III. TỐNG CHÂN TÔNG
QUYỂN 68: NĂM ĐẠI TRUNG TƯỜNG PHÙ THỨ NHẤT (MẬU THÂN, 1008)
Từ tháng giêng đến tháng tư năm Đại Trung Tường Phù thứ nhất đời Chân Tông.
[1] Mùa xuân, tháng giêng, ngày Ất Sửu, Vua triệu tập các tể thần Vương Đán, Tri Xu mật viện sự Vương Khâm Nhược đến đối đáp ở dãy phía tây điện Sùng Chính.
Vua nói: “Trong màn trướng ở điện ngủ của Trẫm đều dùng lụa xanh, sáng tối nếu không thắp đèn thì không thể phân biệt được màu sắc. Đêm 27 tháng 11 năm ngoái[1], lúc nửa đêm, Trẫm vừa định ngủ, bỗng cả phòng sáng rực, Trẫm kinh ngạc nhìn, chợt thấy một vị thần nhân đội mũ sao, mặc áo đỏ, bảo Trẫm rằng: ‘Nên lập đạo trường Hoàng Lục ở chính điện trong một tháng, sẽ có thiên thư Đại Trung Tường Phù ba thiên giáng xuống, chớ tiết lộ thiên cơ.’ Trẫm kinh hãi đứng dậy đối đáp, chợt vị thần đã biến mất, Trẫm vội sai người ghi chép lại.
Từ ngày mùng một tháng 12, Trẫm bắt đầu ăn chay trai giới. Ở điện Triều Nguyên, Trẫm cho lập đạo trường, dựng đàn chín tầng bằng lụa màu. Lại cho đẽo gỗ làm kiệu, trang trí bằng vàng bạc châu báu, kính cẩn chờ đợi ân điển của thần linh. Dù đã qua một tháng, Trẫm vẫn chưa dám bãi bỏ. Vừa rồi thấy Hoàng thành ty tấu rằng ở góc phía nam cửa Tả Thừa Thiên có tấm lụa vàng treo trên đầu mái. Trẫm bí mật sai trung sứ đến xem, về tâu rằng: ‘Tấm lụa dài khoảng hai trượng, bọc một vật giống như cuốn sách, quấn ba vòng bằng dải lụa xanh, chỗ niêm phong có chữ mờ mờ.’ Trẫm suy nghĩ kỹ, đó chính là thiên thư mà thần nhân đã nói.”
Vương Đán và các quan tâu: “Bệ hạ lấy lòng chí thành thờ trời đất, nhân hiếu phụng thờ tổ tiên, kính cẩn yêu dân, ngày đêm lo việc trị nước, khiến cho nước láng giềng hòa hảo, dân man di xin làm quan, binh đao ngừng nghỉ, mùa màng nhiều năm được bội thu, đều là do bệ hạ cần mẫn, ngày càng thận trọng mà thành. Thần trộm nghĩ đạo trời không xa, ắt có điềm báo rõ ràng. Nay thần nhân báo trước, linh văn quả nhiên giáng xuống, thực là điềm trời phù hộ đức lớn của bệ hạ.” Tất cả đều lạy tạ, xưng vạn tuế. Lại tâu: “Khi mở niêm phong, nên cho tả hữu lui ra.”
Vua nói: “Nếu trời quở trách chính sự sai lầm, thì đáng để cùng các khanh kính sợ sửa đổi; nếu là lời răn dạy Trẫm, Trẫm cũng sẽ tự sửa mình, sao nên giấu đi khiến mọi người không biết được.”
Vua bèn đi bộ đến cửa Thừa Thiên, đốt hương vái lạy, sai nội thị là Chu Hoài Chính, Hoàng Phủ Kế Minh (sách 《Phong thiền ký》 không chép Chu Hoài Chính, nay theo 《Thực lục》.) leo lên mái nhà đối diện bưng xuống. Vương Đán quỳ dâng lên, Vua vái lạy nhận lấy, đặt sách lên xe, rồi cùng Vương Đán và các quan đi bộ dẫn đường, bỏ lọng, dẹp cảnh tất, đến đạo trường, giao cho Tri Xu mật viện là Trần Nghiêu Tẩu mở ra, trên tấm lụa có chữ viết: “Nhà Triệu nhận mệnh, hưng thịnh từ nước Tống, truyền cho Hằng. (Theo nguyên bản là “truyền cho húy“, vì Hằng là tên húy của Chân Tông, nay vẫn sửa lại chữ gốc và ghi chú để giữ nguyên bản cũ.) Giữ lấy khí cụ, giữ vững chính đạo. Đời truyền bảy trăm, chín chín định.”
Sau khi bỏ lụa mở ra, sai Nghiêu Tẩu đọc. Sách viết chữ vàng trên ba tấm lụa, lời văn giống như 《Thượng thư – Hồng phạm》 và 《Lão tử – Đạo đức kinh》, đầu tiên nói Vua có thể lấy đạo hiếu kính tiếp nối đời, tiếp theo khuyên nên thanh tịnh giản dị, cuối cùng nói về ý nghĩa truyền đời lâu dài. Đọc xong, cất vào hòm vàng. Vương Đán và các quan chúc mừng ở hiên phía bắc điện. Tối hôm đó, sai Vương Đán ở lại trai phòng trong Trung thư, chiều đến đạo trường, Vương Đán vội đến thì Vua đã có mặt trước.
Hoài Chính là người Tịnh Châu, Kế Minh là người Khai Phong.
[2] Ngày Bính Dần, các quan vào chúc mừng ở điện Sùng Chính, ban yến, Vua và các quan phụ chính đều ăn chay. Sai Lại bộ Thượng thư Trương Tề Hiền và các quan tấu cáo trời đất, tông miếu, xã tắc và các đền miếu trong kinh thành.
[3] Ngày Đinh Mão, bày nghi trượng hoàng huy trước điện, dàn nhạc cung đình, ca hát, các quan văn võ và sứ giả Khiết Đan đứng hầu, dâng rượu tế sách trời Tam Thanh. Lễ xong, Vua đi bộ dẫn vào trong, tránh đi vào đường Hoàng đạo.
[4] Ty Thiên giám tấu rằng ngày mồng 3 và mồng 5 có mây lành che phủ cung điện, xin giao cho Sử quán, Vua đồng ý.
[5] Ngày Mậu Thìn, đại xá, đổi niên hiệu, các quan văn võ đều được gia ân. Đổi cửa Tả Thừa Thiên thành cửa Tả Thừa Thiên Tường Phù, thăng chức Thập tướng cho quan hộ môn thân tòng là Từ Vinh, ban cho y phục, đai bạc và tiền, vì Vinh là người đầu tiên trông thấy sách trời.
[6] Chiếu ban cho Đông Kinh được uống rượu mừng trong 5 ngày, bắt đầu từ ngày mùng một tháng 2.
[7] Nhà Vua thấy rằng bốn châu Lê, Nhã, Duy, Mậu có nhiều khí độc, bèn ra lệnh từ nay các quan tri châu, giám quân, li vụ sứ thần đều được thay thế sau hai năm.
[8] Lúc đó, Thẩm hình viện và Đại Lý tự thiếu nhiều thuộc quan, nhiều lần ra lệnh bảo cử và khảo thí nhưng đều không có người trúng tuyển.
Ngày Canh Ngọ, ban chiếu cho các quan kinh triều am hiểu pháp lệnh và không có tội lỗi, được phép đến Cáp môn dâng sớ tự tiến cử, sẽ xem xét khảo thí và bổ nhiệm.
[9] Ty An phủ Hà Bắc tâu rằng dân châu U vì hạn hán lâu ngày xin mua giống lúa mạch, nhà Vua đồng ý.
[10] Ngày Tân Mùi, ban chiếu cho các cơ quan chế tạo màn trướng cho các lăng ảnh điện của Chu Tùng, Khánh, Ý, vì trung sứ từ lăng trở về tâu rằng đồ cung ứng đã hư hỏng.
[11] Ban chiếu rằng các sứ thần thừa thụ ở các lộ bắt các châu gửi báo cáo sự việc rồi sao chép dâng lên, gây nhiều phiền nhiễu, từ nay cấm chỉ việc này.
[12] Ngày Nhâm Thân, quan biên thần tâu: “Triệu Đức Minh giữ lại cống vật của Hồi Cốt, lại sai Trương Phổ đem vài nghìn kỵ binh quấy nhiễu Hồi Cốt. Năm nay Hạ Châu đói kém, đây là dấu hiệu suy bại.” Nhà Vua nói: “Trẫm biết họ bị hạn hán, đã ra lệnh cho các chợ biên giới không cấm người Tây Phiên mua lương thực. Vì việc vỗ về rợ di, cần phải khoan dung, nếu không sẽ dẫn đến chém giết, hại đến sinh linh.” Vương Đán nói: “Các đế vương đời trước như Hán Quang Vũ biết khuất mình để thu phục người xa, đó gọi là nhu phục.” Nhà Vua nói: “Quang Vũ cũng giỏi bảo toàn công thần.” Đán nói: “Quang Vũ đối đãi công thần, không lạm dụng quyền uy, phong đất không quá bốn huyện, nên mới giữ được trọn vẹn.” Nhà Vua nói: “Cao Tổ phong đất quá mức, bảy nước gặp họa, Quang Vũ lấy đó làm gương.” Đán nói: “Mưu kế của Triều Thác, trung thành và có tầm nhìn xa, nhưng không tránh được họa. Người bàn luận cho rằng bảy nước đã có dấu hiệu phản loạn từ trước mà vội giết Thác, là bịt miệng trung thần.” Nhà Vua nói: “Đó là lý do biết làm Vua khó, làm tôi không dễ. Giá như Thác trung thành mà kín đáo, giảm bớt dần, đâu đến nỗi thế? Mỗi lần đọc sử cũ, Trẫm đều tìm hiểu đầu đuôi sự việc, nếu chưa rõ thì ghi lại, sau này có thể đối chiếu với sách khác để xác minh.”
Triệu Đức Minh từng vì dân đói, dâng biểu xin lương thực mấy trăm vạn. Vua xuất tờ tấu ấy cho các quan phụ chính xem, mọi người đều tức giận nói: “Đức Minh vừa mới quy phục mà dám vượt lời thề ước, dám xin xỏ vô lý, xin hạ chiếu trách cứ.” Duy Vương Đán không nói gì, Vua hỏi: “Khanh nghĩ sao?” Đán đáp: “Thần muốn hạ chiếu cho Đức Minh, nói rằng đất của ngươi bị thiên tai đói kém, triều đình vỗ về cai trị vùng xa xôi, đương nhiên phải cứu tế, nhưng ở biên giới xa xôi, cỏ lương thực ít, quân đồn trú nhiều, không thể ngừng việc vận chuyển. Đã ra lệnh cho Tam ty ở kinh đô tích trữ lương thực một trăm vạn, bảo Đức Minh tự sai người đến lấy.” Vua mừng, nghe theo. Sau đó Đức Minh nhận chiếu, hướng về cung khuyết lạy hai lạy, nói: “Triều đình có người tài, thần không nên làm như vậy.”
(Việc này không rõ xảy ra lúc nào, nhưng các quan nói Đức Minh vừa mới quy phục, thì cũng có thể suy đoán, nhân nói Hạ Châu hạn hán đói kém mà chép thêm vào.)
[13] Ngày Giáp Tuất, vì tuyết lớn nên đình chỉ việc bắt phu dịch ở cửa sông Biện và sông Thái, nhưng vẫn tiếp tục cấp lương thực cho họ.
[14] Lúc đó, giá vàng bạc ở kinh thành đắt, Vua hỏi quyền Tam ty sứ Đinh Vị, Vị nói là do Tây Nhung và Hồi Cốt mua chở về nước họ. Ngày Ất Hợi, hạ chiếu ngăn cấm việc này.
[15] Quần mục chế trí sứ tâu: “Ngựa ở các phường, giám trong kinh thành bị bệnh, liền đưa đến Dưỡng mã vụ, vốn không có quy chế thưởng phạt, nên lười biếng bỏ bê, chết nhiều, khỏi bệnh không được ba bốn phần trăm. Từ nay xin bắt các phường, giám ấy phải nuôi dưỡng chữa trị, cuối năm kiểm kê số lượng, để định thứ bậc hơn kém.” Lại xin khắc in các phương thuốc chữa ngựa và phép nuôi ngựa, ban cho các phường, giám và các quân. Vua nghe theo.
[16] Hôm đó là ngày sinh của Sở vương Nguyên Tá, Vua sai trung sứ mang đai ngọc đến ban tặng. Sứ giả trở về, tường thuật lại việc Sở vương cảm kích ơn Vua. Sở vương bình thường không tiếp xúc với người khác, nhưng có việc gì thì lại biết trước. Vua từng sai đạo sĩ Quản Quy Chân làm lễ cầu an, gia nhân chưa kịp báo thì Sở vương đã nói: “Quản Quy Chân đến rồi.” Vua bèn nói: “Đây chẳng phải là do bị tà ma mê hoặc sao?” Lại nói: “Sở vương bình thường cũng không có gì khác, chỉ là không buộc tóc, không thích gặp phụ nữ, thỉnh thoảng đọc sách viết văn, gọi các con là Doãn Thăng đến uống rượu trò chuyện, có khi tâm thần bất an thì cử chỉ khác thường, lời nói không có chừng mực, nguyên nhân là do bị kinh sợ mà ra.”
[17] Ngày Bính Tý, ban chiếu định lương bổng cho các quan trong Nội thị tỉnh từ chức Cung phụng quan đến Tiểu hoàng môn.
[18] Quản lý Bát tác ty Tạ Đức Quyền tâu rằng tường thành ngoài kinh thành bị sụp đổ, đường nước bị tắc nghẽn, xin phát binh sửa chữa, tính toán công việc cần 635.062 ngày công, Vua chuẩn y. Vua từng khen với các đại thần rằng Đức Quyền xử lý công việc không né tránh, trước đây thợ Bát tác mỗi khi làm việc thường chia nhỏ người ra nên cả năm không xong, Đức Quyền nay dồn sức làm, đúng hạn đều hoàn thành, trước kia lo ngại nhân công nhiều, nay thì công việc nhàn rỗi.
[19] Ngày Mậu Dần, miễn thuế lương thực còn nợ của các hộ thuộc phủ Khai Phong và các huyện trực thuộc.
[20] Ngày Kỷ Mão, ban chiếu rằng trời giáng thiên thư, cảnh tỉnh các quan tại chức, hãy làm tròn nhiệm vụ để đáp lại ý trời.
[21] Bổ nhiệm Tây Kinh tác phường sứ, Đô giám huyện Kim Minh châu Diên kiêm Đô tuần kiểm lộ Giải Gia Hà Lô Quan trại mới Lý Kế Chu làm Thứ sử châu Thành. Cung phụng quan, Tuần kiểm các tộc mới quy phụ các châu Tuy, Ngân Lý Kế Phúc làm Nội điện sùng ban. Trước đây, Kiềm hạt lộ Phu Diên tâu rằng Kế Chu trung thuận, nay đã già, mong được ban ơn để khuyến khích an ủi, Kế Phúc cũng cùng hướng về giáo hóa, phân quản các bộ tộc, nên đều được thăng chức.
[22] Ngày Quý Mùi, Vua ban chiếu cho Lễ bộ Cống viện rằng: “Những cử nhân các khoa tuy mới dự thi lần đầu nhưng tài nghệ khả quan, đều được vào trường thi.” Vua nói với Vương Đán và các quan: “Nay các cử nhân phần nhiều lo sợ việc thi cử theo lối hồ danh, nhưng người có tài nghệ đều vui vì được công bằng.” Vương Đán tâu: “Các lộ phát giải đều bị hạn chế bởi quy chế, e rằng bỏ sót người tài, nên nới rộng một chút.” Phùng Chửng tâu: “Gần đây kỳ thi Hội chỉ dựa vào thơ phú để quyết định đỗ trượt, không xét đến văn luận. Sĩ tử Giang, Chiết chuyên học thơ phú để đỗ đạt. Xin cho phép trong số người đỗ thơ phú, kiêm xét thêm sách luận.” Vua đồng ý.
[23] Thiểm Tây chuyển vận sứ Vương Quan tâu rằng giá lúa mì và thóc ở Khánh Châu tăng cao. Vua ban chiếu xuất một vạn hộc thóc quan, bán giảm giá cho dân.
[24] Thái bộc thiếu khanh, trực Bí các Tiền Duy Diễn dâng bài tụng “Tường Phù”, Vua khen ngợi. Ngày Giáp Thân, thăng ông làm Tư phong lang trung, tri chế cáo.
[25] Giao Châu Lê Chí Trung được gia ân, Trung thư đã dâng thục trạng, chiều hôm đó giao cho Học sĩ viện soạn chiếu, nhưng viên chủ mới của Thông tiến ty không kịp thời chuyển đi. Đêm gần tàn, Vua thấy chiếu chưa vào, liền viết tay giao cho viện thúc giục. Lý Tông Ngạc tâu rằng chưa thấy thục trạng, Vua vội hỏi ra, mới biết sự tình. Sáng sớm hôm sau, Tông Ngạc dâng chiếu soạn, Vua khen ngợi trước mặt các phụ thần, rồi sai đánh roi viên chủ lại Thông tiến ty và thay người khác.
Hôm sau khi thiên thư giáng xuống, Tông Ngạc dâng chương nhạc “Hoàng đế phụng nghênh, chước hiến”, Vua ban chiếu khen ngợi. Lúc ấy, Học sĩ Triều Huýnh làm chủ khảo, Dương Ức bị bệnh, Tham tri chính sự Triệu An Nhân thực soạn chiếu.
[26] Vua ban chiếu cho Quân đầu dẫn kiến ty rằng: “Từ nay, các nơi đưa tội nhân đến ty, phải báo trước số lượng. Nếu gần ngày nghỉ, phải báo ngay trong ngày.”
[27] Ngày Đinh Hợi, xuống chiếu cho các châu Chiêu, Quế năm nay chỉ nộp thuế tại bản châu, vì vừa bị binh đạo tàn phá. Sau đó lại miễn hai phần mười thuế mùa thu cho hai châu Chiêu, Quế[2].
[28] Ngày Kỷ Sửu, các quan đã về hưu đều được phép đến đình dịch dự yến, ngày ngự lâu cũng cho phép những người đáng được dự ngồi. Các quan triều đã từ chức hoặc chưa được gặp mặt, đều cho phép dự hội.
[29] Cơ quan hữu trách dâng lên sơ đồ chỗ ngồi trong yến tiệc, Hoàng tôn là Nội điện Sùng ban Thủ Tiết cùng Hoàng tôn là Hữu vệ Tướng quân Duy Tự cùng xếp vào một hàng. Vua nói: “Con cháu trong họ cùng với các bậc trưởng bối, sao có thể ngồi cùng hàng?” Bèn sai sắp xếp lại chỗ ngồi. Thủ Tiết là con trưởng của Duy Cát; Duy Tự là con trưởng của Đức Phương.
[30] Mỗi khi ban yến, Vua sai ba viên nội chư ty sứ đứng ra chủ trì, ở trước lầu Càn Nguyên đắp đất làm đài lộ thiên, một nửa cửa, trên đài bày nhạc của giáo phường. Lại buộc liền bốn mươi cỗ xe vuông, trên xe dựng hai lầu gấm, chở nhạc của quân Cấm vệ và phủ Khai Phong. Lại làm hai mươi bốn cỗ xe lều, mỗi cỗ xe nối liền mười hai chiếc, đều do trâu kéo, phủ gấm vóc, quấn dây gấm, chở nhạc của các quân và kỹ nhạc kinh kỳ. Lại ở giữa đường phố đan gỗ làm lan can để ngăn cách[3]. Dời các nhà trọ và cửa hàng trong phố[4], đối diện hai bên đường ngự, bày bán trăm thứ hàng hóa[5], thi nhau trang trí bằng màn gấm và bảng khắc[6]. Vua ngự ở cửa Càn Nguyên, triệu tập các bậc phụ lão trong kinh thành đến ngồi xếp hàng dưới lầu, truyền chỉ hỏi thăm sức khỏe, ban cho quần áo, chè và lụa.
Nếu là năm ngày, thì ngày thứ nhất các cận thần ngồi hầu, đặc biệt triệu tập các Thừa lang, Cấp gián. Vua nâng chén, nhạc giáo phường nổi lên, hai cỗ xe lớn từ cầu Thăng Bình đi lên phía bắc, lại có bốn chiếc thuyền cạn đi kèm, xe lều từ đường phố đông tây đi ngang qua, đều đi lại hai lần trong ngày. Phía đông đến cửa Vọng Xuân, phía tây liền với cửa Xương Hạp, trăm trò vui thi nhau diễn, tiếng ca tiếng nhạc vang dậy. Các thân vương tông thất, các quan địa phương gần kinh thành và nhà các cựu thần, quan phủ dựng lều gấm ở hai bên hành lang. Sĩ thứ đến xem, vai kề vai, chân nối chân, xe ngựa chật ních, tiếng reo hò rung động. Ngày thứ hai, yến tiệc tể tướng và bách quan ở dịch đình đô, tông thất ở cung thân vương. Ngày thứ ba, yến tiệc tông thất và nội chức ở dịch đình đô, cận thần ở nhà tể tướng. Ngày thứ tư, yến tiệc bách quan ở dịch đình đô, tông thất ở vườn ngoại. Ngày thứ năm, lại yến tiệc tông thất và nội chức ở dịch đình đô, cận thần ở vườn ngoại. Vua làm nhiều thơ, ban cho các quan để họ họa lại, và làm riêng thơ khuyên rượu. Các tướng hiệu cấm quân, mỗi ngày họp ở nha môn Điện tiền và Mã bộ quân.
Trước đó, triều đình đã thiết lập lại Đăng văn cổ viện và Kiểm viện, cấm dân chúng vượt cấp khiếu kiện. Các cơ quan hữu trách cho rằng quốc gia đã nhận được điềm lành nên tổ chức lễ mừng, nhân dịp Thượng nguyên, xa giá nhà Vua ra ngoài du ngoạn, có rất nhiều người nhân cơ hội này để cầu xin ân huệ. Các cơ quan hữu trách xử lý theo tội vi phạm quy định, tất cả đều bị xử phạt tù. Nhà Vua thương xót dân chúng không hiểu rõ luật lệ, vào ngày Tân Mão, ban chiếu rằng từ nay những ai cản xa giá nhà Vua để vượt cấp khiếu kiện, sẽ được các cơ quan hữu trách giải thích và giảm nhẹ hình phạt.
[31] Tháng đó, giá thóc ở Tương Châu và Đặng Châu là 300 đồng một hộc, giá đậu và lúa mạch là 10 đồng một đấu.
[32] Ban chiếu cho các quan lại bổ nhiệm người thân đã có chức vụ mà lại tâu xin thêm, chỉ được nhận đến chức vụ phù hợp.
[33] Tháng 2, ngày Nhâm Thìn, mùng một, nhà Vua ngự tại cửa Càn Nguyên xem lễ bộ. Ban chiếu cho các doanh trại tập luyện và các cơ quan công tác được nghỉ 5 ngày.
[34] Ngày Đinh Dậu, phái 6 trung sứ đến các lộ Hà Đông, Hà Bắc và Thiểm Tây để ban yến tiệc cho các quan biên cương.
[35] Nội tàng khố tâu rằng theo quy định cũ, khi lấy vật phẩm, đều phải có ngự bảo và bằng do để khấu trừ. Gần đây do điều lệ quản lý kho tàng, cũng yêu cầu phải thông qua Tam ty, xin ban chiếu chỉ, chỉ cho Thượng thư và Nội tỉnh kiểm tra. Nhà Vua đồng ý.
(Vương Hạo trong 《Bách Nhất Biên》 chép: Theo lệ cũ của Kế tỉnh, mọi chi tiêu trong cung đều phải báo cáo và có văn bản chi trả. Vương Khâm Nhược khi phụ trách Bằng do ty nói: “Chi tiêu của bệ hạ, sao bề tôi lại can thiệp?” Bèn đề xuất lập Ngự bảo bằng do ty. Từ đó, bên ngoài không còn kiểm soát được. Chân Tông bắt đầu thiết lập pháp luật, chú trọng minh sát, khiến quần thần không dám lừa dối. Cuối đời, Vua bệnh lâu ngày, chi tiêu quá nhiều, đến nay vẫn còn tệ nạn, lệnh xuất nạp của Mục ty không thể thực hiện được. Kỳ công nhờ đó được trọng dụng, ân sủng không ngừng. Hạo đã chú thích đến tháng 10 năm Chí Đạo thứ 3 khi Vương Khâm Nhược phụ trách Bằng do ty, nay lại chú thích thêm, có thể tham khảo. Tháng 1 năm Thiên Hi thứ 3, Tam ty lập Ngự bảo bằng do ty, có thể liên quan đến điều Hạo nói, cần xem xét thêm.)
[36] Ngày Mậu Tuất, Vua nói với Vương Khâm Nhược rằng: “Phong tục xưa nay đều theo ý thích của người trên. Pháp lệnh quốc gia không thể không thận trọng.” Khâm Nhược đáp: “Gần đây, người bốn phương khá giỏi tập viết chữ, đó là do Thái Tông sùng thượng văn giáo, tinh thông thư pháp mà nên. Đời Ngũ Đại có lối chữ triều đình, hoàn toàn không có phép viết chữ khải, nay thì đều học theo nét chữ của Chung Dao, Vương Hi Chi, Âu Dương Tuân, Liễu Công Quyền.” Vua nhân đó nói Vương Trứ làm thị thư, có thể hết lòng khuyên răn giúp ích, khen ngợi mãi.
[37] Ngày Kỷ Hợi, chuyển vận sứ lộ Quỳ Châu tâu rằng người Man ở Ngũ Đoàn tụ tập, mưu cướp Cao Châu, muốn lệnh cho trại Ám Lợi đến cứu viện. Vua cho rằng người Man tự đánh nhau, nếu vội xuất binh sẽ khiến họ nghi ngờ sợ hãi, chỉ hạ chiếu thận trọng phòng bị biên giới, không được khinh suất hành động.
[38] Ngày Tân Sửu, hợp sáu chỉ huy kị binh nhanh nhẹn dọc biên giới phía bắc thành bốn, dời đóng ở Cao Dương Quan. Trước đây, dọc sông biên giới thường có bọn vô lại qua lại làm cướp, nên chiêu mộ lập ra đội quân này, đến nay số quân ít đi, lại không muốn để họ ở lâu nơi biên ải, nên dời về phía nam.
[39] Ngày Nhâm Dần, tam ban tá chức Vương Tốn vì cha mẹ lần lượt qua đời, xin để tang đủ ba năm. Các quan nói rằng chức vụ trong triều để tang trăm ngày là phải trở lại làm việc. Vua nói: “Con cái nhớ cha mẹ mà muốn để tang đủ lễ, không cần bắt buộc.”
[40] Ngày Quý Mão, Lô Châu tâu rằng người Man huyện Giang An giết hại dân nội thuộc ở Nhung Châu. Đồng tuần kiểm, điện trực Nhâm Trại dẫn quân truy bắt, bị họ hại.
[41] Ngày Ất Tỵ, vì trời ban sách nên sai sứ đến báo ở Thái Bình Cung phủ Phượng Tường, Thái Thanh Cung châu Bạc, Linh Tiên Quán châu Thư.
[42] Vua nói với các quan phụ tá: “Sĩ thứ kinh đô gần đây dần đua đòi xa xỉ, quần áo đồ dùng thường nấu vàng làm đồ trang sức, dù nhiều lần ra điều ước cấm mà vẫn chưa dứt. Thợ nấu vàng làm lá, người làm ngày càng đông, tính ra mỗi năm tốn không dưới mười vạn lạng, hỏng rồi không dùng lại được, dần thành thói quen, thật đáng răn.” Bèn hạ chiếu cho tam ty sứ Đinh Vị tuyên bố lại chế độ cũ, thưởng cho người tố cáo; từ nay các đồ ngự dụng như sơn vàng thêu vàng cũng không cần dùng.
[43] Ngày Mậu Thân, Vua ngự ở điện tiện, xem các quân Phụng Nhật, Long Kỵ, Kiêu Kỵ tập trận. Sai Vương Khâm Nhược chọn những người có sức mạnh và dũng cảm nổi bật, lần lượt thăng chức.
[44] Ngày Kỷ Dậu, Tam ty tâu xin mượn 30 vạn quan tiền trong kho nội tàng, lại xin xuất 5 vạn lạng bạc giao cho kho tả tàng để chi dùng, đều được chấp thuận.
[45] Ngày Canh Tuất, sai Hoàng thành sứ Lưu Thừa Khuê làm bài vị chính thần ở Nam Giao, giao cho Hữu ty cất giữ nơi thanh tịnh để chuẩn bị cho việc tế tự của Vua.
[46] Việc vận chuyển lương thực ở Giang, Hoài phần lớn thuê thuyền của thương nhân. Vua nói với tể tướng: “Thương nhân ham lợi, nếu cứ thế này sẽ cản trở việc buôn bán, lại sợ giá lương thực ở kinh đô tăng cao.” Ngày Ất Mão, lệnh cho Hữu ty không được thuê thuyền nữa.
[47] Điện tiền đô ngu hầu, Đoan Châu phòng ngự sứ Lý Kế Hòa bệnh nặng, Vua nói với tể tướng: “Kế Hòa là cậu út của Trẫm, nếu có chuyện chẳng lành, Trẫm muốn thân hành đến thăm, có được không?” Vương Đán nói: “Nếu xét về phẩm trật thì vốn không có lễ này. Bệ hạ thương xót ngoại tộc, về lễ cũng không có gì đáng ngại, các cậu họ Đỗ triều trước cũng có tiền lệ.” Vua cho là phải.
[48] Ngày Kỷ Mùi, xuống chiếu cho các lộ chuyển vận sứ Hà Bắc, Hà Đông, Thiểm Tây sai quan đi mua lương thực quân dụng. Trước đây, các châu tích trữ lương thực đủ dùng trong ba năm thì ngừng mua, vì sợ hư hỏng. Lúc ấy được mùa liên tiếp, nên lệnh tăng cường dự trữ, không hạn chế số lượng thường lệ, để phòng việc chuyển vận.
[49] Cung phụng quan, Cáp môn chi hậu Lưu Văn Tán đi qua cửa Đông Hoa, xông vào ngựa của tể tướng; đến cửa điện Sùng Chính, tể tướng và thân vương đang chào nhau, lại ngang nhiên đi qua, bị Cáp môn tố cáo. Văn Tán bị khiển trách, điều đến nơi xa xôi. Ngày Canh Thân, xuống chiếu từ nay các quan văn võ ra vào nội đình, gặp nhau trên đường, phải tuân theo nghi thức; xe của mệnh phụ gặp quan văn võ cũng phải tránh.
[50] Hàn lâm thư nghệ Dương Chiêu Độ, Ngự thư đãi chiếu Thịnh Lượng tâu: “Vì vào viện trực hơi muộn, giám viện trung sứ Triệu Lý Tín liền cởi khăn, định đánh đòn. Chúng thần hổ thẹn vì được ban mệnh phục, xin được minh oan.” Chiếu đưa việc này đến Tuyên Huy viện, xét tội Lý Tín không tâu mà tự ý hành động, rồi tâu lên.
[51] Theo chế độ cũ, vào các dịp lễ tết, chỉ có hoàng tộc, quan lại gần gũi, các tướng lĩnh và quan chức trong cung được ban yến. Ngày Giáp Tý tháng 3, bắt đầu ban chiếu từ nay trở đi, vào các dịp Thượng Tỵ và Trùng Dương, các chức Phó sứ Tam ty, Phán quan cùng các quan chức tại Quán các đều được tổ chức yến tiệc riêng. Sau đó, các chức Tri tạp Ngự sử, Ngự sử Tam viện, Pháp quan và Phán quan phủ Khai Phong cũng được tham dự.
[52] Ngày Bính Dần, ban chiếu quy định số lượng vật phẩm mà các quan hộ tang được nhận. Trước đây, tang gia thường tặng nhiều vật phẩm quý giá, Vua thương xót cho chi phí lớn nên quy định giảm bớt.
[53] Ngày Đinh Mão, các thủ lĩnh người Man nội thuộc ở Châu Nghi là Thư Quân Cường, Tri châu Nguyên và Hướng Quang Phổ, Tri châu Cát được ban ân, vẫn giữ chức Tri châu.
[54] Tống Đoàn và các sứ thần đi sứ Khiết Đan trở về, tâu rằng: “Khiết Đan đóng đô ở Trung Kinh, phía đông bắc U Châu, thành quách nhỏ bé, ít người ở, hai bên đường có nhiều tường bao quanh. Trong cung có điện Vũ Công, quốc chủ ở đó, điện Văn Hóa, quốc mẫu ở đó. Lại có cổng Đông Dịch và Tây Dịch. Đại thể họ khá ngưỡng mộ phong tục Trung Hoa, nhưng tính cách không có khuôn phép, mỗi khi yến tiệc có người không lạy, không chắp tay. Duy chỉ có quốc mẫu mong giữ gìn hòa hảo, nhưng tuổi đã cao. Quốc chủ sùng Phật, em là Tần vương Long Khánh thích võ, Ngô vương Long Dụ mộ đạo, gặp đạo sĩ thì vui mừng. Lại có quốc tướng Hàn Đức Nhượng chuyên quyền đã lâu, già yếu và nhiều bệnh.”
Vua nói: “Từ khi Khiết Đan kết hòa đến nay, các võ tướng thường nói địch vốn mệt mỏi, sợ chiến tranh, nay quốc gia hàng năm tặng vật phẩm, đó là giúp địch.” Phùng Chửng nói: “Các quan văn cũng có người nói như vậy.” Vua nói: “Các võ tướng lúc không có việc thích bàn mưu kế, nhưng khi ra trận thì ít người thành công. Thích dũng mà không có mưu lược, đó là chuyện thường. Các quan văn há không biết lợi hại sao? Đời trước thường dùng tướng văn, nhưng cũng khó tìm được người tài.”
[55] Ngày Mậu Thìn, cử Tiền Đô quan viên ngoại lang Kiều Hi Nhan làm sứ thần dự lễ sinh thần quốc mẫu Khiết Đan, Cung phụng quan, Cáp môn chi hậu Cảnh Nguyên làm phó sứ.
[56] Triệu Đức Minh sai Vạn Tử cùng bốn quân chủ lĩnh binh lính tộc mình tấn công Tây Lương phủ. Khi đến nơi, thấy bộ tộc Lục Cốc Phồn hùng mạnh, sợ hãi bèn rút về Hồi Cốt. Hồi Cốt đặt phục binh ở đường hiểm yếu, giả vờ yếu thế không giao chiến, đợi khi quân địch đi qua, bất ngờ phản công, tiêu diệt gần hết. Những kẻ bị bắt sống, Hồi Cốt bắt ngồi giữa đồng, đem hết của cải lương thực thu được cho xem, nói: “Bọn ngươi như cáo chuột, chỉ tham lợi nhỏ, ta thì không như vậy.” Rồi đốt hết và giết sạch, chỉ có Vạn Tử quân chủ một mình chạy thoát. Trấn Nhung quân báo lên, Vua nói: “Hồi Cốt từng giết Kế Thiên, đời đời là kẻ thù. Sứ Cam Châu đến cũng nói tình hình Đức Minh xâm lấn, tỏ ra khinh thường. Xét binh lực, Đức Minh khó thắng được.”
[57] Ngày Tân Mùi, Bí thư giám trí sĩ Lý Xương Linh mất.
[58] Ngày Giáp Tuất, phụ lão Duyện Châu là Lã Lương cùng 1.287 người đến cửa khuyết xin phong thiền, được vào chầu ở điện Sùng Chính. Vua sai Dẫn tiến sứ Tào Lợi Dụng tuyên dụ rằng: “Đại lễ phong thiền, các đời ít làm, khó theo lời thỉnh cầu.” Lã Lương tâu rằng: “Quốc gia nhận mệnh đã 50 năm, đã thái bình, nay trời giáng điềm lành, tỏ rõ đức lớn, nên cáo thành ở núi Thái Sơn để báo đáp trời đất.” Vua nói: “Việc lớn này, không thể bàn sơ sài.” Lã Lương lại nói: “Năm được mùa, Hoa Hạ yên ổn, mong bệ hạ đáp lại ân điển, sớm cử hành đại lễ.” Vua ban tơ lụa rồi cho về. Tri châu Thiệu Diệp lại dẫn thuộc hạ dâng biểu xin, cũng không được chấp thuận.
[59] Ngày Ất Hợi, xuống chiếu cho các châu quân Hà Bắc thu thuế tại chỗ, sai Tam ty xét theo chiếu tha nợ cũ.
[60] Ngày Đinh Sửu, Vua nói với các quan phụ chính rằng: “Trẫm thường nghe rằng Thái Tổ theo Chu Thế Tông đánh Hoài Nam, chiến đấu ở Giang Đình, có con rồng từ dưới nước vọt lên hướng về Thái Tổ, mọi người đều kinh ngạc, Thái Tổ thấy vậy thì ghét, bẻ gãy mũi tên đang cầm mà không đoái hoài, sự cẩn trọng của Ngài là như vậy.” Mã Tri Tiết nói: “Thái Tổ ở triều Chu, lấy lòng trung dũng hết mực, thường tỏ ra cẩn trọng và e dè. Khi giữ chức Điện tiền Điểm kiểm, cùng các đồng liêu tập bắn, khi bắn trúng đích, có người tặng dây đai vàng và yên ngựa, Thái Tổ từ chối, nói: ‘Bề tôi dự tiệc, lấy đó làm lễ, há chẳng tránh được sự hiềm nghi sao?’ Liền nắm dây cương, không chào mà đi.”
[61] Lệnh cho các châu ở Xuyên Hạp bắt các y bác sĩ theo 《Thánh Huệ Phương》 hợp với các loại thuốc cần thiết của địa phương, để cung cấp cho quân lính đồn trú.
[62] Chiếu cho Ty Thị vệ Bộ quân xét duyệt quân sĩ của Bảo Ninh quân, chia làm bốn hạng, hạng nhất dời doanh đến huyện Vĩnh Thành, châu Bạc, còn lại cho về làm ruộng, những người không có nhà để gửi thì sung vào các quân làm thặng viên. Trước đây, thả những người già trong các quân làm thặng viên, Mã Bộ quân Đô Ngu hậu Vương Siêu xin lập riêng danh sách những người thường xuyên ra trận, bèn lập ra quân này, đến nay lại bãi bỏ.
(Năm Hàm Bình thứ ba, tháng hai, Siêu làm Mã Bộ quân Hậu, năm Cảnh Đức thứ hai, tháng giêng bãi chức. Quân hiệu Bảo Ninh cũng không rõ lập từ lúc nào, 《Tam Triều Binh Chí》 chép vào năm Tường Phù thứ nhất, cần xét lại.)
[63] Ngày Mậu Dần, đặt thêm một Viện Điện thị Đông Tây Ban ở phía bắc cầu Chương Hóa.
(Việc này có thể phụ vào chế độ Hoành hành và Đông Tây Ban.)
[64] Ngày Kỷ Mão, các đạo tiến cử nhân, tiến sĩ Khổng Vị ở châu Duyễn cùng 846 người quỳ ở dưới thềm xin làm lễ phong thiền.
[65] Ngày Canh Thìn, Triều Huýnh và các quan dâng danh sách những người đỗ tiến sĩ và các khoa thi khác, tổng cộng 891 người, trong đó có 186 người được miễn giải. Lại có 22 người học cứu đạt bốn thông, 5 người tam sử đạt một thông, đều theo quy định bị loại, nhưng được chiếu chỉ đặc cách cho vào danh sách. Vua sai Cấp sự trung Trương Bỉnh cùng 6 người khác ở lại Ngự thư viện để xem xét lại bài thi, cử trung sứ giám sát, sau khi xem xét xong lại gửi về Trung thư xem xét kỹ lưỡng.
[66] Viện Thẩm hình tâu rằng, theo chiếu chỉ năm Đoan Củng thứ hai, các chức Quân sự phán quan, Tiết độ suy tuần đều theo lệ phẩm thứ bảy, nếu phạm tội thì được giảm tội; còn các chức Chánh ngôn, Giám sát đều là chức thanh quý của đài tỉnh, nhưng phẩm thứ tám, luật không quy định được giảm tội, xin từ nay cho cùng lệ với tạp phẩm thứ năm. Vua đồng ý.
[67] Ngày Tân Tỵ, chiếu chỉ rằng những hộ bỏ trốn ở các châu quân biên giới phía bắc Hà Bắc mà trở về, sẽ được miễn thuế theo lệnh về ruộng đất, và được miễn dao dịch trong ba năm.
[68] Ngày Quý Mùi, chiếu chỉ rằng từ nay các quan văn võ khi ghi chép lý lịch, không được ghi khống công lao, che giấu lỗi lầm, ai vi phạm sẽ bị xử phạt nặng.
[69] Ngày Ất Dậu, dời quân đồn trú ở các châu Lân, Phủ và chức Kiềm hạt về Hà Đông, vì biên giới đã yên ổn, giảm bớt việc vận chuyển lương thực. Lại lệnh cho Chuyển vận sứ tích trữ cỏ lương ở phía tây sông để phòng khi cần kíp.
[70] Châu Hùng tâu rằng quân Khiết Đan đã xây dựng nhà trạm ở phía bắc sông Cự Mã để đón tiếp sứ giả triều đình.
[71] Nội phẩm, Giám đốc trường đóng thuyền ở châu Cát là Phùng Bảo tâu rằng trước đã đóng xong 10 chiếc thuyền rồng, định dùng để tập thủy chiến ở các hồ trong kinh thành, theo mẫu của tỉnh ty là hình cá rồng, nay muốn phá bỏ những chiếc đã đóng, đóng lại theo mẫu. Vua nói: “Thuyền tập thủy chiến ở hồ Kim Minh, vì mỗi năm xuân hạ, dân chúng đến chơi, Trẫm cũng xem, chỉ để ban thưởng cho các ty và binh sĩ tập thủy chiến, thuyền này cần gì phải sửa? Hãy nhanh chóng chỉ thị cho tỉnh ty đưa về kinh, không cần sửa lại.”
(Theo sách 《Hội yếu》 là việc tháng ba.)
[72] Mùa hạ, tháng tư, ngày Tân Mão mùng một, sách trời lại giáng ở Công Đức các trong đại nội.
(Việc này căn cứ theo chiếu chỉ ngày Nhâm Tuất tháng giêng năm Thiên Hi thứ nhất ghi chép lại, bản kỷ và Thực lục đều không chép.)
[73] Trước đó, Tể tướng Vương Đán cùng các quan văn võ, tướng lĩnh các quân, quan lại các châu huyện, người ngoại quốc, tăng đạo, kỳ lão, tổng cộng hai mươi bốn nghìn ba trăm bảy mươi người, đến cửa Đông Thượng Cáp, dâng biểu năm lần xin làm lễ phong thiền. Ngày Giáp Ngọ, Vua hạ chiếu định làm lễ phong thiền tại núi Thái Sơn vào tháng 10 năm nay. Dương Ức soạn chiếu, có câu “không cầu thần tiên, không làm xa xỉ”. Vua nói: “Trẫm không muốn chỉ trích các đế vương đời trước.” Bèn sửa lại rằng: “Việc làm của Trẫm là để đáp lại ân điển của trời đất, không phải để cầu tiên cầu phúc, mà là để báo đáp cội nguồn và giữ lòng thành. Lễ vật tế tự đều chuẩn bị đầy đủ, nhưng đồ dùng, y phục, lều trại đều giảm bớt.” Sau đó, sai quan cáo tế trời đất, tông miếu và các đền thờ núi sông.
[74] Ngày Ất Mùi, lấy Tri Xu mật viện sự Vương Khâm Nhược và Tham tri chính sự Triệu An Nhân cùng làm Kinh độ chế trí sứ lo việc phong thiền. Ban đầu, việc bàn về phong thiền chưa quyết, Vua hỏi về kinh phí với Quyền Tam ty sứ Đinh Vị. Vị nói: “Kế hoạch lớn vốn đã có dư.” Bàn bạc xong, liền hạ chiếu cho Vị tính toán lương thảo trên đường đến Thái Sơn, sai Dẫn tiến sứ Tào Lợi Dụng và Tuyên chính sứ Lý Thần Phúc khảo sát đường đi của hành dinh, Hàn lâm học sĩ Triều Huýnh, Lý Tông Ngạc, Dương Ức, Long đồ các Trực học sĩ Đỗ Hạo, Đãi chế Trần Bành Niên cùng Thái thường lễ viện bàn định nghi thức. Vương Đán xin theo lệ cũ của lễ giao tế, trực tiếp bổ nhiệm năm chức sứ. Vua nói: “Chức vụ năm sứ trong đại lễ Thăng trung nên do Trung thư, Xu mật viện cử người theo thứ bậc đảm nhiệm.” Phùng Chửng nói: “Chúng thần đã giữ trọng trách, lại thêm chức sứ, e không xứng, mong vẫn theo lệ cũ.” Vua nói: “Đại thần đảm nhiệm là để coi trọng việc tế tự.”
[75] Ngày Bính Thân, lệnh cho Vương Đán làm Đại lễ sứ, Vương Khâm Nhược làm Lễ nghi sứ, Phùng Chửng làm Nghi trượng sứ[7]. Trần Nghiêu Tẩu làm Lỗ bạ sứ, Triệu An Nhân làm Kiều đạo đốn đệ sứ, các việc về Lễ nghi và Kiều đạo đốn đệ sứ, lệnh cho Phùng Chửng và Trần Nghiêu Tẩu cùng phụ trách. Vương Khâm Nhược và Triệu An Nhân đều kiêm quản châu Duyễn, lại thay phiên nhau đến huyện Can Phong.
[76] Cấm chặt củi trên núi Thái Sơn. Các công trình dưới chân núi không được điều động dân phu, chỉ dùng quân lính của châu Duyễn và châu Vận. Hành cung ngoài điện trước và điện sau, các nơi khác đều dựng lều bạt[8]. Vàng lụa, cỏ khô và lương thực giao cho Tam ty quy hoạch thu mua hoặc chuyển vận để cung ứng. Các vật dụng khác cần thiết đều phải chở từ kinh đô đến, không được tùy tiện thu thuế. Điều động gỗ cống phẩm từ Thiểm Tây, thả bè theo sông Hoàng Hà đến châu Vận để cung cấp chi phí cho việc bố trí.
[77] Ngày Đinh Dậu, đổi ban từ dụ của Cáp môn cho các quan kinh triều xuất sứ cùng các chức mạc, châu huyện, lấy văn chân chính ban xuống, cốt sao cho việc trị nước được thanh tịnh.
[78] Ngày Mậu Tuất, Vua sai Hoàng thành sứ Lưu Thừa Khuê, Long đồ các đãi chế Thích Luân, Sùng nghi phó sứ Tạ Đức Quyền tính toán việc phát vận cho lễ phong thiền. Thích Luân dâng sớ nói: “Thần xem xét các sách vở, nghiệm xét mối quan hệ giữa trời và người, chưa có lúc nào rực rỡ như hiện nay. Xin hạ chiếu cho các đại thần hầu cận, sao chép các điềm lành, khắc lên ngọc quý, cất giữ ở Thái miếu, để một bản sao ở cung cấm, truyền lại muôn đời, để con cháu đời sau kính cẩn vâng theo mệnh trời, không dám lười biếng. Tuy nhiên, thần nghĩ rằng người đời xưa nay vẫn thế, e rằng lợi dụng điềm lành của quốc gia, dần sinh ra những mưu đồ huyễn hoặc, hoặc giả mượn thần linh, hoặc giả tạo hình tượng thổ mộc[9], bậy bạ trình bày phù mệnh[10], rộng rãi kể lể điềm lành, dùng lời lẽ yêu quái của người quỷ[11], làm loạn ý nghĩa chân chính của thiên thư, những chuyện như Thiếu Quân, Loan Đại, thường xảy ra. Kính mong bệ hạ giữ vững huyền phù, tập trung tinh thần vào đạo chính, tham khảo yếu lĩnh tu hành nội cảnh, dựa vào lời dạy trị quốc của 《Đạo Đức Kinh》, xây dựng hoàng cực để cai trị dân chúng, trân quý thái hòa để kéo dài tuổi thọ, trên đáp ơn trời, dưới ban ân huệ cho muôn dân.” Vua khen ngợi và tiếp nhận.
[79] Lấy Binh bộ viên ngoại lang, Tri Duyện châu Thiệu Diệp làm Kinh đông chuyển vận sứ.
[80] Sai sứ đi tuần tra bảo vệ đường Thái Sơn ở Tề châu, cấm người qua lại.
[81] Duyện châu được cấp riêng tiền công dụng, mỗi tháng hai mươi vạn.
[82] Ngày Tân Sửu, lệnh cho các châu quân ở Đông Kinh xử án hình ngục phải khoan dung, không được dùng hình phạt trái pháp luật.
[83] Ngày Nhâm Dần, lấy Lại bộ viên ngoại lang, Phán Tam ty Câu viện Lư Diễm làm Quyền Kinh đông chuyển vận sứ.
[84] Chiếu rằng: “Dọc đường đi đông phong cấm bắt cá, chim. Xây dựng hành cung, không được xâm chiếm ruộng dân. Quân bộ kị hộ giá, nếu giẫm đạp lúa mạ, ngự sử sẽ xét xử. Dân châu Duyễn, ngoài việc cung ứng cho đông phong, được miễn thuế dịch và thuế chuyển đổi năm nay. Thợ rèn huyện Lai Vu, nợ cũ về thuế sắt, quan ty sẽ thu nộp, miễn phạt vạ.”
[85] Hoàng đế ngự tại điện Sùng Chính, thân hành khảo thí các tiến sĩ, lại cho chép đề giải, in ấn để cho họ xem. Ban đầu, ở hành lang điện dựng màn, bày ghế ngồi, ghi tên họ[12], lại treo bảng ghi thứ tự[13], lệnh họ xem xong rồi ngồi xuống. Sai Hàn lâm học sĩ Lý Tông Ngạc cùng tám người khác làm khảo quan, Trực sử quán Trương Phục cùng tám người khác làm phúc khảo quan, Thị ngự sử Chu Sư Vọng cùng hai người khác làm nhiệm vụ hồ danh, Cấp sự trung Trương Bỉnh, Tri chế cáo Chu Khởi làm nhiệm vụ xét định thứ bậc.
Hoàng đế đi khắp các màn, dặn dò Tông Ngạc phải hết sức tinh tường, không được bỏ sót người tài. Lúc đó, các cử nhân trượt kỳ thi ở Nam tỉnh là Chu Thúc Lương cùng 120 người khác tố cáo các quan chủ khảo kết bè kết phái với quyền thế, áp chế người tài nghèo hèn, liệt kê tên 40 người con em nhà quyền thế văn học nông cạn, không xứng đáng được tiến cử. Hoàng đế nói: “Việc cử cống bị gièm pha, đời trước không tránh khỏi. Trẫm nay triệu những người con em nhà quyền thế đó, cho ngồi riêng để thi.” Sau đó, những điều Thúc Lương tố cáo đều sai, bị lệnh đày đi Hứa Châu.
Hôm sau, lại sai Tông Ngạc ra đề thi các khoa, lại lệnh Đồng phán Thái thường lễ viện kiêm phán Quốc tử giám Tôn Sưởng xét duyệt rồi dâng lên, khắc bản in, sai trung sứ đến chỗ ngồi phát cho họ. Tông Ngạc dâng lên các quyển thi tiến sĩ đã định[14], chiếu cho tể tướng xét lại xong, rồi ra hiên ban cho tiến sĩ Diêu Diệp cùng 106 người khác đỗ đệ, ba người đồng xuất thân, 15 người đồng Tam lễ xuất thân, 83 người Học cứu xuất thân, Cửu kinh trở xuống đỗ đệ, xuất thân, thí hàm, trợ giáo là 652 người. Trước đó, lễ tạ ơn mới cho mặc áo thường, hôm đó đặc cách ban áo xanh, hia, hốt, cho Diệp cùng ba người làm Tướng tác giám thừa, Đại Lý bình sự, thông phán các châu, người thứ tư, thứ năm làm Lưỡng sứ suy quan, người thứ sáu trở xuống 50 người cùng Cửu kinh quan đầu làm thí hàm tri huyện, còn lại làm phán, ty, bạ, úy. Diệp là người Trịnh Châu.
Ban đầu, Tông Ngạc xét các quyển thi khoa nghĩa, có nhiều sai sót, Hoàng đế triệu Tông Ngạc đến trách mắng, lập tức sai Vương Đán và Tôn Sưởng sửa lại. Chiếu trách Tông Ngạc, đều dâng biểu chịu tội, chiếu đặc cách tha cho.
[86] Thêm chức Kiềm hạt ở Duyện Châu, mỗi nơi một viên[15].
[87] Ngày Ất Tỵ, tang lễ của Trang Mục hoàng hậu bắt đầu vào kỳ đầu, Vua nói với các quan cận thần: “Trong cung, bàn thờ có thể dẹp bỏ theo lễ được không?” Vương Đán nói: “Nên tuân theo lệ cũ của Hiếu Minh.” Vua nói: “Hiếu Minh sau hai kỳ mới dẹp.” Đán nói: “Nếu dùng lễ ngu luyện để thờ thần, đã chôn cất và phụ vào miếu, thì việc đặt bàn thờ không phải là cổ lễ. Nhưng Hiếu Minh đã tiên thoát, đã dùng lễ gia đình để chôn cất. Trang Mục là mẫu nghi thiên hạ, đã mười năm nay, xét theo tình người, nên giữ lệ cũ.” Vương Khâm Nhược nói: “Việc đặt bàn thờ, điển lễ không có, huống chi đã qua một năm, dẹp bỏ là được.” Vua nói: “Chỉ là tình cảm không nỡ thôi.” Mã Tri Tiết nói: “Nay các sĩ đại phu chưa đầy một năm đã tái hôn, còn chịu đặt bàn thờ sao?” Phùng Chửng nói: “Những việc này tự làm tổn thương lễ pháp, không đáng bàn.” Trần Nghiêu Tẩu nói: “Trung cung không thể bỏ trống, nếu lập Trưởng Thu, mà bàn thờ của Trang Mục vẫn còn, theo lễ khó mà yên ổn.” Vua nói: “Cung Vạn An cách chính điện rất xa, trong cung mặc tang phục, sớm tối cúng dưỡng, có thể tùy tiện, đặt bàn thờ cũng không sao.” Phùng Chửng nói: “Như vậy, tình lý đều hợp.” Khâm Nhược cố xin dẹp bỏ, Vua nói: “Lễ theo tình người, Trẫm giữ lệ cũ của tổ tông, nếu lập tức dẹp bỏ, há phải là ý của lễ sao?” Khâm Nhược nói: “Dù lệ cũ của tổ tông như chiếu sắc, có việc không tiện, cũng phải thay đổi. Điển lễ không có, e rằng ghi vào sách vở, lại sinh ra dị nghị.” Vua nói: “Chỉ nói là dùng lễ gia đình, có hại gì đâu?” Cuối cùng sau hai kỳ mới dẹp bỏ.
[88] Ngày Bính Ngọ, ra chiếu xây cung Chiêu Ứng ở ngoài cửa Thiên Ba phía tây bắc hoàng thành để thờ thiên thư, sai Hoàng thành sứ Lưu Thừa Khuê và Nhập nội phó đô tri Lam Kế Tông đảm nhiệm việc này.
(Kế Tông là người Nam Hải.)
[89] Tư phong lang trung, tri Thẩm hình viện Lưu Quốc Trung tâu rằng, từ năm ngoái đến nay, ngoài các án tấu trong thiên hạ đã xét xử, chỉ còn mười một đạo đang ở tại tự.
(Quốc Trung, chưa rõ lai lịch.)
[90] Phủ Châu tâu rằng dân đói, được lệnh cứu tế.
[91] Ngày Mậu Thân, các bậc kỳ lão ở Tào Châu và Tế Châu, tổng cộng hai nghìn hai trăm người, đến cửa khuyết xin xa giá đến thăm, đều được triệu kiến và ủy lạo. Sau đó hạ chiếu cho các châu ngăn những người tiếp tục đến.
[92] Ngày Tân Hợi, hạ chiếu từ kinh thành đến Duyện Châu, cấm chỉ việc tùy tiện chỉ vào nhà dân và cây cối, nói rằng sẽ xây dựng hành cung, mở đường, hoặc mượn danh quan phủ để đòi hỏi phân phối, mượn người và xe cộ để cầu xin tài vật. Những kẻ vi phạm sẽ bị giải đến cửa khuyết. [16]
[93] Ở ngoài cửa Tuyên Hóa của kinh thành, có một quân nhân chết, thiêu xương thành tượng Phật, dân ngu đua nhau đến xem và bố thí tiền. Triều đình hạ chiếu cho Khai Phong phủ cấm chỉ việc này.
[94] Huyện lệnh Tấn Thành là Vương Diễm Kỳ [17] và chủ bộ huyện Chương là Miêu Văn Tư đều bị kết tội nhận hối lộ, xử tử. Ngày Quý Sửu, hạ chiếu cho Hình bộ lấy việc này để cáo dụ thiên hạ.
[95] Ngày Giáp Dần, tăng thêm tiền công dụng cho quân Bảo An. Quân này ở biên giới xa nhất, vì Triệu Đức Minh nạp khoản, mở chợ biên giới, sứ giả liên tục đến, mà chi phí không đủ.
[96] Phó bộ thự Bính Đại là Thạch Phổ tâu rằng, Khiết Đan tuy đã hòa hảo với triều đình, nhưng lại tự ý bổ nhiệm quan chức ở trấn Đường Long là Lai Hoài Chính, sứ giả đi lại không ngừng, dần vi phạm thệ ước, âm mưu xâm lấn, mong triều đình lệnh cho biên giới phòng bị. Vua nói: “Đã hòa hảo nhiều năm, biên giới phía bắc yên tĩnh, không nên tự sinh nghi ngờ. Phổ chỉ nghe lời đồn, không hiểu đại cục quốc gia mà thôi.”
[97] Trung thư thí hiền lương phương chính, người có tài năng thẳng thắn can gián, người ở thảo dã là Lưu Nhược Xung, Chu Khải Minh tài năng và kiến thức đều phong phú, hiểu rõ thể chế và công dụng, Đại Lý tự thừa Lữ Di Giản và người ở thảo dã là Hứa Thân đều đỗ trung bình. Chiếu rằng Hứa Thân tuy nhanh nhẹn và giàu có đáng khen, nhưng đạo lý chưa tinh thông, không triệu đối nữa; Lưu Nhược Xung, Chu Khải Minh, Hứa Thân đều cho phép ứng cử, vẫn miễn thi; Lữ Di Giản được ưu đãi và sai làm việc gần dân. Lữ Di Giản là con của Lữ Mông Hanh. Chu Khải Minh là người ở Xử Châu. Lúc đó có người dâng thư nói: “Hai triều Hán cử hiền lương, phần nhiều do binh biến và thiên tai, để thăm hỏi chính sách thiếu sót. Nay quốc gia nhận điềm lành và phong tước, không nên đặt khoa này nữa.” Do đó, bãi bỏ hết các khoa mục của Lại bộ.
(Lưu Nhược Xung, Hứa Thân, chưa thấy.)
[98] Ngày Bính Thìn, chiếu rằng các loài chim thú quý hiếm mà các lộ dâng lên từ thời Thái Tổ, Thái Tông đều ở trong vườn thượng uyển, có thể báo số lượng, đợi sau lễ phong thiền xong sẽ thả chúng.
[99] Lệnh cho các châu dọc đường nấu rượu để chuẩn bị cung đốn, giảm bớt phiền phức vận chuyển.
[100] Chiếu rằng các sứ thần của Tam ban phụng sự việc tế tự có năng lực và chuyên cần, đợi ngày khác sẽ ưu tiên sai phái.
[101] Cơ quan hữu trách tâu: “Tuần thú có lễ đốt củi báo cáo đến nơi, hoàng đế thân hành. Lại nữa, khi phong tế đến chân núi Thái Sơn, đốt củi báo cáo với Hoàng Thiên Thượng Đế ở đàn tròn, như lễ báo cáo đến nơi khi tuần thú. Cơ quan hữu trách đảm nhiệm việc này, nhưng không ghi chép nghi thức đảm nhiệm. Xa giá đến chân núi Thái Sơn, nên làm lễ báo cáo đến nơi, mong lệnh Thái úy dùng rượu, lụa, tiền ở đàn dưới núi để báo cáo đến nơi.” Tấu được chấp thuận. Lại tâu: “Xa giá đi qua núi sông và các đế vương, danh thần, liệt sĩ thời xưa, các châu huyện đều làm lễ tế, các đền thần và cầu đường trong vòng mười dặm đi qua cũng nên làm lễ tế. Nay xem xét thấy số lượng khá nhiều, sợ cơ quan hữu trách không kịp cung cấp lễ tế, xin trừ các danh sơn, đại xuyên, đế vương tiền triều có công đức lớn lao thì cử quan đi tế[18], còn lại giao cho châu đó làm lễ tế báo cáo.” Theo đó.
[102] Sai sứ giả đến chạy đến Nhạc châu, hái ba mươi bó cỏ mao ba ngọn, để dùng vào việc tế thần và lọc rượu. Có ông già Đổng Hạo biết việc này, được phong làm Trợ giáo ở châu, ban cho một bó lụa.
[103] Điện tiền, Thị vệ ty tâu rằng, các quân hộ giá xin được cấp thêm áo ngắn tay bằng gấm mới. Vua nói: “Khi ra trận mặc giáp thì mới cấp loại áo này. Nay đi phong thiện hành lễ, không cần trang phục quân sự lộng lẫy, nếu bắt tất cả đổi áo thì tốn kém quá nhiều.” Bèn không cho phép.
[104] Ngày Mậu Ngọ, ra chiếu đi tuần thú phía đông, lấy đường Lâm Huề ở Vận châu đến Thái Sơn, sau khi lễ xong thì đến Duyện châu, lấy đường Trung Đô về kinh. Trước đó, từ kinh đến Duyện châu có hai đường: đường phía nam qua Tào châu, Đơn châu, thời Thái Tông từng đặt trạm nghỉ ở đây; đường phía bắc qua Bộc châu, Vận châu. Lúc đó sai Vương Khâm Nhược, Tào Lợi Dụng đi đường nam, Triệu An Nhân, Lý Thần Phúc đi đường bắc, cùng đến Thái Sơn, tính toán công sức và chi phí. Và nói rằng đường nam tuy gần nhưng tốn nhiều công sức, đường bắc có hệ thống trạm dịch sẵn nên tiết kiệm công sức, nên chọn đường bắc.
[105] Long Đồ các đãi chế Thích Luân tâu rằng, đang tu sửa bản đồ toàn quốc, xin cho sửa soạn trước bản đồ đường đi phong thiện phía đông, để chuẩn bị kiểm tra, Vua đồng ý.
[106] Lư Diễm dâng số lượng cỏ khô và lương thực trong khu vực quản lý phía đông kinh thành, xin thu mua và chuyển đến chân núi. Vua nói: “Căn cứ vào sổ binh lính thì thiếu không nhiều. Diễm làm thế là quá lo xa. Nếu thực hiện thì chắc chắn sẽ làm phiền dân. Chỉ cần ra lệnh tăng giá thu mua, còn lại đều bãi bỏ.”
[107] Ngày Kỷ Mùi, Trương Sùng Quý tâu rằng nhận được thư của Triệu Đức Minh, xin cho phép buôn bán muối xanh. Ra chiếu đem bản thệ thư mà Đức Minh đã nộp giao cho Sùng Quý để giải thích, vì trong thệ thư vốn không có việc muối xanh.
[108] Lại bộ Thượng thư Trương Tề Hiền dâng sớ nói: “Thần ở triều trước, thường lo rằng hai trấn Linh, Hạ cuối cùng sẽ bị Kế Thiên thôn tính. Lúc đó, những người bàn việc cho rằng điều thần lo lắng là quá đáng, nên thần xin nêu lại việc cũ để làm rõ đầu đuôi. Lúc đó, các bề tôi đều cho rằng Kế Thiên chỉ vì luyến tiếc đất cũ của cha mẹ, không có ý gì khác. Tiên đế ban cho y chức Liêm sát ở Ngân châu để thỏa lòng y. Nhưng sau đó, y không ngừng cướp phá[19], đến mức đánh chiếm vùng biên giới tám bộ tộc ở Lân châu, Phủ châu, lại khống chế các bộ tộc dưới chân núi Hạ Lan. Những người bàn việc vẫn cho rằng ban thưởng chưa đủ hậu. Đến khi Bệ hạ lên ngôi, muốn dùng lòng nhân để vỗ về, không tiếc tước lộc, ban hết đất đai Ngân, Hạ cho y, lại ban cho cờ tiết để sủng ái. Từ đó, uy thế của y càng lớn, ý phản nghịch càng hung hãn, nhiều lần chặn đường lương thực đến Linh châu, lại quấy nhiễu các thành trì biên giới. Trong mấy năm, Linh châu cuối cùng bị y nuốt chửng. Tình hình của y rõ ràng như vậy.
Khi Lân châu, Thanh Viễn quân sắp bị hãm, thần vừa nhận lệnh làm Kinh lược sứ. Thần nghĩ rằng phải tìm một hai bộ tộc lớn ở biên giới để làm đối trọng với Kế Thiên, đó là kế sách hay nhất của Trung Hạ để dùng man di đánh man di. Thần bèn xin phong tước hiệu Lục Cốc cho Phan La Chi, để y phát huy tài năng. Lúc đó, các quan gần Vua đều không đồng ý với kế sách của thần, nhiều lần ngăn trở việc ban thưởng. Đến khi Mai Tuân nhận mệnh, cuối cùng cũng không cho đi, những gì ban thưởng đều trái với kế hoạch ban đầu. Nhưng Kế Thiên cuối cùng cũng bị Phan La Chi bắn chết khi đánh Lục Cốc. Gần đây, thần nghe nói Triệu Đức Minh vẫn tiếp tục đánh Lục Cốc, lại nghe tin y đã phá được Tây Lương phủ, bắt giữ Tiết độ sứ và Phó sứ, Chiết Bồ Du Long Thăng cùng dân chúng trong phủ, đều thu nạp vào bộ hạ. Nếu việc này không sai, thì ý đồ của Đức Minh có lẽ không nhỏ.
Hơn nữa, những người này đều là người Hoa bị rơi vào tay người Thổ từ thời Đường, lại thêm Chiết Bồ Du Long Thăng rất rành đường vào các bộ tộc xa ở phía tây nam, biết rõ khoảng cách đồng cỏ Lục Cốc, địa hình hiểm trở của sông hồ. Nếu y khống chế được Lục Cốc, e rằng các nơi như Qua, Sa, Cam, Túc, Vu Điền sẽ dần bị y kiểm soát. Vì những châu quận này vốn thuộc quyền thống lĩnh của Linh châu, nay lại thuộc về Hạ châu, những người bàn kế chắc chắn sẽ lấy đó làm mưu. Vì thế, khi Kế Thiên còn sống, đã muốn thôn tính Lục Cốc, nay Đức Minh lại nhân danh cha mình, muốn thông đường đến Cam, Y, Qua, Sa, nhất định phải thống trị. Tây Hạ từ sau khi nhà Đường bị diệt vong, đã không còn thống nhất, nên từ thời Ngũ đại đến nay, Tây Phiền yên ổn. Nay ở vùng núi phía sau Nghi, Vị, Tần, Lũng, tuy có nhiều bộ tộc lớn, nhưng nếu dần bị xâm nhiễu, thì mối lo biên giới sau này sẽ không nhỏ.
Khi Thánh giá về đông, thần e rằng Đức Minh sẽ nhân cơ hội đánh Lục Cốc. Nếu Phan La Chi còn sống, thì Đức Minh chưa đáng lo, nhưng nay Phan La Chi đã chết, Tư Đạc Đốc e rằng không phải là đối thủ của y. Thần mong Bệ hạ giao cho hai phủ đại thần bàn bạc, sớm có kế sách.”
(Sớ của Tề Hiền không rõ ngày tháng, phụ lục sau việc Đức Minh xin mua muối, đợi tra cứu thêm.)
[109] Trước đó, Giám sát ngự sử Trương Sĩ Tốn làm chức Giám môn quan ở Cống viện. Lúc đó, khoa thi cống cử mới áp dụng phép hồ danh (che tên), Sĩ Tốn báo với chủ ty rằng có người thân thích trong số tiến sĩ, ngày mai sẽ dự thi, xin được rút lui để tránh hiềm nghi. Chủ ty không nghe, Sĩ Tốn bèn tự xin rút lui. Vua khen ngợi việc này, ghi tên ông vào bình phong trong cung, rồi hạ chiếu từ nay những người dự thi có quan hệ thân thích với quan coi thi đều phải dời sang thi ở nơi khác.
Tháng này, chức Chuyển vận sứ Giang Nam khuyết, Trung thư tiến cử người, nhiều lần bị từ chối, Vua bèn tự bổ nhiệm Sĩ Tốn làm chức ấy. Sĩ Tốn đến yết kiến tể tướng Vương Đán ở chính sự đường, tự nói rằng mình chỉ từng trải qua các chức ở huyện, chưa từng quản lý việc quận, nay đột nhiên nhận chức vụ này, mong được nghe lời chỉ dạy. Vương Đán thong thả nói: “Triều đình đã đạt đến mức tối đa trong việc thu lợi.” Sĩ Tốn đứng dậy tạ ơn. Sau khi đi, Vương Đán nói với người khác: “Vị chuyển vận sứ này biết đại thể.” Sĩ Tốn sau này được điều đến Quảng Tây, Hà Bắc, mỗi lần nhớ lại lời Vương Đán, đều không dám khởi xướng việc gì một cách tùy tiện.
(Tháng 12 năm Cảnh Đức thứ 4, Trương Sĩ Tốn làm Giám môn quan ở Cống viện, không phải Tuần phố quan, Bản truyền sai, nay sửa lại là Giám môn quan Cống viện. Việc bổ nhiệm Chuyển vận sứ, Thực lục ghi ngày Tân Sửu, nay dời vào đây.)
[110] Hạ chiếu từ nay về sau, Nội thị tỉnh sẽ luân phiên cử sứ thần đi tuần tra đê sông Hoàng Hà hàng năm.
- Ngày 27 tháng 11 nguyên bản viết là '17 tháng 11', căn cứ theo Tống bản, Tống toát yếu bản, các bản khác và Trường biên kỷ sự bản mạt quyển 17 phần Phong Thái Sơn, Tống hội yếu phần Thụy dị 1 chi 29 sửa lại. ↵
- Sau đó lại miễn hai phần mười thuế mùa thu cho hai châu Chiêu, Quế. 'Hai châu' nguyên bản viết là 'một châu', căn cứ theo bản trong các sách sửa lại. Xem 《Tống hội yếu》 phần Thực hóa 7-16 viết là 'hai châu'. ↵
- Lại ở giữa đường phố đan gỗ làm lan can để ngăn cách: 'Giữa đường phố' nguyên bản là 'trong đường phố', theo bản Tống, bản Tóm tắt Tống và 《Tống hội yếu》 Lễ 60-2 mà sửa ↵
- Dời các nhà trọ và cửa hàng trong phố: 'Dời' nguyên bản là 'theo', theo 《Tống hội yếu》 Lễ 60-2 và 《Tống sử》 quyển 113, Chí Lễ mà sửa ↵
- Bày bán trăm thứ hàng hóa: 'Bày bán' nguyên bản là 'chợ', theo bản Tống, bản Tóm tắt Tống, bản Các và 《Tống hội yếu》, 《Tống sử》 mà sửa ↵
- Thi nhau trang trí bằng màn gấm và bảng khắc: 'Màn' nguyên bản là 'nhà', theo bản Các, bản Hoạt tự và 《Tống hội yếu》 mà sửa ↵
- Chữ 'Phùng Chửng làm Nghi trượng sứ' nguyên là chú thích, trên đó có năm chữ 'Tống triều yếu lục vân', các bản đều giống nhau. Nay căn cứ vào bản Tống, bản Tống toát yếu và sách 《Trường biên kỷ sự bản mạt》 quyển 17 phần 'Phong Thái Sơn' sửa thành chính văn, đồng thời xóa bỏ năm chữ 'Tống triều yếu lục vân'. ↵
- Chữ 'dựng' nguyên là 'trướng', căn cứ vào bản Tống, bản Tống toát yếu, bản hoạt tự và sách 《Trường biên kỷ sự bản mạt》 đã dẫn ở trên mà sửa. ↵
- hoặc giả tạo hình tượng thổ mộc, hai chữ 'thổ', 'mộc' nguyên bản đảo ngược, theo bản Tống, bản Tống toát yếu, bản các và 《Trường biên kỷ sự bản mạt》 sửa lại. ↵
- bậy bạ trình bày phù mệnh, chữ 'phù' nguyên là 'thuỵ', theo sách trên sửa lại. ↵
- dùng lời lẽ yêu quái của người quỷ, chữ 'nhân' nguyên là 'thần', theo sách trên sửa lại. ↵
- ghi tên họ 'họ' nguyên bản là 'người', căn cứ theo bản Tống, bản Tóm tắt Tống và bản Tống hội yếu tuyển cử 1-10 sửa lại. ↵
- lại treo bảng ghi thứ tự 'thứ tự' nguyên bản là 'chữ thứ', căn cứ theo Tống hội yếu tuyển cử 7-10 sửa lại. ↵
- Tông Ngạc dâng lên các quyển thi tiến sĩ đã định 'cùng' chữ bị thiếu, căn cứ theo bản Tống, bản Tóm tắt Tống và văn nghĩa trên đây bổ sung. ↵
- Chữ 'các' trong câu 'Tăng trí duyễn châu kiềm hạt các nhất viên' có lẽ là thừa. ↵
- 'Hộ tống' nguyên bản viết là 'hoạch tống', theo bản trong các sách sửa lại. ↵
- 'Vương Diễm Kỳ' nguyên bản viết là 'Vương Uyển Kỳ', theo bản Tống, Tống toát yếu và 《Tống sử toàn văn》 quyển 6 sửa lại. ↵
- Xin trừ các danh sơn, đại xuyên, đế vương tiền triều có công đức lớn lao thì cử quan đi tế, chữ 'Trừ' nguyên bản thiếu, theo bản Tống, bản tóm tắt Tống và 《Trường biên kỷ sự bản mạt》 quyển 17 phần phong Thái Sơn bổ sung. ↵
- 'Nhĩ hậu bất trụ công kiếp' nguyên bản chữ 'trụ' viết là 'vãng', theo bản trong các sách sửa lại. Xem 《Tống sử》 quyển 265, truyện Trương Tề Hiền chép là 'Nhĩ hậu công kiếp bất dĩ'. ↵