III. TỐNG CHÂN TÔNG
QUYỂN 66: NĂM CẢNH ĐỨC THỨ 4 (ĐINH MÙI, 1007)
Từ tháng 7 năm Cảnh Đức thứ 4 đời Chân Tông đến hết tháng 9 cùng năm.
[1] Mùa thu, tháng 7, ngày Ất Sửu mùng một, người Man ở Nam Châu là Cung Doãn Tiến đến triều cống.
[2] Lúc đó, trong quân Hổ Dực có người thu tiền để sửa chữa đồ dùng công cộng. Vua cho rằng pháp luật cấm đoán rất nghiêm ngặt, nhưng việc này không phải là tham nhũng cá nhân, tình cảnh đáng thương. Ngày Bính Dần, ban chiếu từ nay trở đi, mọi việc tương tự đều do quan phủ cấp tiền.
[3] Ngày Đinh Mão, đưa bài vị của Trang Mục Hoàng hậu vào thờ ở biệt miếu, điện thờ đặt trên điện của Trang Hoài Hoàng hậu.
[4] Lệnh cho dân huyện Vĩnh An được giảm một nửa tiền thuê nhà công, lấy làm định chế vĩnh viễn.
[5] Chiếu rằng phụ nữ phạm tội, nếu là tội đánh trượng trở xuống và không cố ý, thì tùy mức độ nặng nhẹ mà đánh roi hoặc cho nộp tiền đồng để được tha.
[6] Ngày Mậu Thìn, Viện Thẩm hình tâu: “Các lộ có việc bỏ sót nhân khẩu, vận chuyển vàng bạc, lương thực, chỉ vì sơ suất, các quan lại, sứ thần không có tội tham nhũng riêng, xin giao cho Tam ty xét xử rồi báo lên Pháp tự. Lại nữa, Pháp tự khi xét án quan lại, nếu việc xét đoán không đúng, công việc sai sót hoặc bảo lãnh không đúng, chỉ là lỗi công không đến mức bị cách chức, thì đều giao cho Chuyển vận ty cử quan tra hỏi. Nếu không có tình tiết gian lận, thì xử phạt theo pháp luật rồi tâu lên.” Đều được chấp thuận.
[7] Chiếu rằng từ nay, quan lại phạm tội tham nhũng, hoặc có hành vi tàn ác gây hại cho dân, hoặc có nghi ngờ về hình phạt, Viện Thẩm hình vẫn như cũ lên điện tâu xin quyết định. Các việc khác đã định hình phạt thì niêm phong trình lên Trung thư, Môn hạ thi hành.
(Theo 《Hội yếu》: Chiếu rằng Viện Thẩm hình phàm có án do Pháp tự tâu xin xét xử, đều phải trình bày chi tiết và tâu lại. Từ nay về sau, nên lệnh cho Viện này, trừ các việc quan lại tham nhũng, làm việc tàn ác hoặc có nghi ngờ về hình phạt, vẫn như cũ tâu lại, còn các việc hình phạt đã được xử lý thỏa đáng, thì niêm phong trình lên, kèm theo tờ giấy vàng ghi rằng “Hình phạt đã được xử lý thỏa đáng, xin giao Trung thư, Môn hạ thi hành”. Lúc đó, Vương Tế dâng sớ xin bãi bỏ Viện Thẩm hình, Vua bèn lệnh cho tể tướng thêm quy định. Vương Tế muốn bãi bỏ Viện Thẩm hình, cần xem xét thêm.)
[8] Chiếu cho Thẩm quan viện, các quan đương nhiệm đủ ba năm mới được khảo xét và dẫn đối, những người được đặc chỉ thì không thuộc diện này. Trước đây, các quan kinh triều thay phiên trở về, những người không có lỗi lầm gì đều được khảo xét và dẫn đối, phần nhiều được thăng chức, vì chưa từng hạn chế về thời gian.
[9] Chiếu cho các châu quân ở Tây lộ, những người phụ trách vận chuyển quân trang bị mưa lớn và nước sông dâng cao làm trở ngại[1], tiếp tục cấp lương thực hàng ngày. Theo lệ cũ, quân sĩ đến nơi chỉ được cấp lương thực một ngày. Vua thấy đường sá xa xôi khó khăn nên thương xót mà làm vậy.
[10] Ngày Kỷ Tỵ, Vua nói với các đại thần: “Vương Tế dâng lên năm đạo sắc lệnh về hình pháp, phức tạp và đơn giản không giống nhau. Trẫm từng xem các sắc lệnh thời Hiển Đức, rất rườm rà, có lẽ do Thế Tông nghiêm khắc gấp gáp, xuất phát từ tình thế lúc đó, đã ban hành rồi[2], không ai dám can ngăn.”
Lại nói Ngụy Nhân Phố từng soạn thảo sắc lệnh, viết “không được vi phạm”. Viên lại trong triều tâu: “Sắc lệnh ban ra, vi phạm thì bị trừng phạt, cần gì phải thêm câu này?” Nhân Phố cho là phải.
Vương Đán nói: “Chiếu sắc lẽ ra nên ngắn gọn, đúng đắn, thời gần đây cũng bị rườm rà quá[3].” Phùng Chửng nói: “Thời Khai Bảo sai các châu thông phán, sắc lệnh viết ‘hình ngục, tiền lương đều phải tuân theo chỉ thị’, lại có thêm câu ‘không được coi thường’, nay đã giản lược rồi.” Vua nói: “Phàm là các quan liên kết với nhau, nếu cùng bàn bạc hòa hợp thì việc gì cũng hợp lý. Nếu một người có ý kiến khác, dù không có chữ ‘coi thường’ thì cũng khó mà bỏ đi. Từ nay những việc liên quan đến đạo lý, nặng nhẹ không đồng đều, nên hỏi ý kiến các cơ quan trước, trình bày rõ được hay không, rồi mới ban sắc.”
(Truyện Phùng Chửng chép Vương Tế biên soạn sắc lệnh. Nay theo Thực lục.)
[11] Lại bảo các phụ thần rằng: “Gần đây các gián quan, ngự sử ít nói việc, há chẳng phải vì chưa quen điển cố, hoặc không biết việc triều đình sao? Nếu có thể đàn hặc nghị luận, trúng vào việc cần kíp, thì trong ngoài đều nghe theo.”
[12] Xuống chiếu rằng: “Các quan cử người, theo lệ đều phải liên đới chịu tội, nên có sự phân biệt. Từ nay các triều quan, sứ thần, mạc chức, châu huyện quan, phải có công lao nơi biên giới, hoặc tự lập kế hoạch, có công lao đặc biệt, thì vẫn cho tâu lên. Nếu khi khảo xét, thấy khác với lời tâu trước, sẽ xử theo phép triều đình. Hoặc sau khi đổi chức mà phạm tội tham nhũng, người cử không phải liên đới chịu tội. Nếu là người được cử theo lệ thường, có thành tích qua các nhiệm kỳ, sau khi đổi chức mà phạm tội, thì vẫn theo điều lệ mà liên đới chịu tội. Nếu chỉ cử làm chức vụ, mà người đó phạm tội tham nhũng trong nhiệm kỳ được cử, thì áp dụng chế độ liên đới chịu tội. Nếu đã đổi sang chức vụ khác, dù phạm tội tham nhũng, cũng không cần hỏi tới.”
[13] Xuống chiếu rằng: “Nghe nói phía tây nam huyện Củng mưa nhiều nước sông dâng cao, làm lộ ra các ngôi mộ, hãy sai quan sở tại làm lễ tế và chôn cất lại.”
[14] Triệu Đức Minh xin cho dân phiên đến chợ ở quân Bảo An buôn bán, theo lời xin.
[15] Ngày Canh Ngọ, đặt chức Lăng đài lệnh, kiêm quản việc huyện Vĩnh An.
[16] Ngày Nhâm Thân, ban chiếu rằng: “Phán quan và Thôi quan của phủ Khai Phong, mỗi chức tăng thêm một người, lấy việc ngục tụng hình pháp làm sinh sự, việc hộ khẩu thuế má làm thục sự, chia nhau quản lý, lại tăng thêm bổng lộc[4]. Nếu có việc oan uổng, chưa được xử lý công bằng, không phải do lại nhân nhận hối lộ, từ nay đều lấy Thôi quan và Phán quan làm người đứng đầu[5].”
Trước đây, khi Hoàng đế còn làm Khai Phong doãn, đặt hai Phán quan và ba Thôi quan, đến khi lên ngôi, chỉ đặt mỗi chức một người. Đến đây, đưa ra sáu việc ghi chép bàn bạc với Vương Đán, trong đó có hai điều cho rằng việc phủ quá nhiều, muốn tăng thêm Thôi quan và Phán quan. Sau khi có chiếu này, lại lệnh cho Vương Đán chọn người để bổ nhiệm. Về sau, Thôi quan và Phán quan chỉ chia nhau quản lý hai quân tả hữu, không phân biệt sinh sự và thục sự nữa.
(Việc không phân biệt sinh sự và thục sự xảy ra vào năm Thiên Hi thứ 4, nay tạm ghi chung lại.)
[17] Cao ban nội phẩm Bùi Dũ bị điều ra làm việc ở châu Đường. Trước đây, Dũ giám sát việc vận chuyển ở Quảng Châu, gặp sứ giả Giao Châu, nhân đó nói rằng Long Hoa Giám là vật quý hiếm, nên dùng để tiến cống. Đến lúc này, châu ấy thu thập để dâng lên, lại nói rằng Dũ từng truyền đạt chiếu chỉ. Hoàng đế nói: “Trẫm vỗ về dân xa, nào từng có lệnh đòi hỏi gì?” Lập tức giao Dũ cho Ngự sử đài tra hỏi, và có hình phạt này, lại trả Long Hoa Giám về Giao Châu. Dũ vốn có hiềm khích với Tri tạp ngự sử Vương Tế, Hoàng đế ban đầu rất giận, nhưng Tế ra sức biện bạch, nên Dũ được xử nhẹ, mọi người đều khen ngợi Tế.
[18] Hoàng đế nói với các phụ thần: “Gần đây thấy các văn nhân dâng văn chương, nhiều người cố ý trái với ý kinh điển để lập thuyết. Đó chính là cái gọi là ‘kẻ không phải thánh nhân thì không có phép tắc’, đợi khi có kẻ quá đáng, sẽ cách chức để làm gương.”
[19] Ban đầu, Tri châu Nghi Châu là Lưu Vĩnh Quy cai trị rất nghiêm khắc, bắt lính Trừng Hải chặt gỗ để sửa chữa dinh thự châu, nếu không đạt yêu cầu liền đánh bằng gậy, thậm chí có người phải dẫn vợ con vào rừng để chặt gỗ. Dù mưa gió lớn cũng không ngừng việc.
Tháng 6, ngày Ất Mão, Hiệu úy Trần Tiến nhân lòng oán hận của quân sĩ, đã xúi giục họ nổi dậy giết chết Vĩnh Quy và Giám áp Quốc Quân, rồi tôn Phán quan Lư Thành Quân làm thủ lĩnh, xưng hiệu Nam Bình Vương, chiếm thành làm phản. Chuyển vận sứ Quảng Nam Tây lộ là Thư Bôn gửi văn thư chiêu dụ, đồng thời điều quân các châu Quế, Tầm đến Liễu Thành để đánh dẹp.
Ngày Giáp Tuất, tin tâu về, Vua xuống chiếu cho Đông thượng các môn sứ Trung Châu thứ sử Tào Lợi Dụng, Cung bị khố sứ Hạ Châu thứ sử Trương Hú làm An phủ sứ Quảng Nam Đông, Tây lộ, như kinh phó sứ Trương Tòng Cổ, Nội điện sùng ban Trương Kế Năng làm phó, Ngu bộ viên ngoại lang Tiết Nhan cùng đảm nhiệm việc chuyển vận Quảng Nam Đông, Tây lộ. Điều quân cấm binh đang đóng ở Kinh Hồ Nam Bắc lộ cùng quân Hổ Dực châu Kì Hoàng, quân Hùng Lược châu Kinh Nam đến Quế Châu tập trận, đợi Lợi Dụng đến sẽ hợp lực tấn công, không được tiến quân trước.
Vua nói với Vương Đán rằng: “Cơ quan thiên văn nhiều lần dâng tấu về điềm báo, nói rằng sẽ có binh biến, ta đang lo ngại những nơi xa xôi không có người cai trị giỏi, nay quả nhiên giặc nổi lên. Triều đình bàn bạc chọn quan, có người nói Lợi Dụng tinh thông phương lược, hết lòng vì việc nước, Hú từng trải qua nhiều chức vụ biên cương, rất am hiểu việc dùng binh, Tòng Cổ hiểu rõ địa hình hiểm trở ngoài núi, Kế Năng dũng cảm có thể giao trọng trách. Nhưng ta đoán bọn giặc này không ra ngoài ba kế. Nếu chúng bảo vệ gia quyến, chiếm giữ thành trì cố thủ, đó là kế thứ nhất; cướp bóc của cải trong thành rồi rút vào rừng núi, đó là kế thứ hai. Dùng hai kế này đều không đáng lo. Nếu chúng tuyển mộ những kẻ kiêu dũng[6], lập người chủ mưu, thẳng tiến đến Quảng Châu, đó là thượng sách của giặc. Nhưng ta nghĩ chúng không đủ khôn ngoan để làm thế, chỉ sợ bị người khác xúi giục mà thôi.”
Lại sai Nội nhập cao ban Nội phẩm Vu Đức Nhuận mang chiếu trạm dịch đến dụ những kẻ trong đám giặc có thể tự quy thuận thì đều được tha tội, vẫn như cũ thu quản, các châu trưởng lại phải hết sức an ủi. Nếu dám chống cự, lập tức cho Tào Lợi Dụng tiến quân bắt giết. Tướng sĩ phải nghiêm chỉnh, không được tùy tiện làm hại dân thường, đốt phá nhà cửa, giày xéo ruộng vườn. Những người lập công thì tại chỗ lấy của quan ban thưởng, lập tức thăng chức, tùy nghi hành sự. Các quan thuộc châu huyện, nếu giặc đến, bộ hạ có thể bày mưu bắt giết thì ban thưởng hậu hĩ[7]. Các tướng hiệu theo quân, mỗi ngày cấp rượu thịt, phải đầy đủ[8]. Tăng thêm trạm ngựa từ kinh đô đến châu Nghi.
Sai Nội thị cao phẩm Chu Văn Chất làm Đô giám trú bạc Quảng châu, dụ rằng: “Phiên Ngư là nơi tụ tập của bảo vật, dân chúng đã lâu được yên ổn, nếu giặc theo dòng nước xuống đông thì tai họa sẽ lớn. Ngươi hãy gấp đến cùng quan lại bản châu bí mật chuẩn bị phòng ngự, khi giặc đến gấp thì lập tức tập hợp binh mã các châu gần đó và sứ thần tuần kiểm, chặn giữ các nơi hiểm yếu, lại cho phép tùy nghi hành sự.”
[20] Ngày Bính Tý, xuống chiếu cho Tào Lợi Dụng, các tướng sĩ lập công không cần cấp giấy tờ, chỉ căn cứ vào công trạng mà thăng bổ, những người có công đặc biệt thì tâu lên tên tuổi. Trước đây, Lôi Hữu Chung dẹp yên Tây Xuyên, cấp giấy tờ cho người lập công chỉ có bảy nghìn, Vua cho rằng ban thưởng quá rộng thì mất đi sự khuyến khích và răn đe, nên lại ban hành điều ước.
[21] Quyền Tam ty sứ Đinh Vị nói: “Năm Cảnh Đức thứ 3, thu nhập thêm 332.998 hộ, 4.150 người di cư, tổng số hộ thực quản cũ là 7.417.570 hộ, 16.280.254 nhân khẩu, so với năm Hàm Bình thứ 6 tăng thêm 553.410 hộ, 2.002.214 nhân khẩu. Thuế thu được tổng cộng 63.731.229 quan, thạch, thất, cân, so với năm Hàm Bình thứ 6 tăng thêm 3.465.209. Mong đặc biệt ban chiếu chỉ, từ nay lấy số hộ khẩu và thuế thu nhập năm Hàm Bình thứ 6 làm định mức, hàng năm so sánh số liệu, ghi chép đầy đủ lên Sử quán.” Được chấp thuận.
[22] Long Đồ các Đãi chế Trần Bành Niên nói: “Theo 《Hán thư》, Cao Bình hầu Ngụy Hồng vì tội cưỡi ngựa đến Tư Mã môn trong tông miếu, bị giáng tước một bậc. Đây là văn bản rõ ràng về việc không được cưỡi ngựa qua Tư Mã môn trong miếu. Nay Thái miếu có cửa phụ và cửa đông, quan tế vào trai cung, cách điện đình còn xa, nhưng hậu miếu chỉ có một cửa, mỗi khi tế đế, hợp tế, thần chủ đều đi qua đó. Hơn nữa, trai cung đối diện với cửa điện, chỉ cách vài bước, mà các quan tế đều cưỡi ngựa vào, thực sự không phải là cung kính. Mong từ nay, Trung thư, Môn hạ hành sự được phép cưỡi ngựa vào cửa đông Thái miếu, còn lại đều không được cưỡi ngựa vào. Như vậy mới thể hiện sự tôn kính, mở rộng lòng hiếu thảo.”
Chiếu rằng: Quan tế gặp mưa, được phép cưỡi ngựa vào cửa đông, người hầu dừng ở ngoài cửa, còn lại theo như lời thỉnh cầu.
[23] Trước đó, Tướng tác Giám thừa Lý Địch, Đại Lý Bình sự Lý Tư, Phạm Chiêu cùng được triệu thi, Vua xem bài thi thơ phú, nói với Vương Đán: “Lý Địch hơi khá hơn, Lý Tư, Phạm Chiêu lại kém hơn. Lý Địch có thể làm Trứ tác lang, Trực Sử quán, Lý Tư làm Thái tử Trung doãn, Phạm Chiêu làm Trứ tác tá lang, đều Trực Tập hiền viện. Trong chiếu chỉ nên ghi rõ ý chỉ của Trẫm, để họ biết mà cố gắng.”
[24] Ngày Đinh Sửu, bãi bỏ hai sở Đông Tây Sằn, chia củi khô cho các ban trực và các quân, theo lời thỉnh cầu của Nội điện Sùng ban Tạ Đức Quyền.
(Tháng 5 năm Tường Phù thứ 2, vì tu sửa cung Chiêu Ứng nên lại đặt sở Đông Sằn.)
[25] Trương Sùng Quý lại tâu rằng các châu quân ở biên giới thường xuyên trao đổi công văn với bộ lạc Phiên ở Hạ Châu, xin thêm chức An phủ sứ để quản lý việc này. Triều đình ra chiếu chỉ lệnh cho Chuyển vận sứ đến đôn đốc việc đó.
[26] Viện Thẩm hình tâu rằng hiệu úy Nhạc Vinh của quân Thần Dũng đóng ở Diên Châu, bắn tên làm chết người, theo luật chỉ phải chuộc tội bằng đồng. Vua nói: “Hiệu úy không phải do tập luyện mà làm chết người, nếu xử theo luật thường, thì lấy gì để răn đe?” Đặc chiếu phạt 50 ngàn tiền bổng để bồi thường cho gia đình người bị hại.
[27] Ngày Canh Thìn, lệnh cho Cáp môn Chỉ hậu Trương Vũ Chính và Dương Kế Quân làm Đô giám trú bạc ở Đàm Châu và Quế Châu. Vua cho rằng vì Nghi Châu đang dùng binh, hai châu này đều là nơi trọng yếu của Hồ Quảng.
[28] Lê Long Đình tự xưng là Quyền An Nam Tĩnh Hải quân Lưu hậu, sai em là Hoan Châu Thứ sử Minh Sướng và Điện trung thừa Hoàng Thành Nhã đến cống.
Ngày Tân Tỵ, phong cho Long Đình làm Tĩnh Hải Tiết độ sứ, Giao Chỉ quận vương, ban tên là Chí Trung, cấp cờ tiết. Lại truy phong Lê Hoàn làm Nam Việt vương, Minh Sướng và những người khác đều được thăng chức. Đến khi yến tiệc lớn ở điện Hàm Quang, Minh Sướng và những người khác đều dự. Vua thấy Thành Nhã ngồi xa, muốn nâng chỗ ngồi của ông lên, hỏi ý Tể tướng Vương Đán. Đán nói: “Xưa Quản Trọng vào triều nhà Chu, Vua Chu đãi ông bằng lễ Thượng khanh, Quản Trọng cố từ, nhận lễ Hạ khanh rồi về. Nước ta vỗ yên phương xa, đãi khách sứ ưu hậu, cũng không có gì đáng ngại.” Bèn nâng Thành Nhã lên ngồi dưới hàng Thượng thư ngũ phẩm.
(Thực lục nhầm Quản Trọng là Tử Sản, nay sửa lại.)
[29] Sông tràn ở Thiền Châu, làm hỏng đê Vương Bát Tảo, chiếu sai sứ đến sửa chữa.
[30] Lệnh cho các quan bố trí ở Hà Bắc, Hà Đông lộ tuần tra trong quân, xem xét việc luyện tập binh sĩ, ai có tài dũng muốn gia nhập các quân ở kinh thành thì cho phép tự trình bày, châu cấp tiền trang bị và đưa về kinh; những người già yếu không đủ sức mang giáp thì liệt kê tên báo lên. Lúc đó, các binh sĩ tinh nhuệ ở Hà Bắc nhân việc phòng hộ đến kinh, được dẫn vào điện để Vua hỏi chuyện, có người xin ở lại bổ sung vào quân cấm vệ. Vua thấy quân lính ở hai lộ Hà Bắc, Hà Đông có nhiều người dũng cảm, nên ra lệnh tuyển chọn rộng rãi.
[31] Ngày Nhâm Ngọ, chiếu cho các chức mạc ở Quảng Châu, quan châu huyện, quân hiệu và những người bị lưu đày, giao cho Tào Lợi Dụng hỏi han dọc đường, tìm hiểu những điều thuận lợi, nếu có gì đáng tham khảo thì nhanh chóng báo lên. Trước đây, những người phạm tội bị cách chức thường bị đày ra Lĩnh Ngoại, lúc đó giặc Nghi đang quấy nhiễu, Vua lo họ sẽ nhân cơ hội nổi loạn, bàn việc dời họ đến các châu quân gần phía bắc, nên ra lệnh điều tra.
[32] Chiếu cho các châu cử binh sĩ đến Đông Kinh làm việc, từ nay ngoài khẩu phần lương thực, mỗi tháng cấp thêm 200 tiền, lại xây thêm nhà ở, mỗi mùa đông cho họ nghỉ ngơi. Vua thấy binh sĩ đi làm việc xa, thường để lại một nửa lương thực nuôi gia đình, nhiều người bị đói rét, nên đặc biệt ưu đãi.
[33] Tri chế cáo Chu Khởi tâu: “Các cơ quan khi xử lý công việc, xin cho họ nêu rõ các điều khoản, luật lệ, điều lệ để báo lên. Nếu việc không rõ ràng, không có điều khoản nào để áp dụng, thì phải phân tích chi tiết và đề xuất cách giải quyết hợp lý để xin chỉ thị, không được giữ ý kiến hai chiều, trì hoãn việc thi hành. Nếu có người vì tình cảm riêng, xin cho phép người khác tố cáo, sẽ xử phạt nặng theo triều điển; nếu chỉ vì sợ hãi, cũng nên xử phạt nhẹ.” Vua đồng ý.
[34] Ngày Giáp Thân, chiếu bỏ thuế cá và gạo ở đầm Đại Thanh, huyện Du, châu Đàm.
[35] Ngày Ất Dậu, Thư Bôn tâu: “Ngày mùng một tháng này, Trần Tiến cùng Lư Thành Quân đem toàn quân đến đánh huyện Liễu Thành. Điện trực Hàn Minh, Hứa Quý, Hác Duy Hòa dẫn hơn nghìn quân bản bộ ra chống cự, Minh và Quý tử trận, Duy Hòa may mắn thoát thân. Thành Quân bèn chạy về Nghi Châu, liền sai sứ đến gặp thần xin tha tội, thần xét thấy đó là giả dối. Tối hôm đó, Tiến lại chiếm Liễu Thành, quân triều đình không địch nổi, rút về giữ Tượng Châu, mong triều đình gấp rút phát binh đánh dẹp.” Vua nói: “Đúng là gian trá, nhưng Tiến đã xin như vậy, nên truyền chiếu dụ trong đám giặc, nếu chúng cởi giáp đầu hàng, sẽ tha hết tội và còn được bổ nhiệm thêm.”
[36] Ngày Bính Tuất, đất Ích Châu động.
[37] Ngày Đinh Hợi, sai sứ ban áo quần cho Tào Lợi Dụng và các tướng sĩ.
[38] Ngày Mậu Tý, Vua bảo các quan phụ chính: “Gần đây có chiếu cho các quan lên điện, không được dùng tờ khải vô danh tâu việc, vì sợ lời tà thuyết nhân đó mà xen vào. Nhưng gần đây chẳng có ai dâng lời, các khanh nên thường tiếp xúc với sĩ đại phu, xem xét việc bốn phương rồi tâu lên.”
[39] Chiếu cho Hàn lâm sai họa công đi các lộ[9], vẽ hình thế núi sông, khoảng cách địa lý giao cho Xu mật viện, mỗi khi phát binh đồn thú, di chuyển thuế má, để tiện tra cứu.
[40] Sai sứ tu sửa miếu Tây Nhạc.
[41] Ngày Quý Tỵ, triều đình cho khôi phục lại chức quan đề điểm hình ngục ở các lộ.
Trước đó, Vua đưa ra sáu việc ghi chép, chỉ vào một việc nói với Vương Đán rằng: “Quan tâm đến nỗi khổ của dân, chọn lựa quan lại, Trẫm không ngày nào không nghĩ đến. Điều lo lắng là quan lại xử án ở các nơi chưa được người tài, một người bị oan ức tức thì gây ra tai họa. Nay việc quân dân tuy có chuyển vận sứ, nhưng đất xa không thể biết hết. Tiên đế từng chọn triều thần làm đề điểm hình ngục các lộ, nay có thể khôi phục lại, vẫn dùng sứ thần làm phó, trước hãy sai Trung thư, Xu mật viện chọn quan, liệt kê tên vào trong dâng lên.” Vua nói: “Hà Bắc, Thiểm Tây là nơi trọng yếu biên giới, càng cần người tài, hãy chọn người có tính cách hòa nhã và kiên định.” Vì vậy, Vua tự chọn bổ nhiệm Thái thường bác sĩ Trần Cương, Lý Quyền, Lý Cập[10], còn lại thì đề cử tên để báo cáo, đều triệu vào điện Trường Xuân để phái đi.
Đến nơi, họ chuyên trách xem xét việc giam cầm, xét lại hồ sơ án. Các châu quận không được đón tiếp hay tụ hội. Mỗi tuần, bộ phận phải báo cáo tình hình tù nhân, thứ tự xét hỏi, thường xuyên kiểm tra và đốc thúc. Những vụ giam giữ lâu ngày thì phải nhanh chóng đến xét hỏi. Những vụ án xử oan sai thì gửi văn thư để xét lại, hặc tội quan lại và báo cáo. Các vụ kiện tụng, nếu châu xử không đúng, đã qua chuyển vận sứ phê chuẩn mà chưa thỏa đáng, đều tiếp nhận và xử lý. Quan lại tham nhũng, lười biếng thì liệt kê tên để báo cáo, nếu ai dám che giấu sẽ bị trị tội. Lại ban cho áo tía, nhiệm kỳ ba năm, tăng thêm tiền lương, bằng với chuyển vận sứ. Trong cung cấp giấy ấn ngự tiền làm sổ ghi chép thành tích, Trung thư, Xu mật viện ghi danh, khi hết nhiệm kỳ sẽ khảo sát, bàn công và ban thưởng. Nếu hình ngục oan sai mà không phát hiện, quan lại buông lỏng mà không tấu trình, cố tình trốn tránh thì sẽ bị trừng trị nặng.
[42] Lúc đầu đúc 20 ấn, cấp cho các quan xử lý việc ở kinh đô, khắc chữ “Lưỡng Kinh Phụng Sứ”. Trước đây, ấn đều khắc chữ “Phụng Sứ”, không phân biệt trong ngoài, nên đổi lại.
[43] Chiếu cho Viện Xu mật từ nay các chức Tư sứ, Phó sứ đến Cáp môn chi hậu, khi ngoại nhiệm trở về, hoặc được triệu về kinh, phải trình bày lý lịch trước. Vua cho rằng khi dẫn kiến có lúc không nhớ hết lý lịch của người đó, hoặc có người có công lao lâu năm cần thăng chức, nên ban chiếu này. (Theo《Hội yếu》, việc tháng bảy).
[44] Tháng 8, ngày Ất Mùi, sai Nội thị Diêm Văn Khánh đến Quế Châu yến tiệc khao thưởng Tào Lợi Dụng cùng các sứ thần, quân hiệu.
[45] Ngày Bính Thân, chiếu cho các thủ lĩnh người Man ở động Khê thuộc Nghi Châu, Dung Châu, phải quản lý bộ tộc, không được tự ý ra khỏi biên giới, quấy nhiễu dân biên cương. Đợi khi giặc yên sẽ bàn việc ban thưởng theo thứ bậc. Các thủ lĩnh đều vâng chiếu, không dám động.
[46] Ngày Đinh Dậu, sai sứ tu sửa tháp Tăng Già ở Tứ Châu, cấp các vật dụng từ trong cung.
[47] Ngày Kỷ Hợi, chiếu rằng từ nay các quan Lưỡng tỉnh từ ngũ phẩm trở lên, Thượng thư tỉnh từ tứ phẩm trở lên, Đại tướng quân, Thứ sử trở lên, Tri tạp Ngự sử, các Tư sứ, nếu bị bệnh xin nghỉ từ ba ngày trở lên[11], thì Nội thị tỉnh sẽ sai người đưa Thái y đến khám. Theo chế độ cũ, các quan văn võ bị bệnh đều được cử thầy thuốc đến chữa trị, nhưng có người tự nhận bệnh nhẹ, xin không dùng thầy thuốc của triều đình. Vua không muốn có sự khác biệt trong ân điển, nên định chế này.
[48] Kiểm hiệu Thái phó, Thiêm thự Xu mật viện sự Hàn Sùng Huấn là người nhân hậu, khiêm tốn, chưa từng làm mất lòng ai, vốn có bệnh mắt, thường xin nghỉ. Vua bảo rằng: “Trẫm khi còn ở Đông cung, từng thấy thầy thuốc chữa mắt nói rằng bệnh mắt trong ngoài, phải đợi màng mắt già cứng, gạt đi rồi giữ lại, thì dễ thành công và hiệu quả lâu dài. Nếu màng mắt còn non, gạt đi sẽ mọc lại, mọc lại thì không chữa được. Điều này khá hợp lý, khanh nên ghi nhớ.” Sùng Huấn lạy tạ, từ đó nhiều lần dâng biểu xin từ chức. Ngày Canh Tý, được bổ làm Tề Châu Phòng ngự sứ. Bệnh nặng, xin nghỉ tổng cộng bốn trăm ngày, cứ mỗi mười tuần, các ty tâu lên, đều được chiếu đặc cách cấp lương.
[49] Đặt cơ quan Quản câu vãng lai quốc tín ty, sai Tây Kinh tác phường sứ, Liêm châu thứ sử, Nội thị tả ban phó đô tri Diêm Thừa Hàn và Cung bị khố sứ, Đái ngự khí giới Kỳ Chính Mẫn phụ trách. Từ khi Khiết Đan giảng hòa, hàng năm đều cử sứ giả giao hảo, Thừa Hàn bắt đầu chuyên trách việc này, nhân đó lập ra sở bài biện lễ tín, đến nay thì đặt cơ quan, đúc ấn.
[50] Sứ giả nước Bồ Đoan dâng biểu nói: “Thần thấy sứ giả Chiêm Thành được ban thưởng hai con ngựa có yên cương và hai lá cờ lớn, xin được ban thưởng theo lệ.” Các quan cho rằng Bồ Đoan ở dưới Chiêm Thành, xin ban năm lá cờ nhỏ nhiều màu, Vua đồng ý.
[51] Ngày Tân Sửu, ra chiếu rằng khi dẫn đối quan lại ở Thẩm quan và Tam ban, số người không được quá ba người, số quan lại kinh triều được bổ nhiệm không quá năm người, sứ giả được bổ nhiệm và người được Lại bộ tuyển chọn mỗi loại không quá mười người. Sau đó, số sứ giả dẫn đối ở Tam ban tăng lên năm người, số người được Lại bộ tuyển chọn và bổ nhiệm tăng lên mười lăm người. Vua bảo tể tướng rằng: “Trẫm nghe nói những người được tuyển chọn ở các cơ quan thường tốn kém nhiều, nếu không phải do quan chủ phán chuyên tâm làm việc thì càng bị cấp dưới làm phiền. Triều đình đã yêu cầu họ phải liêm khiết, há lại dung túng cho sự may rủi?”
[52] Ngày Nhâm Dần, Vua đến Sùng Văn viện xem bản mới biên soạn về sự tích quân thần, Vương Khâm Nhược, Dương Ức dâng bản thảo lên Vua, Vua xem khắp. Vào tứ khố xem sách vở, bảo tể thần rằng: “Việc soạn sách là việc khó, có người bàn rằng Thực lục triều trước vẫn còn thiếu sót.” Dương Ức tâu: “Sử thần ghi chép sự việc, cần phải chi tiết đầy đủ, thần tham gia biên soạn Thực lục Thái Tông, phàm việc gì có căn cứ để ghi vào sách thì mới được chép.” Vua cho là phải. Ban thưởng cho các quan biên soạn sách khí vật và lụa theo thứ bậc.
[53] Ngày Giáp Thìn, ra chiếu rằng vì Tào Lợi Dụng đi đánh dẹp, đường xa nắng nóng, lệnh cho các châu dọc đường xây dựng nhà nghỉ để họ được nghỉ ngơi.
[54] Sau khi ngừng chiến, có người bàn rằng việc nuôi ngựa quốc gia hao tốn nhiều, hàng năm phải chi phí lụa là, tuy mua được nhiều nhưng tổn thất cũng lớn. Tri Xu mật viện sự Trần Nghiêu Tẩu cho rằng: “Việc lập quần mục là phòng bị lớn của quốc gia, nay có kẻ nông cạn cho rằng ngựa không phải việc cấp bách, thì cũng nên giải tán binh sĩ về làm ruộng.” Ông soạn bài “Quần mục nghị” dâng lên[12], khắc vào bia đá ở Đại Danh giám.
Ngày Ất Tỵ, đặt chức Quần mục chế trí sứ, lệnh cho Nghiêu Tẩu kiêm nhiệm. Nghiêu Tẩu vốn là Quần mục sứ, đến khi nắm Xu mật thì bãi chức này. Lúc đó, Nội thị phó đô tri Diêm Thừa Hàn làm Đô giám. Nghiêu Tẩu tự trình bày rằng chức vụ của mình ở gần Vua, lại cùng Thừa Hàn liên quan công việc, nên tránh để khỏi bị dư luận bàn tán. Vua nói: “Ngựa quốc gia là gốc của việc quân, nên để đại thần tổng quản, không thể tránh được[13].” Nghiêu Tẩu sau đó vì công việc bộ nhiều, xin chỉ ký kiểm tra, còn các văn thư giao cho Sứ phó, Phán quan đóng dấu thi hành, Vua đồng ý. Sau lại thêm một Phán quan nữa.
(Việc thêm Phán quan vào tháng 9 ngày Đinh Hợi, nay gộp chép lại.)
[55] Thêm một chức Kiềm hạt ở Quảng Châu, lấy Nội điện sùng ban, Cáp môn chi hậu Hà Vinh làm chức này, vì giặc cướp đang quấy nhiễu.
[56] Vua nói với các quan cận thần: “Trước đây lệnh cho các lộ Đề điểm hình ngục quan xem xét các quan lại trong bộ mình có vi phạm hay không, nhưng chưa khen ngợi những người liêm chính, người xa nghe thấy, có thể cho rằng triều đình chỉ tìm lỗi người, lại sợ những kẻ không hiểu việc trị nước sinh sự.” Bèn hạ chiếu: “Nếu có quan lại tài năng, cũng cho tiến cử.”
[57] Chiếu cho các quan biên soạn sự tích quân thần là Bí thư thừa Trần Tòng Dịch, Trứ tác tá lang Trực sử quán Trần Việt, Đại Lý bình sự Bí các hiệu lý Lưu Quân, mỗi tháng tăng thêm 5.000 tiền, vì Tòng Dịch và các người khác soạn sách chăm chỉ mà lương bổng lại ít hơn đồng liêu.
[58] Ngày Bính Ngọ, châu Hoành báo cáo nước lũ dâng cao, làm hư hỏng doanh trại, triều đình ban chiếu cấp tiền cho quân sĩ.
[59] Ngày Đinh Mùi, phong Hữu Giám môn Vệ Thượng tướng quân Tiền Duy Trị làm Hữu Vũ vệ Thượng tướng quân, cấp lương hàng tháng một trăm ngàn tiền[14], và cho phép ông ở nhà dưỡng bệnh. Lúc đó, em trai của Duy Trị là Thái bộc Thiếu khanh Tiền Duy Diễn dâng lên bài luận 《Thánh đức luận》, Vua xem xong, nói với các tể thần: “Duy Diễn có tài văn học đáng khen, lại là quý tộc công vương mà chú tâm đến văn chương, thật đáng khen ngợi, nên ghi lại tên ông ấy, và giao bài luận này cho Sử quán lưu giữ.” Nhân đó, Vua nói: “Họ Tiền đời đời trung thuận, con cháu đáng được quan tâm. Nghe nói Duy Trị khá nghèo khó[15], càng đáng thương xót.” Vì thế mới có mệnh lệnh này.
[60] Triều đình xuất 50 vạn quan tiền từ kho nội phủ giao cho Tam ty mua đậu và lúa mì. Lúc đó, các tể thần tâu rằng năm nay được mùa, đậu và lúa mì rất rẻ, bị người giàu tích trữ, xin triều đình thu mua để giúp đỡ nông dân.
[61] Trung thư môn hạ tâu rằng, tang lễ của Hoàng hậu Trang Mục đã qua lâu, xin được tổ chức yến tiệc mùa thu và cử nhạc. Vua ban chiếu cho các quan bàn bạc kỹ, sau đó tâu rằng: “Theo 《Tả thị Xuân thu》, sau khi Hoàng hậu Mục của Chu Cảnh Vương được an táng, bỏ tang phục rồi mở tiệc. Thúc Hướng nói: ‘Mở tiệc vui sớm quá, là trái lễ’. Đó là vì chưa đủ tháng nên nói là quá sớm. Hoàng hậu Chiêu Đức nhà Đường băng hà ngày Đinh Dậu tháng 11 năm Trinh Nguyên thứ 2, đến ngày Nhâm Dần tháng 2 năm thứ 3 thì thần chủ được hợp táng vào miếu, đến ngày Mậu Dần tháng 4, Đức Tông ngự tại điện Tuyên Chính, làm lễ phong Thái úy Lý Thịnh. Theo 《Khai Nguyên lễ》, khi hoàng đế ra vào lễ phong Tam công, cử nhạc Thư Hòa. Đây là điển lễ có ghi chép rõ ràng, xin được theo cổ lệ mà cử nhạc.” Vua không đồng ý. Các tể tướng lại dâng biểu xin, Vua ban chiếu đợi đến đông chí sẽ làm theo lời tâu.
[62] Ngày Mậu Thân, ban chiếu rằng: “Từ nay, các nơi trai tiếu trong nội đình và các điện như Hàm Quang ở kinh thành, nội thần đến các kho vụ tuyên sách vật liệu, đều phải bắt kho vụ ghi rõ tên và số lượng, ký tên, các ty mới được cấp phát. Sau khi cấp phát xong, phải đính kèm văn bản của nội thần, niêm phong gửi đến Tam ty để lập sổ sách, mỗi tuần làm hai bản dâng lên nội đình, một bản lưu lại, một bản gửi xuống Thượng thư, Nội tỉnh đóng dấu, làm bằng chứng để thanh toán. Những người phụng chiếu giám sát việc tang lễ, sau khi công việc hoàn tất[16], cũng phải ghi rõ chi phí tâu lên, sao chép một bản gửi đến Ty bằng do của Tam ty để khám nghiệm, theo như quy định trước đây.
Trước đây, các văn bản yêu cầu vật liệu trong nội đình đều do Ty đô tri khám nghiệm và thanh toán, thường bị trì hoãn hơn năm mà chưa xong. Hoàng đế ra lệnh cho Xu mật viện và Tam ty bàn định quy chế này, rồi đưa ra mấy quyển sổ sách do Nội tỉnh phê duyệt cho các tể thần xem, đều là các tờ tấu của các ty viết ngược lại, nói rằng: “Trong cung dùng cách này ghi chép sự việc, bắt đầu từ triều trước, những việc tiết kiệm chi phí trong cung cấm phần nhiều như thế[17].
Trẫm thường thấy việc chi phí vật liệu xây dựng các công trình ở kinh thành không có quy định rõ ràng, Tam ty không thể kiểm soát hết, nên ra lệnh cho Trường sự tài và Ty bát tác mỗi ngày phải ghi rõ tình hình chi tiêu dâng lên. Gần đây, Diêm Thừa Hàn tâu rằng xà nhà của quan xá bị gãy, mong được truyền chỉ thay thế, nhờ đó mới biết có quy định này, không dám lãng phí. Bởi nghĩ đến việc mua gỗ ở Quan Tây, quân dân rất vất vả, nếu không có quy định cấm, tệ nạn sẽ càng nhiều.”
[63] Ngày Kỷ Dậu, lấy Tam ty Diêm thiết phó sứ, Ty phong viên ngoại lang Lâm Đặc làm Từ bộ lang trung, vẫn giữ chức cũ; Hoàng thành sứ, Thắng châu thứ sử Lưu Thừa Khuê kiêm Chiêu châu đoàn luyện sứ; Sùng nghi phó sứ, Giang Hoài đô đại chế trí trà diêm phát vận phó sứ Lý Phổ làm Tây kinh tác phường sứ, sung chức Phát vận sứ, đều do bàn định pháp lệnh về trà mà thuế năm tăng lên.
(Lúc đó Phùng Lượng làm Phát vận sứ, đến tháng 10 ngày Bính Thân mới thăng chức.)
[64] Trước đó, các cơ quan đã báo cáo về thuế khoá hàng năm: năm đầu tiên dùng phép cũ thu được 5.690.000 quan, năm thứ hai dùng phép mới thu được 4.100.000 quan, năm thứ ba thu được 2.850.000 quan. Lâm Đặc và những người khác nói rằng lợi ích tăng thêm, vốn nhà nước ít mà có lãi, đó là thuế khoá thực tế, còn số tiền thiếu hụt chỉ là tiền ảo. Do đó, Lâm Đặc và những người khác đều được thăng chức, và triều đình ban chiếu cho Tam ty thi hành phép mới, không được tự ý thay đổi.
(Theo bản chí, nhưng trong lời tựa của Lâm Đặc về quy định phép trà lại nói: trước đó, mỗi năm thu được 738.005 quan, từ khi đổi phép, hai năm thu được tổng cộng 7.092.965 quan. Con số này khác với trên, lời tựa viết vào tháng 5 năm Đại Trung Tường Phù thứ 2, cần tham khảo thêm.)
[65] Triều đình sai Tri chế cáo Tôn Cận và Long đồ các Đãi chế Thích Luân tu sửa lại 《Thập đạo đồ》, nhưng sách này không hoàn thành.
[66] Ban chiếu định ra quy chế thưởng cho tướng sĩ lập công, giao cho Tào Lợi Dụng và những người khác. Vua nói với các quan phụ chính: “Trước đây mỗi khi dùng binh, cứ theo quy chế mà thưởng cho việc chém được thủ cấp. Gần đây, khi chống giặc ở Hà Sóc, có kẻ chém đầu người đi đường để dâng lên, từ đó mỗi khi cử tướng đều phải nghiêm cấm. Nên sai Lợi Dụng và những người khác thường xuyên xem xét kỹ lưỡng.”
[67] Ngày Canh Tuất, ban chiếu rằng các quan mới thay chức ở Lĩnh Nam, nếu khi tại chức biết rõ địa hình hiểm yếu, dù đã hết nhiệm kỳ, vẫn tiếp tục cấp bổng lộc, cho cùng với quan mới cùng quản lý công việc, đến khi giặc yên mới thôi.
[68] Ban cho Khổng Thánh Hữu, cháu đời thứ 46 của Khổng Tử, học vị Đồng học cứu xuất thân. Thánh Hữu là con trai của Diên Thế Tử, tên là Nghi Tôn.
[69] Binh bộ viên ngoại lang Thiệu Diệp từng bảo tiến Quang lộc tự thừa Lý Tùy thăng chức Trứ tác tá lang, vì phạm tội tham nhũng bị cách chức làm dân thường. Đại Lý tự cho rằng Diệp phải liên đới chịu tội, nên bị tước một chức quan. Thẩm hình viện bác bỏ, nói: “Nên áp dụng chiếu chỉ ân xá tháng giêng để giảm nhẹ hình phạt.” Đại Lý tự cho rằng việc của Tùy tuy xảy ra trước chiếu chỉ ân xá, nhưng việc quan lại nhận hối lộ không nằm trong phạm vi được ân xá. Thẩm hình viện nói: “Mùa xuân năm nay, Hình bộ viên ngoại lang Trịnh Văn Bảo vì tiến cử Trương Thuấn Cử nên bị điều đến Đại Lý, dẫn chiếu chỉ ân xá để giảm từ tội lưu đày xuống đánh trượng, Diệp cũng nên được xử theo trường hợp này.” Triều đình hạ chiếu cho Hình bộ thượng thư Ôn Trọng Thư cùng các quan bàn việc này, đều cho rằng Diệp và Văn Bảo đều không nên được giảm tội. Tri Thẩm hình viện Chu Tốn nhiều lần tự tâu lên hoàng đế, hoàng đế đem việc này nói với các phụ thần Vương Đán, Đán nói: “Diệp vì Tùy mà phạm tội, Tùy không được giảm tội thì Diệp cũng không nằm trong phạm vi được ân xá. Nay triều đình tiến cử quan lại rất nhiều, nếu gặp ân xá đều được miễn tội, thì pháp luật liên đới chịu tội sẽ không còn hiệu lực.” Hoàng đế thấy Diệp vừa từ Lĩnh Biểu trở về, nên xử theo hình phạt nhẹ, chỉ hạ chiếu cách chức, các quan xét án đều bị phạt.
[70] Hàn lâm Thị giảng học sĩ, Hình bộ Thị lang, kiêm Quốc tử Tế tửu Hình Bính, vì già yếu đi lại khó khăn, vào chầu tự trình bày rằng quê cũ ở Tào Châu, mong được nghỉ phép về thăm quê nhà, đợi sang năm dự lễ Giao nhân[18]. Vua cho ngồi, an ủi rồi bảo Bính: “Khanh có thể tạm quản lý bản châu, cần gì phải xin phép?” Bính lại tâu: “Dương Lệ, Hạ Hầu Kiều cùng làm quan trong phủ, hai người đã mất, đều được truy tặng chức Thượng thư.” Vua thương xót, bảo tể tướng: “Điều này có thể thấy được chí hướng của họ.” Ngày Nhâm Tý, liền phong làm Công bộ Thượng thư, quản lý Tào Châu, chức vụ như cũ, dời ban thứ lên trên Hàn lâm học sĩ. Ngày vào từ biệt, được ban áo mặc và đai vàng. Hôm ấy, đặc biệt mở Long Đồ các, triệu tập các quan cận thần dự yến ở Sùng Hòa điện, Vua làm hai bài thơ ban cho, những người dự yến đều làm thơ họa lại. Bính nhìn bức vẽ Thượng thư và Lễ ký trên tường, chỉ vào thiên Trung Dung nói: “Phàm trị quốc gia thiên hạ có chín điều kinh điển.” Rồi trình bày đại ý, Vua khen ngợi và tiếp nhận. Khi lên đường, lại triệu tập các quan cận thần tiễn đưa, bày tiệc ở Nghi Xuân uyển. Việc Hàn lâm Thị giảng học sĩ ra ngoài nhậm chức, bắt đầu từ Bính.
[71] Dùng Thị cấm, Tuần kiểm các châu Quế, Chiêu là Trương Thủ Vinh làm Tây đầu cung phụng quan; Cáp môn chi hậu, Điện trực, Tri Hoài Viễn quân là Nhâm Cát, Tuần kiểm các châu Dung, Liễu là Trương Sùng Quý đều làm Tây đầu cung phụng quan; Tam ban phụng chức, Giám áp trại Thiên Hà là Tiền Cát làm Hữu thị cấm, rồi ban cho gấm bào, đai bạc, khí vật, tiền lụa, lại ban tiền cho tướng sĩ, và lệnh kê tên những người lập công tâu lên. Trước đây, giặc ở châu Nghị đánh Hoài Viễn quân, trong thành cố thủ, giặc rút rồi lại tập hợp nhiều ngày, Thủ Vinh đem quân đánh bại, thu được khí giáp. Lại đánh trại Thiên Hà, quân trong trại rất ít, Cát bố trí nghiêm chỉnh, liền xuất kích, lại đánh bại. Từ đó, có người từ trong giặc đến hàng, nói bọn hung ác bị đánh bại nhiều lần, phần lớn tan rã, lòng người đã ly tán.
(Ngày 19 tháng trước, 《Thực lục》 chép rằng Tri Hoài Viễn quân Tần Văn Đức tâu vào ngày 23 tháng 6, giặc đánh thành, đem quân đánh úp, đánh đuổi chúng, giết và bắt được rất nhiều. Ngày 19 tháng này, 《Thực lục》 lại chép Tri Hoài Viễn quân Nhâm Cát đánh bọn giặc, thu được khí giáp. Chỉ cách nhau một tháng, Hoài Viễn quân không nên đổi người giữ chức, việc đánh giặc chém bắt cũng giống nhau, nghi rằng ngày 19 tháng trước tâu công, ngày 19 tháng này thưởng công, thực ra là một việc. Không biết 《Thực lục》 căn cứ vào đâu mà có tên Tần Văn Đức, mà việc thưởng cũng không nhắc đến, nghi rằng 《Thực lục》 có lỗi. Nay chỉ lấy việc tháng này chép vào, bỏ việc tháng trước, cần xem xét kỹ hơn.)
[72] Ngày Quý Sửu, Vua bảo Vương Đán và các quan rằng: “Trước đây Trẫm đã ra chiếu cho các quan được tâu việc, trừ những việc cơ mật, không được dùng tờ khải vô danh, nếu không phải việc công hợp lệ thì không được lên điện tâu. Đó là để phòng ngừa việc người ta nói nhiều, dần dần thành ra lời gièm pha. Hơn nữa, nếu có việc rõ ràng thì sao không thể dâng sớ để đàn hặc? Gần đây, Thích Luân đã tâu rằng chiếu chỉ này không tiện.”
Vua liền đưa tờ tấu của Luân cho Vương Đán xem và nói: “Luân cho rằng những người ở xa khó được diện tấu, nhưng từ khi ban chiếu đến nay, những người lên điện tâu việc chưa từng bị ngăn trở. Trẫm đối với các quan quý ở chỗ công bằng, không muốn để họ ngầm kết bè đảng, âm thầm hãm hại lẫn nhau. Trẫm nghĩ thiên hạ rộng lớn, tự biết mình còn non kém, thường lo chính sự có thiếu sót, không chỉ là lòng thành mong cầu trị an, mà còn thường lo sợ. Các đế vương đời trước thích dùng binh đao, lơ là việc triều chính, mê đắm thanh sắc, ham mê xa xỉ, đó là lỗi lớn, Trẫm quyết không làm thế. Bề tôi bàn việc, nếu là điều mà mọi người không dám nói mà một mình dám nói, thì đáng khen ngợi.”
Vương Đán tâu: “Những lời gièm pha, thánh ý vốn không bị mê hoặc, nhưng gần đây những người bàn việc lợi hại còn ít[19], cũng nên lưu ý xem xét.” Vương Khâm Nhược tâu: “Bề tôi lên điện một hai lần, liền mong được ân huệ. Gần đây các tờ tấu trong ngoài, nếu theo điều khoản chiếu trước, đều nên giao cho cơ quan xét hỏi.”
Vua nói: “Luân tính tình thuần hậu, cẩn thận, có học vấn, tờ tấu này chỉ là chưa hiểu rõ chiếu chỉ mà thôi.”
[73] Thư Bôn tâu: “Có dân từ trong đám giặc trốn về, nói rằng Lư Thành Quân, Trần Tiến đám người vì lòng dân chia rẽ, bỏ chạy khỏi Nghi Châu, dìm chết người già yếu trong gia quyến năm trăm người xuống sông, dẫn theo ba nghìn người chạy về phía Liễu Châu, Tượng Châu, định cố thủ Dung Quản để cướp Quảng Châu. Khi mới đến Liễu Châu, bị sông ngăn không qua được, Tri châu Vương Dục thấy giặc liền bỏ chạy, thành bị hãm. Lại nói Thành Quân ban đầu định dẫn người đến hàng, đêm lén ra khỏi thành, đến sông thấy thuyền nhỏ nên lại quay về.” Vua nói: “Liễu Châu đã có sông ngăn, quan lại sao lại hèn nhát đến thế? Chắc là dùng người không đúng tài năng. Trẫm lo rằng Lợi Dụng đám người vì quân triều đình hùng mạnh mà khinh thường giặc, chúng gặp quân triều đình ắt sẽ bỏ chạy, tuy nên đuổi theo nhưng không thể không có chừng mực. Hơn nữa, không biết địa hình hiểm trở hay bằng phẳng, đường xa hay gần, nếu quân sĩ mệt mỏi thì việc càng đáng lo[20]. Quân đi xa, nên giữ kế vạn toàn. Nay thế giặc ngày càng cùng quẫn, rồi sẽ tự tan vỡ.” Liền sai sứ đem chiếu thư dụ bọn Lợi Dụng.
Lúc đó, Đô giám trú bạc Quảng Châu là Chu Văn Chất tăng cường xây thành lũy, sửa chữa khí giáp, tập hợp thuyền chiến đấu và thuyền đao ngư của tuần kiểm Đông Tây Hải[21], đóng giữ cửa hẻm Đoan Châu để chặn giặc. Giặc biết có phòng bị nên không dám tiến xuống phía đông. Bèn dẫn người đến Tư Thuận phủ[22], chia quân đánh Tượng Châu. Thư Bôn sai Nội thị Vu Đức Nhuận dẫn một nghìn quân, gấp đường đuổi theo.
[74] Ngày Bính Thìn, Kinh Nguyên lộ tâu rằng trại Ngoã Đình bị động đất.
[75] Ngày Đinh Tỵ, ban chiếu tu sửa chính sử của Thái Tổ và Thái Tông. Tể thần Vương Đán giám tu quốc sử, Tri Xu mật viện sự Vương Khâm Nhược, Trần Nghiêu Tẩu, Tham tri chính sự Triệu An Nhân, Hàn lâm học sĩ Triều Huýnh, Dương Ức cùng tu quốc sử. Năm Cảnh Đức thứ hai, khi Tất Sĩ An qua đời, Khấu Chuẩn chỉ giữ chức Tập hiền điện Đại học sĩ, Vương Đán lấy chức Tham tri chính sự quyền lĩnh sử quán sự. Đến khi Vương Đán làm tể tướng, tuy chưa kiêm giám tu, nhưng vẫn giữ chức sử quan như cũ. Từ đó, mới chính thức định danh.
[76] Đặt chức Long đồ các Trực học sĩ, lấy Long đồ các Đãi chế, Ty phong lang trung Đỗ Hạo làm Hữu gián nghị đại phu sung chức, xếp dưới Xu mật trực học sĩ, nhưng hơi lùi lại. Công bộ Thị lang Lã Văn Trọng, Lã Hữu Chi cùng làm Hàn lâm Thị độc học sĩ. Văn Trọng cẩn thận, kính cẩn, sau bị bệnh phong, xin nghỉ hơn trăm ngày, chiếu cho tiếp tục hưởng bổng lộc. Từ đó, cùng với Hữu Chi đều bãi chức, chuyển làm Hình bộ Thị lang, Tập hiền viện học sĩ. Hữu Chi là người thuần hậu, không thích tranh giành, nhưng khi được hỏi ý kiến, không có gì đặc biệt.
[77] Quyền Tam ty sứ Đinh Vị dâng sách 《Cảnh Đức Hội Kê Lục》 sáu quyển, chiếu khen thưởng, đưa sách vào bí các.
[78] Tri Hùng châu Lý Doãn Tắc tâu: “Các đồn điền đều ở các châu quân biên giới, thần từ trước đến nay chỉ gửi văn thư điều chỉnh, chưa từng tự mình kiểm tra. Hai viên An phủ và Đô giám thường tuần tra các quận biên giới, xin cho kiêm quản việc đồn điền, nhân tiện kiểm tra.” Theo lời tâu.
[79] Lệnh hai viên Đô giám ở Hoàn Khánh lộ mỗi năm một lần tuần tra các trại biên giới, thay phiên nhau đi. Lúc đó, có người dâng thư nói rằng các quân ở Hoàn Khánh phần lớn đóng ở trại Hoài An, Hồng Đức, nhưng Bộ thự chưa từng kiểm tra, việc quân sự lỏng lẻo.
[80] Ngày Kỷ Mùi, Vu Đức Nhuận tâu rằng giặc ở Châu Nghi vẫn chiếm giữ các huyện Lạc Dung thuộc Châu Liễu.
Vua nói: “Bọn chúng không thể rời khỏi hang ổ, chỉ tự chuốc lấy diệt vong mà thôi.” Vương Đán nói: “Nếu giặc chạy xa, thì sẽ không có lương thực để sống.” Phùng Chửng nói: “Có người nói chúng chạy sang Giao Chỉ, nhưng thần cho rằng chắc chắn không phải vậy, vì binh lực Giao Chỉ không thể so với giặc được. Nếu quân triều đình đến nơi, thần e rằng chúng sẽ chạy sang Quỳnh Quản. Nếu chúng chạy sang Quỳnh Quản, thì quân triều đình cũng phải kéo dài thời gian.” Vương Đán nói: “Bọn giặc vốn không thể tồn tại lâu, chỉ cố kéo dài sự sống thêm chút thời gian mà thôi.”
Vua lại nói: “Châu Tượng đã bị vây, nhưng vẫn có tấu chương gửi về, còn Châu Quế thì không, có lẽ Hà Bỉnh là người giỏi giữ thành.” Liền sai nội thị Sử Sùng Quý cưỡi ngựa đến Châu Quế để thăm hỏi Tào Lợi Dụng, đồng thời lệnh cho quan nhiếp chức vào nơi giặc để chiêu dụ.
(Sách 《Chính sử》 chép trong truyện Du Hiến Khanh rằng: Hiến Khanh làm Thôi quan ở Châu Chiêu, gặp loạn Trần Tiến, quan thú Châu Tượng không làm tròn nhiệm vụ, Chuyển vận sứ hạ lệnh cho Hiến Khanh đến giúp. Khi đến nơi, quan thú định bỏ thành, Hiến Khanh nói: “Gặp nạn mà trốn tránh, có được không? Giặc đến còn phải ra sức đánh, nếu không thắng thì chỉ có chết, sao lại bỏ chạy?” Xét lời Vua Chân Tông khen Hà Bỉnh giỏi giữ thành, thì truyện này chép rằng quan thú không làm tròn nhiệm vụ, e rằng không đúng. Phụ truyện của Hiến Khanh lại chép: Quan thú nghe lời Hiến Khanh nên dừng lại, giặc cũng không đến. Xét Châu Tượng bị vây hơn bốn mươi ngày, mà nói rằng giặc không đến, thật là sai lầm quá mức. Truyện này căn cứ theo 《Mộ chí》 của Lưu Xưởng, nay không dùng.)
[81] Ngày Nhâm Tuất, Vua đối đáp với các phụ thần, nhân đó nói: “Đời Vua Thế Tông, mỗi khi sai sứ đi gấp, đều hạn định thời gian, nếu ai đến trước thì đều phải đợi ở bên ngoài, đúng giờ mới vào báo, nếu không sẽ bị tội không lường trước được. Tính tuy nghiêm khắc, nhưng trí mưu hùng vũ. Khi ấy thân chinh, hạ được Doanh, Mạc, nếu không gặp bệnh phải rút quân, thì đã thu phục được U, Kế rồi.”
[82] Tháng đó, các nơi đều báo mùa màng bội thu, lúa mạch ở vùng Hoài, Thái giá mỗi đấu mười đồng, gạo tẻ mỗi hộc hai trăm đồng.
[83] Xuống chiếu cho ba viện Ngự sử lệnh cho bản đài dò xét những người thanh danh không xứng với chức vụ, đều phải kê tên tâu lên.
[84] Tháng 9, ngày Giáp Tý mùng một, Tri châu Hoa Châu, Khởi cư xá nhân Trương Thư cùng thuộc hạ thu tiền dân để tu sửa miếu Khổng Tử, bị dân kiện, đều bị phạt tiền. Nhân đó xuống chiếu cho các châu huyện từ nay về sau, tiền tu sửa miếu Văn Tuyên Vương đều do quan cấp, không được tự tiện thu tiền dân.
[85] Xuống chiếu cho Trấn Nhung quân rằng những người lấn chiếm ruộng đất, trốn thuế thường, đều được miễn. Trước đây, xuống chiếu lấy đất hoang chia đều cho các dân bắn cung giữ biên giới, vẫn miễn thuế ruộng. Đến nay, có dân kiện rằng những người đó chiếm quá hạn và trốn thuế, bèn ban chiếu này.
[86] Ngày Canh Ngọ, Tam ty xin cho Tả tàng khố xuất vàng loại thứ để làm đai, dùng ban thưởng. Vua nói: “Triều đình ban ơn cho cận thần, tiếc của đâu phải ở chỗ này?” Liền xuống chiếu cho những cái đã làm xong đều đem nấu chảy, dùng vàng loại tốt làm lại.
[87] Vua cho rằng thời bình đã lâu, thuế má rất nhẹ, ngoài chi phí quân chính, chưa từng tiêu xài xa xỉ, lại thấy các quan làm việc vất vả, ngày Nhâm Thân, bèn xuống chiếu từ nay về sau, bổng lộc hàng tháng của quan văn võ nếu đáng chiết khấu, đều cấp tiền thật, ở kinh sáu phần, ở ngoài bốn phần, nếu muốn cấp vật khác cũng được.
[88] Ban cho các huyện ở kinh sách 《Thánh Huệ Phương》.
[89] Ngày Giáp Tuất, xuống chiếu cho các quan ở Thẩm hình viện, Hình bộ, Đại Lý tự, từ nay sau khi mãn nhiệm, nếu bị phạt văn bản bốn lần trở lên, chưa được dẫn vào đối đáp để khảo khóa; những người cùng ký tên liên đới phải tách riêng từng việc tâu lên, sẽ xét mức độ nặng nhẹ mà giáng chức; người nào trong thời gian tại chức làm việc không có sai sót, khi mãn nhiệm sẽ được ưu tiên thăng thưởng.
[90] Có người dâng thư nói: “Dân ngu muội, sùng bái Phật quá mức, cho rằng bố thí tài vật có thể cầu phúc, tu cúng có thể giảm tội, hại lớn như vậy, nên cấm chỉ.” Vua nói: “Tập tục đã lâu, sao có thể dứt ngay được? Nhưng đạo Phật vốn là tu tâm, nếu ngộ được lý, ích lợi rất lớn. Lại nữa, đạo Phật chủ trương nhẫn nhục, nên quân vương chịu nhục cũng là nghĩa vậy. Quân vương nếu lo lắng chăm chỉ chính sự, ban ơn nuôi dưỡng muôn dân, không cần tạc tượng đúc chuông tự làm công đức.”
[91] Ngày Bính Tý, xuống chiếu cho các quan Đề điểm hình ngục ở Quảng Nam lộ được phép đi xe trạm để xét việc, nếu là vùng lam chướng, mùa hè nóng nực được phép dùng văn thư kiểm tra, đến mùa thu mới đi tuần. Đến cuối niên hiệu Đại Trung Tường Phù, các quan Chuyển vận sứ, Phó cũng được phép theo lệ này.
(Chuyển vận sứ, Phó dùng lệ này vào tháng 5 năm Tường Phù thứ 7.)
[92] Các huyện Uyển Khâu thuộc Trần châu, Đông A, Tu Thành thuộc Vận châu, châu chấu không hại lúa, ôm cỏ mà chết.
[93] Ngày Đinh Sửu, Vua bảo các quan phụ chính: “Giặc ở Nghi châu nghe tin quân triều đình đến Quế châu, thế cùng lực kiệt, nên lệnh cho Tào Lợi Dụng chia quân truy bắt, tùy nghi xử trí.” Lại ban 40 bản sắc chiếu cho Lợi Dụng sai người mang đi bố cáo cho bọn giặc và dán ở các nơi hiểm yếu, mong chúng hối cải quy thuận, tránh bị tàn sát.
[94] Ngày Kỷ Mão, xuống chiếu cho các quan, nhà ai có giữ bản cũ 《Thái Tổ Thực lục》 đều phải nộp lên Sử quán, không được giấu giếm.
[95] Tể tướng đứng hàng cùng với Xu mật sứ, Tham tri chính sự, Vua thường thấy Vương Đán đứng hàng với Vương Khâm Nhược quá gần, bèn nói với tả hữu rằng: “Từ phiến đá nghi thức trong sân điện về phía nam hơi chật hẹp, nên khi triều hội đứng gần như cùng hàng.” Liền hạ chiếu cho các cửa di chuyển vị trí đứng của Tể tướng về phía bắc phiến đá nghi thức, còn lại đứng ở phía nam.
[96] Vua nghe dân cư kinh thành thường vứt bỏ lúa mạch và thức ăn, bèn hạ chiếu cho Khai Phong phủ nghiêm cấm, xử tội nặng.
[97] Trước đây, Công bộ viên ngoại lang kiêm Thị ngự sử tri tạp sự Vương Tế nhận chiếu so sánh pháp chế về trà mới và cũ, giữ ý kiến trái với Đinh Vị, Lâm Đặc, Lưu Thừa Khuê, nên Thừa Khuê cùng Vương Khâm Nhược thay nhau chê bai. Ngày Tân Tỵ, đổi làm Công bộ lang trung, ra làm Tri châu Hàng Châu. Vua gặp mặt an ủi, dặn dò về những thiếu sót của triều đình, cho phép dâng sớ mật tâu. Tục Ngô Việt thích xa hoa, Tế sửa đổi theo lối giản dị, dùng đồ gốm, thìa gỗ làm đồ tiếp đãi, quan lại và dân chúng lén cười, nhưng Tế không thay đổi.
Ban đầu, Vua bàn với Tể tướng về việc chọn quan, Vương Đán nói: “Những nơi trọng yếu trong thiên hạ làm bình phong cho triều đình, chỉ khoảng một hai mươi châu, nếu đều có người tài, thì việc trấn phủ có phương lược, uy đức đều rõ, giặc nhỏ không thể gây họa.” Vua rất tán đồng.
Lúc đó Tiết Ánh làm Tri châu Hàng Châu đã hết nhiệm kỳ, bàn chọn người thay, Phùng Chửng nói: “Dư Hàng so với các đạo dễ trị.” Vua nói: “Giao phó trọng trách phương diện, như chư hầu ngày xưa, lúc bình thường không có việc, thì dễ trị. Người Ngô khinh bạc, nếu không đề phòng bất thường, sao có thể nói là dễ? Như châu Nghi chỉ vì Lưu Vĩnh Quy ngược đãi thuộc hạ, tụ làm giặc cướp, lan sang địa phương khác, nếu quan trưởng có người tài, đâu đến nỗi thế?” Nhân xem sổ quan chức, chỉ Tôn Cận, Vương Tế hỏi Vương Đán: “Hai người này ai hơn?” Đán đáp: “Tế có tài năng làm quan, có thể đảm nhận việc này.”
[98] Giặc vây hãm châu Tượng đã lâu mà không hạ được, Tào Lợi Dụng đem đại quân đến cứu viện. Ngày Giáp Thân, gặp giặc ở phố Lý Luyện thuộc huyện Vũ Tiên. Ban đầu giặc không phát hiện, sau đó Trần Tiến một mình dẫn quân đến chống cự, xông thẳng vào tiền quân. Ký ban Thị cấm Quách Chí Ngôn chỉ huy kỵ binh đánh tả hữu. Giặc mặc áo giáp nước thuận, cầm khiên tiến lên, tên bắn như mưa nhưng không thể đẩy lùi được. Tiền quân liền cầm kích, đao và rìu lớn phá vỡ khiên của chúng. Nội thị Sử Sùng Quý leo lên núi hô lớn: “Giặc chạy rồi! Mau giết chúng!” Giặc hoảng loạn, quân sĩ tan vỡ, đuổi theo đến dưới thành châu Tượng. Trong trại giặc vẫn còn người cầm cọc dài nhòm ngó trong thành. Lư Thành Quân bèn dẫn gia quyến cầm chiếu thư đến đầu hàng. Bèn chém Trần Tiến cùng đồng đảng, bắt sống hơn sáu mươi tướng giặc, chém đầu, thu được rất nhiều khí giới, áo giáp và chiến mã[23]. Lợi Dụng bèn vào châu Tượng, an ủi quân dân, chia quân đi bắt giặc còn sót lại[24], sai Vu Đức Nhuận chạy trạm tâu việc.
[99] Sai Hộ bộ Phó sứ, Từ bộ Lang trung Tống Bác làm Chánh đán sứ sang nước Khiết Đan, Cung phụng quan, Cáp môn Chỉ hậu Phùng Nhược Chuyết làm phó. Hộ bộ Phán quan, Điện trung Thừa Đằng Thiệp làm Sinh thần sứ, Thị cấm, Cáp môn Chỉ hậu Lưu Hú làm phó. Trứ tác lang, Trực sử quán Trần Tri Vi làm Chánh đán sứ, Cung phụng quan, Cáp môn Chỉ hậu Vương Thừa Soạn làm phó. Khi trở về, Hú vì khinh suất thất lễ bị cách chức, tước hai nhiệm.
(Hú, không rõ quê quán, bị trách vào tháng tư năm sau, nay chép chung. Phùng Nhược Chuyết, không thấy chép. Trần Tri Vi, người Cao Bưu. Vương Thừa Soạn, con của Thẩm Kỳ.)
[100] Lấy Tứ phương quán sứ, Minh Châu phòng ngự sứ, Tri Đồng Châu Thượng Quan Chính làm Tả Long Vũ quân Đại tướng quân, Bình Châu phòng ngự sứ; Khởi cư xá nhân, Tri Hoa Châu Trương Thư giữ nguyên chức, cùng phân ty Tây Kinh, do chuyển vận sứ tâu rằng họ già yếu không đảm đương được công việc.
[101] Ngày Ất Dậu, Tri Quỳnh Châu Lý Văn Trứ tâu rằng: “Những người bị phối lưu mưu giết quan lại làm loạn, đã cùng Binh mã giám áp Mã Hoài Ngọc bắt giết hết.” Triều đình xuống chiếu cho Thẩm quan, Tam ban viện đợi khi Lý Văn Trứ và Mã Hoài Ngọc đến kinh thì dẫn vào đối đáp.
(Lý Văn Trứ, Mã Hoài Ngọc, chưa rõ lai lịch.)
[102] Ngày Bính Tuất, Trương Sùng Quý tâu rằng Triệu Đức Minh sắp chôn cất mẹ. Triều đình sai Điện trực, Các môn chỉ hậu Viên Vũ đi viếng. Viên Vũ đến Hạ Châu, quên lời phủ dụ, lại nói năng khinh suất. Khi trở về, bị cách chức, phạt nộp 10 cân vàng.
(Viên Vũ, chưa rõ lai lịch.)
[103] Ngày Đinh Hợi, quan biên thần tâu rằng Triệu Đức Minh mưu cướp Tây Lương, đánh úp Hồi Cốt. Vua cho rằng Lục Cốc, Cam Châu từ lâu đã tỏ lòng trung thuận, nên muốn vỗ về yên ủi. Bèn sai sứ dụ Tư Đạc Đốc, lệnh liên kết với Hồi Cốt làm viện binh, và ban cho Tư Đạc Đốc trà, thuốc, quần áo, đai vàng cùng vật phẩm cho bộ lạc có khác biệt. Tư Đạc Đốc dâng biểu tạ ơn.
[104] Triều đình xuống chiếu rằng mỗi năm vào đầu mùa đông, lấy dê của người Phiên giết làm lễ vật ban tặng[25], nghe nói việc này gây tổn hại sinh mạng quá nhiều, từ nay lấy dê Bát tiết thay thế.
[105] Ngày Mậu Tý, triều đình xuống chiếu rằng quan lại nhân việc công mà nhận hối lộ, cho phép làm trái pháp luật, và khi xét xử lại dùng điều khoản thông thường để tránh tội uổng pháp, từ nay nếu chứng cứ rõ ràng thì xử theo tội uổng pháp, tội chết thì thêm hình phạt lưu đày. Đây là theo lời thỉnh cầu của Tri Thẩm hình viện Chu Tốn.
[106] Truy thụy cho Ngụy Nhân Phố là Tuyên Ý, theo lời thỉnh cầu của con ông là Ngụy Hàm Tín.
[107] Ngày Kỷ Sửu, truy tặng chức Như Kinh sứ cho cố Tuần kiểm sứ Ung Châu, Tây đầu cung phụng quan, Cáp môn chi hậu Trương Thủ Vinh. Trước đây, giặc ở Châu Nghi tấn công trại Thiên Hà, Thủ Vinh dẫn quân đánh dẹp, giết và làm bị thương rất nhiều, nhưng thế giặc vẫn còn mạnh, bèn vào trại cố thủ, giặc không thể phá được, nhờ công được thăng chức. Sau đó ông bị bệnh, triều đình sai thầy thuốc ngự y đến chữa trị, nhưng chưa kịp đến thì ông đã mất, nên đặc cách truy tặng và cho con ông được bổ nhiệm.
[108] Ngày Canh Dần, sai sứ mang chiếu dụ đến Tào Lợi Dụng và các chuyển vận sứ, trưởng lại, sứ thần, quân hiệu dưới quyền.
[109] Tuần phủ Phúc Kiến, Tỷ bộ viên ngoại lang Trương Lệnh Đồ tâu: “Các trại binh tuần tra ở Phúc Kiến bắt được người buôn lậu trà muối, thường chia của cải của họ rồi thả người phạm tội trốn đi. Xin từ nay cho phép tố cáo ngược lại trên đường, xử tội nặng, tịch thu một nửa số của cải chia chác sung công, phần còn lại thưởng cho người tố cáo.” Triều đình đồng ý.
[110] Ngày Nhâm Thìn, lệnh cho Trung thư, Xu mật viện kiểm duyệt các việc đáng ghi chép từ niên hiệu Kiến Long đến nay, gửi đến Tu sử viện.
[111] Ngày Quý Tỵ, chiếu cho Tam ban viện từ nay khi bổ nhiệm các chức Giám áp, Tuần kiểm, Sứ thần ở các châu, đều phải đến Xu mật viện xem xét rồi mới được dẫn vào yết kiến.
- 'mưa' nguyên bản là 'lưỡng', theo bản khác sửa lại. Xem đoạn dưới ngày Kỷ Tỵ cũng có câu 'mưa lớn nước sông dâng cao'. ↵
- 'đã ban hành rồi' nguyên bản là 'đã hành rồi', theo bản khác sửa lại. Xem 《Tống hội yếu》 phần Hình pháp chép là 'đã ban hành rồi'. ↵
- 'thời gần đây' nguyên bản thiếu chữ 'đại', theo bản khác và 《Tống hội yếu》 bổ sung. ↵
- Chữ 'tăng' nguyên bản là 'như', căn cứ theo Tống bản, Tống toát yếu bản và 《Trị tích thống loại》 quyển 29 sửa lại. ↵
- Từ nay đều lấy Thôi quan và Phán quan làm người đứng đầu, sách trên đều chép là 'từ nay đều lấy Thôi quan làm người đứng đầu'. ↵
- 'Quả' nguyên văn là 'Dũng', theo bản Tống, bản Tống toát yếu, bản các và bản dẫn trên trong 《Trường biên kỷ sự bản mạt》 sửa lại. ↵
- 'Ban thưởng hậu hĩ' chữ 'thưởng' nguyên là chữ 'tưởng', căn cứ vào bản Tống, bản Tống toát yếu và 《Tống hội yếu》 binh 10.12, cùng 《Trường biên kỷ sự bản mạt》 sửa lại. ↵
- 'Phải đầy đủ' chữ 'ứ' nguyên là chữ 'ốc', căn cứ vào 《Tống hội yếu》 và 《Trường biên kỷ sự bản mạt》 sửa lại. ↵
- Chiếu Hàn lâm sai họa công đi các lộ, chữ 'họa' nguyên là 'thư', theo bản Tống, bản Tống toát yếu và Tống hội yếu binh 27/15, sách Trị tích thống loại quyển 5 Chân Tông thánh chính sửa lại. ↵
- 'Trần Cương', bản Tống và bản Tống toát yếu chép là 'Trần Luân'. ↵
- 'Bị bệnh' nguyên là 'bị bệnh', theo Tống bản, Tống toát yếu bản, các bản sửa ↵
- 'Quần mục nghị', trong 《Tống sử》 quyển 284 truyện Trần Nghiêu Tẩu, 《Thông khảo》 quyển 160 Binh khảo và 《Ngọc hải》 quyển 149 Mã chính đều chép là 'Giám mục nghị'. ↵
- 'Không thể tránh được', chữ 'tránh' nguyên bản là 'vi', theo bản Tống và bản Tống toát yếu sửa lại. ↵
- 'Một trăm ngàn' nguyên bản ghi 'một triệu', căn cứ theo 《Tống hội yếu》 chức quan 57-26 sửa lại. Xem 《Tống sử》 quyển 480, truyện Tiền Duy Trị ghi là 'mười vạn', tức 'một trăm ngàn'. ↵
- Chữ 'như' nguyên bản thiếu, căn cứ theo bản Tống, bản tóm tắt Tống và 《Tống sử》 bổ sung. ↵
- chữ 'sự' trong câu 'kì phụng chiếu giám táng giả sự tất' nguyên bản bị thiếu, căn cứ theo 《Tống hội yếu》 chức quan 5-34, hình pháp 2-7 bổ sung. ↵
- chữ 'cung' trong câu 'phàm cung cấm tỉnh phí đa thử loại' nguyên bản viết là 'quan', căn cứ theo bản các và 《Tống hội yếu》 hình pháp 2-8 sửa lại. ↵
- Giao nhân nguyên bản là 'Giao lễ', theo Tống bản, Tống toát yếu bản, các bản sửa. ↵
- chữ 'sai' nguyên là 'pha', theo sách trên đã sửa lại. ↵
- 'Việc' chữ này nguyên bản thiếu, căn cứ theo Tống bản, Tống toát yếu bản và 《Trường biên kỷ sự bản mạt》 quyển 25 'Nghi Châu Trần Tiến chi biến' bổ sung. ↵
- 'Đông' chữ này nguyên bản thiếu, căn cứ theo Tống bản, Tống toát yếu bản và 《Trường biên kỷ sự bản mạt》 bổ sung. ↵
- 'Thuộc' nguyên bản viết là 'tộc', căn cứ theo Tống bản, Tống toát yếu bản, các bản khác và 《Trường biên kỷ sự bản mạt》 sửa lại. ↵
- 'Thu được' nguyên bản thiếu chữ 'Hoạch', 'Giáp' nguyên bản viết là 'Giới', căn cứ theo bản Tống, bản Tống toát yếu và 《Trường biên kỷ sự bản mạt》 quyển 25 sự biến Trần Tiến ở châu Nghi bổ sung sửa chữa. ↵
- 'Chia quân' nguyên bản thiếu hai chữ, căn cứ theo bản Tống, bản Tống toát yếu và 《Trường biên kỷ sự bản mạt》 dẫn trên bổ sung. ↵
- Chiếu rằng mỗi năm vào đầu mùa đông, lấy dê của người Phiên giết làm lễ vật ban tặng, bản Các bản không có ba chữ 'Bát tiết dương', nghi ngờ là đúng. ↵