều, chữ 'nói' nguyên bản viết 'viết', theo bản Tống, bản tóm tắt Tống, bản các và 《Tống sử》 quyển 296 Lã Văn Trọng truyền, 《Tục thông giám》 quyển 25 sửa. ↵
- Quản Thành nguyên bản là 'Quản Thành', theo các bản khác sửa lại. ↵
- 'Đồ' nguyên bản là 'Quốc', theo Tống bản, các bản khác sửa lại. ↵
- 'Phóng' nguyên bản là 'Ư', theo Tống bản, các bản khác và 《Trị tích thống loại》 quyển 5 《Chân Tông kinh chế Tây Hạ》, 《Tống sử》 quyển 466 《Trương Sùng Quý truyền》 sửa lại. ↵
- 'Thị vệ ty' nguyên bản là 'Thị vệ sứ', theo bản Tống, bản Tống toát yếu, bản các và 《Tống sử》 quyển 194, Binh chí sửa lại. ↵
- 'Giản' nguyên bản là 'Trạch', theo bản Tống, bản Tống toát yếu và 《Tống sử》 sửa lại. ↵
- Chữ 'giả' nguyên bản thiếu, theo bản Tống, 《Tống sử toàn văn》 quyển 5 hạ và 《Tống sử》 sửa lại. ↵
- Thận Tòng Cát nguyên bản viết là 'Điền Tòng Cát', căn cứ theo các bản khác và đoạn ghi chép ngày Kỷ Tỵ tháng 5 trong sách này mà sửa lại. ↵
- 'Bác thông phần điển đạt ư giáo hóa', chữ 'phần' nguyên bản viết là 'văn', căn cứ theo Tống bản, Tống toát yếu bản, các bản khác và 《Tống hội yếu》 tuyển cử 10/10, 《Tống sử toàn văn》 quyển 5 hạ mà sửa lại. ↵
- Năm nay các đạo tiến sĩ chỉ có khoảng ba nghìn người, theo 《Tống hội yếu》 tuyển cử 14/19 ghi là 'Năm nay các đạo thủ giải, miễn giải tiến sĩ chỉ có khoảng ba nghìn người', xét theo ý văn dưới, bốn chữ 'thủ giải miễn giải' có lẽ không nên bỏ. ↵
- Kinh nghĩa mười phần sai chín phần, dưới chữ 'thập phủ', 'cửu phủ' nguyên có thêm chữ 'nhất', theo bản các và 《Tống hội yếu》 tuyển cử 14/19 đã xóa. ↵
- Các châu thủ giải, phát người gửi ứng thí, chữ 'giải' nguyên bản thiếu, theo 《Tống hội yếu》 và 《Thông khảo》 quyển 30, phần tuyển cử bổ sung. Xét văn trên có nói 'Nay xin các loại cử nhân đều phải trở về nguyên quán để thủ giải', văn dưới cũng có 'Tây Xuyên, Quảng Nam trước đây thủ giải cử nhân', chữ 'giải' không nên bỏ. ↵
- Từ trưởng lại trở xuống xin theo lệ phạt người thủ giải mười phần sai, dưới chữ 'thập phủ' nguyên có thêm chữ 'nhất', theo bản các và 《Tống hội yếu》 tuyển cử 14/19 đã xóa. ↵
- Kỳ thi thu năm nay, chữ 'phú' nguyên là 'thí', theo sách trên và 《Thông khảo》 quyển 30, phần tuyển cử sửa lại. Xét văn trên cũng viết là 'thu phú', 'phú' là chỉ việc tiến cử. ↵