III. TỐNG CHÂN TÔNG
QUYỂN 71: NĂM ĐẠI TRUNG TƯỜNG PHÙ THỨ 2 (KỶ DẬU, 1009)
Từ tháng giêng đến tháng 6 năm này.
[1] Mùa xuân, tháng giêng, ngày Đinh Tị, mùng một, Vua triệu tập các quan phụ chính đến nội điện làm lễ bái yết Thiên thư. Từ đó về sau, việc này trở thành lệ thường hàng năm. Nhân xem các cây hoa giả trong sân điện, Vua nói: “Những hoa này trước kia thường dùng vải cắt may làm thành[1], nay chỉ dùng cỏ. Từ nay về sau, trong các lễ giao tế và vườn thượng uyển Thanh Thành, cũng lệnh làm theo lệ này.”
[2] Ngày Quý Hợi, nhân dịp lễ phong thiền hoàn thành, Vua triệu tập tông thất và các quan phụ chính đến vườn thượng uyển dự tiệc và bắn cung, ban cho áo mặc, đai vàng và các vật dụng quý.
[3] Ngày Ất Sửu, đặt chức Nội điện thừa chế, trên hàng Sùng ban, phẩm trật ngang với Điện trung thừa.
[4] Đổi tên huyện Tuấn Nghi thành huyện Tường Phù.
[5] Ban chiếu rằng: Các vật dụng cần thiết cho yến tiệc ngày Thiên Khánh tiết và việc treo đèn ngày Thượng Nguyên, lệnh cho Tam ty chế tạo và cung cấp. Trước đây, Khai Phong phủ thường mượn từ các phường chợ, hoặc nhân đó gây phiền nhiễu cho dân, hoặc có khi bị thất lạc, nên có chiếu này.
[6] Ban tặng giáp trụ cho Khả hãn Dạ Lạc Hột của Cam Châu Hồi Cốt, theo lời thỉnh cầu của ông ta.
[7] Củng Châu của tộc người Tây Nam quy phụ, ban chiếu đúc ấn để cấp cho họ.
[8] Tái ban lệnh cấm nấu chảy vàng để trang trí đồ dùng.
[9] Ngày Mậu Thìn, ban chiếu: “Từ nay về sau, các án tử hình do Khai Phong phủ, Điện tiền và Thị vệ ty tâu lên, sau khi đã xét xử, nếu là dân thường thì giao cho Trung thư, quân nhân thì giao cho Xu mật viện, xem xét lại rồi tâu lên, đợi khi có chỉ dụ mới thi hành. Những án tuy đã xét xử nhưng tình tiết còn có thể khoan hồng, cũng phải tâu lại. Những người ghi chép và thẩm vấn tội nhân ở các nơi, phải cử người khác, không được để lại những người đã tham gia xét xử trước đó[2].”
[10] Lại ban chiếu: “Từ nay về sau, kẻ nào dụ dỗ con em người khác, không hỏi ý kiến bề trên, đòi chia gia sản, hoặc bí mật vay nặng lãi, phá hoại phần mộ, thì lệnh cho nơi đó bắt giữ, xét xử và lưu đày.”
[11] Ngày Kỷ Tỵ, phong chị của Vua là Tấn quốc Trưởng công chúa làm Đại trưởng công chúa, em gái của Vua là Lỗ quốc Trưởng công chúa làm Hàn quốc Trưởng công chúa, Thọ Xương Trưởng công chúa làm Trần quốc Trưởng công chúa. Trước đó, Vua nói với tể tướng: “Thời tiên đế, khi công chúa mới xuất giá, bổng lộc hàng tháng là một trăm năm mươi ngàn, sau đó dần tăng lên hai trăm ngàn. Đến thời Chí Đạo, tiên đế từng cho phép các công chúa tăng bổng lộc, Minh Đức hoàng thái hậu nhắc lại lời tiên đế với Trẫm, nên mới tăng lên ba trăm ngàn, không thể tăng thêm nữa. Nay những người mới xuất giá cũng đòi số bổng này, nhưng họ chưa hiểu rằng các công chúa trước đây khi mới nhận bổng cũng chưa được như vậy. Nhân dịp phong thiền, Trẫm chỉ muốn ban thêm mỹ hiệu mà thôi.” Theo chế độ nhà Hán, con gái của thiên tử gọi là Công chúa, chị em gọi là Trưởng công chúa, cô gọi là Đại trưởng công chúa. Thời Hậu Hán, các hoàng nữ đều được phong làm Huyện công chúa, những người được tôn sùng thì thêm hiệu Trưởng công chúa. Thời Đường, có người được phong theo tên nước, tên quận hoặc mỹ hiệu, nhưng chị của hoàng đế không có tên gọi Đại trưởng. Nay có lệnh này là dựa theo lệ tôn sùng thời Hậu Hán.
[12] Phong thiền kinh độ chế trí sứ Vương Khâm Nhược dâng danh sách công trạng của các quan kinh triều, sứ thần và nghệ thuật quan tham gia việc tế tự. Vua xuống chiếu cho những người thuộc hạng nhất được ưu tiên thăng chức, hạng nhì được thăng quan, thêm giai tước, còn những người thuộc nghệ thuật quan thì được đổi y phục.
[13] Ngự sử Trung thừa Vương Tự Tông tâu: “Hàn lâm học sĩ Dương Ức, Tri chế cáo Tiền Duy Diễn, Bí các Hiệu lý Lưu Quân, làm thơ xướng họa về Tuyên Khúc, kể lại chuyện cung đình đời trước, lời lẽ phù phiếm.” Vua nói: “Các bậc từ thần là tông sư của học giả, sao có thể không răn dạy sự buông thả!” Bèn hạ chiếu khuyến khích học giả: “Từ nay, ai làm văn từ phù phiếm, không tuân theo khuôn phép, sẽ bị trách phạt nghiêm khắc. Những tác phẩm in khắc, lệnh cho Chuyển vận sứ chọn quan trong bộ xem xét, nếu được thì ghi chép tâu lên.”
(Giang Hưu Phục nói: Khi Vua còn ở Nam Nha, từng triệu tập nghệ nhân Đinh Hương vẽ tranh để ban ân sủng. Dương Ức và Lưu Quân trong cấm lâm làm thơ Tuyên Khúc. Vương Khâm Nhược mật tấu cho rằng có ý châm biếm, nên mới ban lệnh cấm văn tự tà đạo. Nay chỉ theo quốc sử.)
[14] Thượng từ Đông Phong trở về, các quần thần dâng biểu tụng ca ngợi công đức liên tiếp, chỉ có tiến sĩ Tôn Tịch dâng thư, nói rằng phong thiền là việc thịnh sự của đế vương, nhưng mong bệ hạ cẩn thận trong lúc thành công[3], không nên tự mãn. Thượng khen ngợi lời ấy, liền triệu ông vào thi ở Trung thư, ngày Canh Ngọ, ban cho ông danh hiệu đồng tiến sĩ xuất thân.
(Tôn Tịch, không rõ lai lịch.)
Lúc đó, Tri chế cáo Châu Khởi cũng dâng lời tâu: “Thế thiên hạ thường lo lắng vì an dật mà quên đi sự cẩn trọng, mong bệ hạ đừng lấy việc thành công làm chỗ dựa.” Thượng nghe theo.
[15] Trước đây, người Man ở Lạc Thiện Châu cướp phá La Thành và Vũ Dương thuộc Dung Châu, Chủ bạ Vũ Dương là Dương Thích chiêu mộ trai tráng cùng quân châu đi bắt giặc, bị thương và chết tại nhiệm sở. Ngày Nhâm Thân, ban cho con trai ông là Dương Nhữ Hiền danh hiệu đồng học cứu xuất thân.
[16] Ngày Giáp Tuất, chiếu cho Phòng ngự sứ Phong Châu là Vương Thừa Mỹ mỗi tháng tăng thêm 5 vạn tiền bổng. Từ khi Thừa Mỹ quy thuộc, lộc tứ chỉ theo lệ của quan phiên, đến nay mới đặc cách ban cho.
(Bản truyền ghi việc tăng bổng xảy ra vào đầu niên hiệu Cảnh Đức khi ông được thăng làm Phòng ngự sứ, nay theo 《Thực lục》.)
[17] Ngày Ất Hợi, chiếu cho các tướng hiệu quân đội từ chức Bách phu trưởng trở lên đến Sùng Chính điện, xem xét lý lịch rồi thăng chức theo thứ tự, việc này kéo dài 4 ngày mới xong.
[18] Mùa đông năm ngoái, có chiếu cho kinh sư được uống rượu 5 ngày, bắt đầu từ ngày 5 tháng 2. Lúc đó trời hạn hán lâu ngày, Hữu bộc xạ Trương Tề Hiền tâu: “Yến lạc là việc dương. Vừa qua Tết Nguyên Tiêu, lại sắp uống rượu, e rằng không phải là cách đáp lại ý trời. Xin đợi khi mưa thuận mới thi hành chiếu chỉ.” Thượng nghe theo.
[19] Trước đó, các quan tâu: “Các tướng quân nghiêm khắc trong việc cai quản binh lính, đến ngày thuyên chuyển, binh lính dưới quyền liền lơ là, không cùng hợp sức dời đi. Còn những kẻ buông lỏng, tham nhũng, thì lại được binh lính tiễn đưa, tặng quà cáp. Quân chính như thế, không có gì để răn đe hay khuyến khích. Xin từ nay, từ chức Sương chủ trở xuống đến Chỉ huy sứ, các viên liêu hoặc được thuyên chuyển, bổ nhiệm ra khỏi doanh trại, đều định rõ số người dời đi, nếu dám lơ là thì nghiêm trị, đồng thời cấm việc tặng quà cáp[4].” Ngày Đinh Sửu, ban chiếu cho Điện tiền ty, Thị vệ ty, Quân đầu ty, Tuyên huy viện, đều theo lời tâu mà thi hành.
[20] Phụng Nhật Tả Hữu Sương Đô chỉ huy sứ Tưởng Tín, Vương Vũ cùng tám người khác, đều bãi chức quân vụ, chính thức nhận chức Chư châu Đoàn luyện sứ. Sau đó, sai họ làm Tri châu các châu Bộc, Đơn, Minh, Trạch, Vệ, Mạc, Tế, Đường, đồng thời chọn quan viên làm Thông phán châu sự.
[21] Ngày Kỷ Mão, ban chiếu cho chức Long đồ các Đãi chế được xếp ngang hàng với Tri chế cáo, nhưng ở dưới. Do đó, Long đồ các Đãi chế, Hộ bộ Lang trung, Trực Chiêu văn quán Thích Luân, Công bộ Lang trung, Trực Sử quán Trần Bành Niên, đều kiêm chức Tập hiền điện Tu soạn. Vua đã nâng bậc cho chức Đãi chế, vì chức quán không xứng, lại không muốn bãi bổng lộc kiêm nhiệm của Thích Luân, nên có sự bổ nhiệm này.
[22] Ban đầu, tăng nhân Đạo Nguyên ở Tô Châu biên soạn lời dạy của Phật Tổ đến các danh tăng gần đời, làm thành sách 《Truyền Đăng Lục》 30 quyển dâng lên. Vua xuống chiếu cho Hàn lâm học sĩ Dương Ức, Tri chế cáo Lý Duy, Thái thường thừa Vương Thự khảo đính, Chiêu tuyên sứ Lưu Thừa Khuê đứng đầu việc này. Ngày Canh Thìn, Dương Ức và các quan dâng sách lên, Vua sai khắc bản in để ban bố.
[23] Xuống chiếu rằng các quan bị giáng chức gặp ân xá mà không được thăng chức thì mỗi tháng tăng thêm lương bổng.
[24] Vua nghe nói ở kinh thành có người tráng niên làm giặc bị xăm mặt, phần nhiều buông thả không chừng, bèn sai Khai Phong phủ liệt kê tên tuổi bắt giữ, đày đi các châu khác.
[25] Chức phương viên ngoại lang, Bí các hiệu lý Thư Nhã, trước đây làm Tri châu ở Thư Châu, mãn nhiệm kỳ, xin làm Giám châu ở Linh Tiên Quán, được chấp thuận. Thư Nhã thường tiến cử Vương Khâm Nhược, đến lúc này, Khâm Nhược nói rằng ông ta không màng danh lợi. Ngày Quý Mùi, Vua sai Thư Nhã làm Trực Chiêu Văn Quán.
(Thư Nhã là người Ngô, không rõ quê quán.)
[26] Lệnh cho Tri phủ châu Chiết Duy Xương xuất quân bảo vệ việc vận chuyển cỏ lương đến Lân Châu, vì đường Trì Mao Xuyên là lối đi của người Nhung.
[27] Kim bộ viên ngoại lang Mã Nguyên Phương làm Tri châu ở Vận Châu, đánh dấu mấy ngàn khoảnh đất chăn nuôi, không xâm phạm dân mà vẫn hoàn thành công việc. Ngày Giáp Thân, Vua sai ông làm Kinh Đông chuyển vận phó sứ, sau thăng làm Chuyển vận sứ.
[28] Cho con của Khổng Nghi là Điện trung thừa Khổng Húc làm Tri huyện Khúc Phụ, kiêm chức Kiểm hiệu Tiên Thánh miếu, ban cho áo tía và cá. Khi từ biệt, ban cho vải lụa, mỗi tháng cấp lương như lệ của Thông phán.
Đông phong yết miếu, anh của Húc là Miện trước đây phụ trách việc miếu, vốn không cẩn thận. Húc lúc đó làm Thông phán Quảng Châu, Vương Khâm Nhược khen ngợi việc trị lý của ông, nên triệu về và bổ nhiệm. Húc ở Quảng Châu nổi tiếng thanh liêm, khi được triệu, các thủ lĩnh địa phương tranh nhau dâng bảo vật, nhưng ông đều từ chối và an ủi họ. Húc xin lập học xá ở miếu Tuyên Thánh và giảng dạy ở trai sảnh, đều được chấp thuận. Húc và Miện đều là con của Nghi.
[29] Đổi chức Quân đầu ty Bạn ẩm Chỉ huy sứ thành Tán Chỉ huy sứ. Từ thời Ngũ Đại, các quân hiệu lập công nhưng không có chỗ bổ nhiệm, chỉ cho họ cùng ăn uống với các hiệu khác, từ đó thành tên gọi. Sau này, chức này bị coi là thừa, chỉ dành cho người bị khiển trách. Vua cho rằng danh phẩm không chính thức nên đổi tên.
[30] Ngày Ất Dậu, lệnh cho Hộ bộ Thượng thư Ôn Trọng Thư, Hữu thừa Hướng Mẫn Trung cùng Lại bộ Lưu nội tuyển chú định việc tuyển chọn quan lại. Trước đó, Vua hỏi các phụ thần: “Lại bộ dẫn đối các quan, có khi cả tháng không xong, tại sao vậy?” Trần Nghiêu Tẩu đáp: “Người được tuyển rất nhiều, việc bị đình trệ.” Ông nhắc lại chế độ tự thuyên cũ, Vua nói: “Nay người nhiều, chỗ ít, dù bốn mùa tuyển chọn còn lo tắc nghẽn, huống chi là tự thuyên?” Nghiêu Tẩu lại xin lấy lại số quan cũ, đặt như các chức Lục tào, mỗi trăm châu được sáu trăm người. Vương Đán nói: “Nay có hơn hai nghìn người chờ chỗ, dù tăng thêm hai ba trăm người cũng vô ích.” Vua bèn sai Trọng Thư cùng phụ trách việc tuyển chọn để đốc thúc.
[31] Lệnh cho Hữu ty Gián, Trực sử quán Trương Tri Bạch đi tuần tra Thiểm Tây lộ. Mùa đông năm ngoái, Hoa, Giải ít tuyết, giá lúa tăng cao, dân lưu tán vào Đường, Đặng châu. Chuyển vận sứ nói kho lương ven sông chỉ đủ dùng hai năm, nên sai sứ đi xem xét.
[32] Chiếu cho các cung quan trong thiên hạ mỗi nơi độ một đạo sĩ, chùa viện có hơn trăm tăng ni thì độ hai người, dưới trăm cũng như vậy.
[33] Ngày Bính Tuất, Trương Tri Bạch tâu: “Trước đây có chiếu rằng các quận quốc có điềm lành không được báo lên, chỉ báo Lễ bộ. Từ khi phong thiền, điềm lành dồn dập, nay các quận quốc đều báo lên. Xin nhắc lại chế độ trước.” Vua đồng ý.
Giám sát ngự sử Du Hiến Khả tâu: “Xin rằng những vật tốt lành trong thiên hạ không có trong sổ sách thì không được báo lên.”
(Hiến Khả là người Hấp Châu, làm ngự sử vào tháng 3 năm Cảnh Đức thứ 4, do Vương Tự Tông tiến cử. Lời tâu không rõ thời gian, ghi chép sau phần về Trương Tri Bạch.)
[34] Quần mục chế trí sứ Trần Nghiêu Tẩu tâu: “Ở các lộ Kinh Đông, Kinh Tây, Hà Bắc, Thiểm Tây, ngoài những đất chăn nuôi của quan, còn có đất bỏ hoang và đất trốn thuế có thể dùng để chăn thả, nhưng lại tiếp giáp với đất dân. Xin triều đình mua lại bằng giá hòa thuận, hoặc đổi lấy đất màu mỡ, không làm ảnh hưởng đến việc canh tác của dân, và cử quan đi tuần tra, đánh dấu xác định.” Chiếu theo lời tâu.
[35] Tháng đó, phong Mỹ nhân Lưu thị làm Tu nghi, Tài nhân Dương thị làm Tiệp dư.
(Theo《Hội yếu》, cần tra cứu thêm.)
[36] Chiếu cho các lộ Chuyển vận sứ, Phó sứ, Đề điểm hình ngục, triều thần, sứ thần được phép cho con cháu thừa hưởng ân huệ, nếu muốn cho em, cháu, chắt cũng được theo ý.
[37] Tháng 2, ngày Mậu Tý, chiếu rằng: “Nghe nói những năm gần đây, khi cử quan cầu mưa, các cơ quan chỉ cấp bản văn cầu khấn mà không bày rượu, thịt khô. Theo luật lệ, phàm cầu đảo đều phải dùng rượu và thịt khô, tương, báo đáp theo lễ thường. Nên lệnh cho các cơ quan từ nay về sau, khi cầu đảo và báo đáp, phải tuân thủ nghiêm ngặt lễ nghi, cốt sao cho thanh khiết.”
[38] Ngày Kỷ Sửu, đổi chức Nội thị cung phụng quan trong Nội thị tỉnh thành Nội Đông, Nội Tây đầu cung phụng quan; chức Điện đầu cao phẩm thành Nội thị điện đầu[5]; chức Cao phẩm thành Nội thị cao phẩm[6]; chức Cao ban nội phẩm thành Nội thị cao ban; chức Hoàng môn thành Nội thị hoàng môn, tổng cộng 6 bậc, đều thêm tên của bản tỉnh vào. Người mới bổ nhiệm gọi là Tiểu hoàng môn, sau khi được ân điển thăng chức thì thành Hoàng môn. Các chức Cung phụng quan, Điện đầu, Cao phẩm, Cao ban, Hoàng môn trong Nội thị tỉnh cũng theo quy định này.
[39] Ngày Canh Dần, các quan trong nội thị là Đô tri Nhập nội nội thị tỉnh, Nam tác phường sứ Lý Thần Hữu, Nội viên sứ Thạch Tri Ngung, Phó đô tri, Tây kinh Tả tàng khố sứ Trương Cảnh Tông, Cung bị khố sứ Lam Kế Tông đều bị cách chức. Lúc đó, nhân dịp lễ Đông phong, các quan nội thị có người theo hầu lên núi, có người không lên núi và không nằm trong hàng ngũ tòng tự, Vua sai Thần Hữu phân loại công lao của họ để thăng chức. Các quan Nhập nội cung phụng là Phạm Thủ Tốn, Hoàng Phủ Văn, Sử Sùng Quý, Trương Đình Huấn đều từng bị khiển trách, nhưng lại kể công lao, nói rằng Thần Hữu phân loại không công bằng, khóc lóc kêu oan với Vua. Vua ngăn lại, nhưng họ vẫn đến nhiều lần. Ban đầu, Thủ Tốn đều được đổi làm Nội thường thị, Vua nổi giận, bãi chức tất cả, Thần Hữu cũng bị liên lụy.
[40] Vua xuống chiếu rằng các quan nội thị giữ chức Phó sứ các ty, nếu có con trai thuộc Nhập nội nội thị tỉnh chưa được thăng chức, đều được đặc cách thăng bổ một người.
[41] Trước đó, Vua hạ chiếu cho Lại bộ chọn những người thông hiểu kinh điển trong số các quan thường điều để làm thị giáo ở Nam cung và Bắc trạch. Lại bộ tiến cử Lý Tụng, huyện lệnh Đông Quan mới nhậm chức, và Thời Đại Nhã, nguyên huyện úy Vũ Tiến. Vua sai Trung thư triệu đến hỏi, thấy họ đều thông hiểu kinh nghĩa, bèn thăng làm Thừa Đại Lý tự và Vệ úy tự sung chức.
(Lý Tụng và Thời Đại Nhã làm bạn đọc, đều được chú thích vào ngày Quý Dậu tháng giêng năm Hàm Bình nguyên niên, từ đó bắt đầu dùng quan kinh.)
[42] Thiểm Tây bị hạn hán, Vua hạ lệnh mở kho phát chẩn.
[43] Trước đó, có người ở Đinh Châu tên là Vương Tiệp, vào đầu năm Hàm Bình đi buôn bán đến Nam Khang quân, ở quán trọ gặp một đạo nhân, tự xưng họ Triệu. Mùa đông năm đó lại gặp lại ở Mao Sơn, bảo Tiệp mua chì và thủy ngân để luyện, chốc lát thành vàng. Tiệp liền theo đến các núi ở Hòa Châu, học được thuật đó, lại được trao một thanh thần kiếm nhỏ, bảo giữ kín, dặn rằng: “Nếu không gặp bậc quân chủ, chớ nên nói ra.”
Tiệp đến kinh đô xin yết kiến không được, bèn mưu tính dùng tội danh để tự tiến thân. Đến Tín Châu, giả điên hét lớn, bị bắt phát phối đến Lĩnh Nam. Không lâu sau, trốn về kinh đô, bị quan phủ bắt giữ. Cáp môn chi hậu Tạ Đức Quyền từng làm Tuần kiểm Lĩnh Nam, biết Tiệp có thuật lạ, bèn tâu xin được tha, rồi giải trừ quân tịch.
Lưu Thừa Khuê nghe chuyện, đổi tên ông ta thành Trung Chính, được vào đối ở Long Đồ các, bày tỏ linh ứng, đặc cách bổ làm Tham quân Hứa Châu, lưu lại ở nhà quan trong hoàng thành, thỉnh thoảng ra ngoài chợ búa. Thường có đạo nhân nói nhỏ rằng: “Người truyền pháp cho Trung Chính chính là Tư Mệnh Chân Quân.” Thừa Khuê bèn xây nhà mới, đến ngày 13 tháng 5 năm Cảnh Đức thứ 4, Chân Quân giáng xuống trong màn sao của nhà, đội mũ đeo kiếm, áo quần đều màu xanh, từ đó nhiều lần giáng xuống. Trung Chính thường truyền đạt lời của ngài, sau khi được thiên thư, bèn làm lễ phong thiền ở phía đông, gia hiệu Tư Mệnh Thiên Tôn, đó là Thánh Tổ. Phàm có điềm lành dị thường, Trung Chính đều báo trước.
Ngày Tân Mão, phong Trung Chính làm Tả Vũ vệ tướng quân trí sĩ, cấp đủ bổng lộc, ban nhà ở phường Thông Tế, ân sủng rất hậu.
(Việc gia hiệu Tư Mệnh, cần xét lại.)
[44] Xuống chiếu cho các quân hiệu theo lệnh ân xá được thăng chức, nơi nào cũng phải kê rõ công lao và hỏi ý nguyện của họ rồi tâu lên. Vua thấy các quân tăng bổng, có người nguyên được cấp chưa đến một ngàn hoặc hai ngàn, đều tăng lên ba ngàn, thấy không đồng đều, bèn lệnh cho Xu mật viện chọn người có công, khen thưởng riêng.
[45] Ban thưởng cho Vua nước Đại Thực giường bạc có trang trí, bình nước, yên ngựa, khí giới, cờ xí, v.v., theo lời thỉnh cầu của ông ta.
[46] Ngày Nhâm Thìn, cấm các châu không được để quân lính chăn nuôi ngựa quấy nhiễu dân làng.
[47] Ngày Giáp Ngọ, ban cho Thứ sử Hoành Châu là Trần Văn Hạo bổng lộc của Thứ sử trong nội địa. Văn Hạo khi làm Tri châu Bộc Châu có công lao trong việc sắp xếp nơi ăn chốn ở, từ Khang Châu được điều đến Hoành Châu, lại được tăng bổng lộc để khuyến khích.
[48] Lệnh cho quan coi việc ở Lễ tân viện thay nhau túc trực tại viện, nếu có người nước ngoài đến cống nạp mà xảy ra tranh chấp thì hòa giải ngay.
[49] Ngày Ất Mùi, chiếu chỉ cho các châu ở Hà Bắc rằng từ nay mỗi năm từ tháng 10 đến tháng giêng, cứ vào ngày nghỉ trong tuần thì tập hợp trai tráng để kiểm tra, huấn luyện[7], tránh làm mất thời gian làm ruộng.
[50] Ngày Đinh Dậu, miễn thuế mua dê ăn cho các quan văn võ.
[51] Bãi bỏ việc các ty Bộ thự ở các lộ thu nhận thợ làm mũi tên và thầy thuốc, đều cho về kinh.
[52] Châu Đăng tâu rằng từ khi Vua đi phong thiện ở phía đông đến nay, biển không nổi sóng.
[53] Ngày Mậu Tuất, Thủ lĩnh lớn của Lục Cốc ở Tây Lương phủ là Tư Đạc Đốc sai sứ đến cống.
[54] Ngày Canh Tý, Vua nói với Vương Đán rằng: “Trưởng công chúa nước Trần từ nhỏ không ăn thịt, triều trước có lúc bắt ăn thì bị bệnh, từ đó cho phép xuất gia. Nay phải dời đến chùa ngoài, Trẫm tính việc xây dựng phải hơn một năm chưa xong, lại nghĩ đến chuyện Kim Tiên, Ngọc Chân đời Đường có thể làm gương[8], nay chỉ ban cho viện Quang Giáo ở phường Bảo Hòa, thêm vào việc trang trí, cũng khá rộng rãi. Còn các ni cô ở Quang Giáo thì cấp cho kho vải cũ.” Đán nói: “Dùng cái cũ mà sửa sang thì công sức giảm đi gấp bội. Bệ hạ thương dân tiết kiệm, thiên hạ may mắn lắm.”
[55] Ngày Tân Sửu, sai sứ thần đi các nơi mở kho thường bình lấy thóc lúa mạch, mở tám chợ ở bốn phía kinh thành, bán giảm giá để bình ổn vật giá.
[56] Ngày Nhâm Dần, sai Thái thường bác sĩ, Trực sử quán, người Hà Nam là Vương Tùy làm sứ sang chúc mừng sinh thần mẹ Vua nước Khiết Đan, Cung phụng quan, Cáp môn chi hậu Vương Thừa Cấn làm phó sứ. Trước đây, Vương Kế Trung từng nhân dịp đi sứ Khiết Đan trở về, dâng ngựa quý, áo lông chồn, gấm vóc để chúc mừng việc tế lễ ở núi Thái Sơn, nay ban tặng khí vật, lụa là để đáp lễ, sai Vương Tùy mang chiếu chỉ đi.
[57] Chiếu chỉ từ nay sứ Khiết Đan có tặng vật ngoài lệ, sứ tiếp đón và sứ hộ tống từ chối nhiều lần không được thì cho phép nhận, quan cấp khí vật, lụa là để đáp lễ. Trước đây, sứ Khiết Đan là Tiêu Tri Khả đến dịch trạm Bạch Câu, cùng sứ hộ tống là Trần Tri Vi uống rượu từ biệt, sai Xá Lợi đem ngựa mình cưỡi tặng Tri Vi, lại đem hai con ngựa đến, bảo tự chọn, Tri Vi cố từ chối không nhận. Vua muốn vỗ về phong tục phương xa, nên có lệnh này.
[58] Ngày Quý Mão, cấm đạo sĩ cho người thân ở trong cung quán.
[59] Ngày Giáp Thìn, chiếu tha thuế còn thiếu năm ngoái của dân các châu Đồng, Hoa.
[60] Ngày Ất Tỵ, Vua đến chùa Đại Tướng Quốc, cung Thượng Thanh, chùa Cảnh Đức Khai Bảo cầu mưa. Ngày Mậu Thân, lại sai quan tế Thái Nhất, tế Huyền Minh và năm sao ở ngoại thành phía bắc. Ngày Kỷ Dậu, mưa.
(Sách 《Thực lục》 chép ngày Giáp Thìn đã có mưa, nhưng ngày Ất Tỵ, Mậu Thân vẫn cầu mưa, e là sai, nay theo 《Bản kỷ》.)
[61] Sai các châu biên giới phía bắc và đông Hà Bắc, nếu trong quân bản thành có chức vụ khuyết thì cứ theo thứ tự bổ nhiệm, không cần tâu xin.
[62] Cấm các châu dọc sông Hạp, sông Giang, các bến đò chặn thuyền bè của khách thương để xin tiền, lệnh cho châu ấy xét việc này.
[63] Lệnh cho Đô giám châu Đồng là Lý Kế Nhất kiêm chức Đô tuần kiểm sứ khu vực, vì dân châu ấy thiếu ăn, phòng ngừa trộm cướp.
[64] Xu mật viện tâu: “Trước đây vâng chiếu ban rượu, vì hạn hán nên tạm ngừng. Nay mưa thuận, xin thi hành chiếu trước.” Vua đồng ý, lấy ngày 16 tháng 3 làm ngày bắt đầu.
[65] Ngày Canh Tuất, người dân thường là Lâm Hổ đánh trống Đăng Văn dâng lời rằng: “Quốc gia cử quan cầu mưa, xa giá đi khắp các cung chùa, tuy mưa hai lần nhưng chưa đủ. Xin bỏ đi những kẻ bề tôi gian nịnh, vô dụng, minh định rõ lệnh thưởng phạt, thăng giáng, thì trời tự nhiên sẽ mưa.” Vua nói: “Lời nói về kẻ gian nịnh, vô dụng, nên chỉ rõ tên họ; còn việc thưởng phạt, thăng giáng, nếu trình bày không đúng[9], Trẫm đâu có tiếc gì việc thu nhận. Nhưng họ Lâm tên Hổ, quả là kẻ kỳ lạ.” Bèn sai Trung thư triệu đến hỏi, Hổ không biết trả lời thế nào, nên bãi bỏ việc này.
[66] Cho con của Lư Đa Tốn là Sát, làm Tư sĩ tham quân ở Phục Châu, giao cho Lại bộ bổ nhiệm làm chức Bạ, Úy[10]. Sát, năm Cảnh Đức thứ hai đỗ tiến sĩ, Lễ bộ tâu tên ở hàng cao. Có người nói con của Đa Tốn không nên được dự khoa cử, nên đặc cách cho làm chức Duệ ở châu. Đến lúc này, mới trao cho chức quan cai trị dân. Năm sau, Sát đưa tang Đa Tốn về chôn ở Tương Dương, lại có chiếu cho châu ấy ban cho Sát 30 vạn tiền.
(Việc này căn cứ vào bản truyện, ghi chép thêm.)
[67] Dân ở Ứng Thiên Phủ là Tào Thành, dùng tiền của mộ thợ xây nhà 150 gian tại nơi ở cũ của Thích Đồng Văn, tụ tập hơn nghìn quyển sách, mời rộng học trò, việc giảng học rất thịnh. Phủ tâu việc này lên, Vua khen ngợi, ban chiếu đặt tên là Ứng Thiên Phủ Thư Viện, sai Phụng lễ lang Thích Thuấn Tân làm chủ, lại lệnh cho quan Mạc chức của phủ ấy làm chức Đề cử, lại bổ nhiệm Thành làm Trợ giáo của phủ. Thuấn Tân là cháu của Đồng Văn, con của Luân.
[68] Ngày Tân Hợi, ban chiếu cho Thẩm hình viện, Đại Lý tự, nếu có án tụng của Ngự sử đài, Khai Phong phủ, phải tâu xét xử ngay, vì mùa xuân sợ việc ngục tụng bị kéo dài.
[69] Ngày Quý Sửu, Thái thường bác sĩ, Tri châu Ôn Châu Lý Mạc tâu: “Theo chiếu, cấm dùng vàng bạc, chỉ kim tuyến để trang trí đồ dùng. Thần thấy tăng nhân ở Lưỡng Chiết xin vàng bạc, châu ngọc, nghiền nát trộn với đất để đắp tượng tháp, có tượng cao đến một trượng. Phá hủy châu báu, dần thành thói quen. Xin nghiêm cấm, người vi phạm xử nặng.” Vua nghe theo.
(Lý Mạc, chưa rõ lai lịch.)
[70] Ngày Giáp Dần, lấy Xu mật trực học sĩ, Quyền Tam ty sứ sự Đinh Vị làm Tam ty sứ.
[71] Phong bà nội của Thái thường bác sĩ Trần Tòng Dịch là Chiêm thị làm Hà Gian huyện Thái quân. Tòng Dịch nhờ ân điển Đông phong nên được phong mẹ và vợ, nhưng xin chuyển phong vợ sang cho bà nội.
(Việc này không phải là lần đầu nên bỏ qua, cần xem xét thêm. Theo Hội yếu, trước đây chưa có tiền lệ này.)
[72] Tháng đó, sáp nhập Viện Hương dược giác dịch vào Cục Giác hóa.
[73] Tháng 3, ngày Bính Thìn mùng một, Ty thiên tâu mặt trời sẽ bị che khuất, nhưng trời âm u nên không thấy.
[74] Châu Đăng tâu người nước Nữ Chân là Tích Lạt Bốc gặp gió dạt thuyền đến châu. Vua sai cấp lương thực, đợi gió thuận thì cho về.
[75] Ngày Nhâm Tuất, chiếu rằng: “Trước đây vì biên phòng không thể không phòng bị, nên sai Hà Bắc, Hà Đông tu sửa thành lũy, sửa chữa khí giáp. Xu mật viện hãy soạn điều lệ giao cho quan biên giới, mỗi quý đầu cùng kiểm tra rồi tâu lên, làm thành quy chế lâu dài.”
[76] Ngày Quý Hợi, phủ Khai Phong tâu: “Theo lệnh ân xá, tiến cử 50 người chăm chỉ học từ chương, thông kinh điển, tu dưỡng đạo đức. Nay thi được 12 tiến sĩ, 17 người các khoa khác.” Vua sai chọn lại kỹ, phải đủ số.
[77] Ngày Bính Dần, chiếu rằng: “Các quan lại các lộ đón tiễn sứ giả, chỉ được một hai người ra khỏi thành, không quá ba năm dặm. Vi phạm sẽ bị xử nặng, không được xét giảm tội.”
[78] Ngày Mậu Thìn, chiếu rằng: “Các châu tiến tấu quan làm việc trên 10 năm, đều bổ làm Tam ban phụng chức. Từ nay mỗi khi có lễ giao tế, sẽ bổ thêm 5 người.”
[79] Ngày Kỷ Tỵ, cấp tiền công dụng cho châu Nhung và châu Lô.
[80] Quốc chủ nước Vu Điền là Hắc Hàn Vương sai người Hồi Cốt là La Tư Ôn đem phương vật đến cống. La Tư Ôn quỳ tâu rằng: “Thần từ vạn dặm đến triều, được thấy thiên nhật, nguyện thánh nhân vạn tuế, làm chủ cho nơi xa xôi.” Vua hỏi rằng đi đường mất bao lâu, cách đây bao nhiêu dặm. Đáp rằng: “Đi đường một năm, ngày đi đêm nghỉ, không biết bao nhiêu dặm. Xưa kia đường đi thường bị cướp bóc, nay từ Qua Châu, Sa Châu đến Vu Điền, đường đi yên ổn, người đi lại như nước chảy, xin sai sứ đi an ủi dân xa.” Vua nói: “Sai sứ đi chỉ thêm tốn kém cho nước ngươi, nay ban chiếu thư, ngươi mang về, cũng như sai sứ vậy.”
[81] Ngày Tân Mùi, Vua ngự ở lầu Triều Nguyên xem yến tiệc, từ đó kéo dài năm ngày.
[82] Ngày Đinh Sửu, ban cho Hữu Tán Thiện Đại Phu Tân Nhược Mông 30 vạn tiền. Nhược Mông trước làm Tri châu Tân, gặp giặc Nghi khởi loạn, quan quân đi đánh dẹp, Nhược Mông lấy tiền nhà cung cấp cho công việc. Đến nay, quan phiên dẫn vào đối, nên có ban thưởng này.
[83] Ngày Kỷ Mão, Tả Đồn Vệ Tướng Quân Doãn Ngôn bị giáng làm Thái tử Tả Vệ Suất. Doãn Ngôn nhiều lần vắng mặt không vào chầu, ban đầu nói là có bệnh, đến khi sai thầy thuốc khám thì không có bệnh, nên bị trách phạt. Sau đó, anh của Doãn Ngôn là Hữu Kiêu Vệ Tướng Quân Doãn Ninh dâng sớ xin phục chức cũ, Vua khen ngợi sự hòa thuận, đồng ý. Doãn Ngôn là con thứ hai của Nguyên Tá; Doãn Ninh là con trưởng của Nguyên Phần.
[84] Đô Kiềm Hạt Hoàn Khánh là Tào Vĩ phát binh đào hào giới ở Khánh Châu, Triệu Đức Minh gửi thư cho Kiềm Hạt Phu Diên Lộ là Lý Kế Xương nói việc này, vì Đức Minh thường sai người mang vật cấm buôn bán lén lút ở biên giới, đi đường tắt, sợ bị hào giới ngăn trở. Triều đình đang muốn yên ủi, ngày Canh Thìn, xuống chiếu cho Tào Vĩ ngừng việc này.
[85] Xuống chiếu đổi mộc khuê ở miếu Huyền Thánh Văn Tuyên Vương tại huyện Khúc Phụ thành ngọc, đổi khuê ở miếu Phục Hy tại châu Duyễn thành ngọc thạch.
[86] Ngày Ất Dậu, đúc ấn Long Đồ Các, văn khắc là “Long Đồ Các Ngự Thư Ký”.
[87] Mùa hạ, tháng tư, ngày Bính Tuất, mùng một, sai sứ đi đến các châu Thăng, Hồng, Quế, tập hợp các quân nhân phạm tội lặt vặt bị phối ở các châu quân giám, cùng với trưởng lại, giám quân xem xét chọn lựa, dời đi phối ở lộ Hoài Nam. Những người trẻ khỏe có thể mang giáp, đưa về kinh, chia vào quân thượng. Nếu không muốn dời đi hoặc về kinh, cũng cho phép.
[88] Ngày Đinh Hợi, ban tiền cho quân sĩ giỏi bơi ở hồ Kim Minh. Trước đây, mỗi năm tổ chức trò đua thuyền, cho dân chúng xem trong một tháng, xa giá nhất định đến xem. Lúc này vì yến tiệc vừa xong, không đến xem, nên có lệnh ban thưởng này, lại cho phép các quan đến xem, Ngự sử đài, Hoàng thành ty không được xét cử.
[89] Chiếu cho quần thần tiến cử mạc chức, châu huyện quan, không được dùng người mới nhậm chức và không có công lao để đủ số.
[90] Ngày Mậu Tý, sai Nội điện sùng ban, Cáp môn chi hậu Thị Kì Húc đi ngựa trạm đến châu Nhung, Lô chiêu phủ người Di. Từ khi Nhậm Trại bị hại, người Di không yên, bèn tập hợp làm loạn. Tuy nhiều lần chiêu dụ, nhưng vẫn xâm nhiễu không ngừng. Vì thế lệnh cho Húc cùng Chuyển vận sứ Đằng Thiệp, trưởng lại bản châu khuyên bảo họa phúc, nếu còn dám chống mệnh, liền tập hợp thủ lĩnh dùng uy binh răn đe, nếu biết hối cải, đều tha tội; nếu cố chấp không đổi, phải dùng binh, liền cùng Kiềm hạt bàn bạc tâu lên. Lại lệnh Xu mật viện triệu Chuyển vận sứ lộ Tử Châu trước đây là Lý Sĩ Long hỏi cách làm, Sĩ Long nói: “Huyện Giang An châu Lô là nơi trọng yếu, xin dời Giám áp phủ Phú Thuận là Tống Quý Hòa làm Tri huyện kiêm Giám áp bản huyện, lại cấp ba trăm quân tinh nhuệ.” Theo lời.
(Sĩ Long, người Bình Âm. Quý Hòa, không rõ lai lịch.)
[91] Vũ Thắng tiết độ sứ, Phò mã đô úy Ngô Nguyên Ỷ tính tình thuần hậu, cẩn thận, khiêm tốn, khi ở trấn có lòng thương dân, đối đãi tân khách và thuộc hạ bằng lễ, xử sự thận trọng, đến đâu cũng biết kiểm soát cấp dưới, chưa từng vượt quá khuôn phép. Bản thân ông sống giản dị, ít ham mê thanh sắc, chó ngựa, những bổng lộc được ban đều chia cho họ hàng nghèo khó. Khi đó, ông nhận chiếu chỉ coi việc ở Từ Châu, xin được vào chầu, tâu rằng: “Họ hàng thần rất đông, những người có thể nhận chức tước đều đã được tiến cử, còn những người không đủ năng lực thì thần đều chia bổng lộc để nuôi dưỡng. Công chúa có bà vú nuôi, được vào cung, thần lo sau khi thần đi rồi, bà ấy sẽ nhờ vả xin xỏ, mong bệ hạ đừng nhận.” Vua rất khen ngợi, trong số các phò mã chỉ có ông được khen là hiền.
[92] Thăng Châu xảy ra hỏa hoạn. Ngày Kỷ Sửu, sai Nội thị cao cấp Hác Chiêu Tín đi trạm để điều tra, cứu giúp những người bị thương, chôn cất những người chết. Một hôm, Vua nói với các quan phụ chính: “Dân cư ở Thăng Châu, nhà giàu nghèo ở gần nhau, có kho lương bị cháy. Nghe nói lửa chỉ thiêu rụi nhà giàu, còn kho công và nhà nghèo không bị hư hại gì, thật là lạ.”
[93] Ngày Canh Dần, lệnh cho hai chế và các quan đợi chế ở Long Đồ các cùng Thái thường lễ viện lấy bản chúc văn ở Bí thư tỉnh và Học sĩ viện, căn cứ vào 《Chính từ lục》 để định lại, giao cho các cơ quan tuân theo.
[94] Phân định nghi thức thiên thư và nghi trượng đại giá, trang trí riêng xe ngọc để rước thiên thư, đề bảng hiệu là “Thiên thư ngọc giá”.
[95] Ngày Tân Mão, lệnh cho Quốc tử giám tiến cử những người chăm chỉ học từ chương, thông hiểu kinh điển, tu dưỡng đạo đức, cùng các tiến sĩ và các khoa khác, mỗi loại mười người. Trước đây chỉ có chiếu chỉ cho Khai Phong phủ và các châu quân đi qua[11], đến lúc này, Quốc tử giám tâu lên, nên mới có lệnh này.
[96] Chiếu chỉ cho các nhà sư tham dự lễ triều cận ở đàn Thái Sơn đều được ban ân, hoặc mỗi người được độ một đệ tử.
[97] Ngày Nhâm Thìn, Giang Hoài phát vận sứ Lý Phổ tâu: “Lương thực ở Giang, Hoài, trừ phần để lại cho các châu dùng trong khoảng ba năm, số còn lại phải cung cấp lên triều đình tổng cộng hơn một triệu ba trăm vạn thạch. Mỗi năm vận chuyển bằng đường thủy chỉ được năm trăm vạn thạch, năm nay có thể đạt bảy trăm vạn thạch, xin giảm bớt số lượng.” Vua nói: “Lương thực đầy đủ là gốc để nuôi dân, sao lại lo quá nhiều?” (Từ câu “xin giảm bớt số lượng” trở xuống đều lấy từ 《Bảo Huấn》, 《Thực Lục》 không có. Nhưng câu “xin giảm bớt số lượng” cũng không rõ Lý Phổ muốn nói gì, cần xem xét thêm.) Lý Phổ lại tâu: “Quân lính vận chuyển lương thực mang theo một ít hàng hóa, khi đi qua các châu huyện đều bị thu thuế, xin được miễn trừ.” Vua đồng ý.
[98] Ban chiếu rằng các vật phẩm cống nạp của các nước phiên đều phải được định giá để đền đáp; nghe nói kho Tả Tàng giảm giá trị vật phẩm, gọi là “nhuận quan”, từ nay nên cấm việc này.
[99] Cấp sự trung, phán tập hiền viện Chủng Phóng được phép về quê ở Chung Nam Sơn, hôm đó được Vua triệu kiến, yến tiễn ở Long Đồ các, Vua làm thơ ban cho Chủng Phóng, lệnh cho quần thần đều làm thơ, lại soạn lời tựa. Đỗ Hạo từ chối vì vốn không giỏi văn chương, Vua lệnh dẫn chuyện các danh thần về núi xưa, Đỗ Hạo bèn đọc bài 《Bắc Sơn Di Văn》, ý chê bai Chủng Phóng. Hôm sau, Vua đưa thơ của Triều Huýnh trở xuống và lời tựa cho Vương Đán xem, rồi bình phẩm, cho rằng thơ của Triều Huýnh cùng lời tựa của Dương Ức, Vương Tăng là hay nhất, lệnh sao chép riêng gửi cho Chủng Phóng, người đương thời cho là vinh dự.
[100] Hà Bắc bị hạn, ngày Ất Mùi, sai sứ tế Bắc Nhạc.
[101] Ngày Bính Thân, quan Nhập nội cung phụng là Trịnh Chí Thành đi sứ ở Mao Sơn trở về, tâu rằng khi đến Thăng châu, thấy đàn chim hoàng tước bay kín trời, nhiều con từ trên không rơi xuống, lại nghe trên không có tiếng như nước chảy. Vua nói: “Đây đều là điềm lạ, mà châu ấy không tâu lên, là cớ sao?” Bèn lấy sách chiêm nghiệm ra cho Vương Đán xem[12], nói: “Đây đều là điềm báo dân chúng khổ cực. Nếu quan địa phương biết được nỗi khổ của dân, phòng ngừa từ trước, thì có thể tránh được tai họa. Nay Trương Vịnh đang ở đó, ta không lo nữa.” Trước đó, trong thành thường xảy ra hỏa hoạn, Trương Vịnh điều tra bắt được những kẻ bất lương âm thầm đốt phá, bèn chặt chân rồi chém đầu, từ đó không còn xảy ra nữa. Ngày Đinh Dậu, sai Thị ngự sử Triệu Tương đến Thăng châu làm lễ trai đàn, thăm hỏi nỗi khổ của dân, những nhà bị cháy đều được miễn thuế nhà, lại lệnh cho châu ấy xác định lại địa giới, không để hào tộc lấn chiếm.
[102] Châu Trần tâu: “Đất thấp trũng, hàng năm bị ngập úng. Xin đào lại kênh giảm thủy từ huyện Trường Cát, châu Hứa, và tu sửa đường cũ ở thôn Bổ Tảo để dẫn nước vào sông Thái.” Vua đồng ý.
[103] Ngày Mậu Tuất, Hoàng thành sứ Lưu Thừa Khuê dâng sổ sách tổng kết của kho Nội tàng, ghi chép đầy đủ chi tiết mọi khoản thu chi từ khi lập kho đến nay. Vua khen ngợi sự siêng năng của ông, ban chiếu thưởng cho Thừa Khuê hai con ngựa, hai trăm xấp lụa, các quan coi việc đều được thăng chức và ban tiền. Thừa Khuê lúc đầu coi kho, sau lại kiêm quản tổng thể, nhiều quy chế trong kho đều do ông thiết lập ban đầu.
[104] Chiếu rằng các châu quân ở các lộ, dù địa bàn yên ổn, nhưng nếu nhà tù trống không và liên tục trong nhiều quý, từ nay cũng được ban chiếu khen thưởng.
[105] Ngày Kỷ Hợi, lấy Tam ty sứ Đinh Vị làm Tu Chiêu Ứng cung sứ, Hàn lâm học sĩ Lý Tông Ngạc làm Đồng tu cung sứ, Hoàng thành sứ Lưu Thừa Khuê làm Phó sứ, Cung bị khố sứ Lam Kế Trung làm Đô giám, đúc ấn ban cho họ.
Lúc đầu bàn việc xây cung điện, Vua sai Đinh Vị lo liệu. Vị muốn dốc hết tài lực của quốc gia[13], quy mô to lớn, các quan cận thần phần nhiều nói là không nên, Điện tiền đô ngu hậu Trương Mân cũng nói việc xa xỉ xây cất như vậy không đủ để thừa ý trời. Vua triệu Vị đến hỏi[14], Vị nói: “Bệ hạ giàu có thiên hạ, xây một cung điện để thờ phụng Thượng đế, có gì không được. Huống chi hiện nay chưa có hoàng tử, xây cung điện ở đất Càn trong cung thành, chính là để cầu phúc. Quần thần không hiểu ý bệ hạ, hoặc có người ngăn trở, xin bệ hạ nói rõ cho họ biết.” Sau đó, Vương Đán lại dâng mật sớ can Vua, Vua đáp lại như lời Vị nói, Đán bèn không dám nói nữa. Vì thế, đặc biệt đặt tên sứ, sai Vị chuyên trách việc này.
[106] Cung Chiêu Ứng tâu: “Ở núi Cổ Cốc, châu Trịnh khai thác đá để tu sửa cung điện, việc vận chuyển rất khó khăn, xin sai sứ đến tính toán vận chuyển từ sông Biện.” Vua đồng ý.
[107] Châu Trấn, châu Định tâu rằng giá cỏ khô mỗi bó là năm đồng, giá kiều mạch mỗi đấu là một trăm đồng.
[108] Ngày Canh Tý, làm lễ Đại tường cho Trang Mục hoàng hậu. Trước đó, Vua hỏi các quan Lễ bộ, các quan Lễ bộ nói trong sách lễ không ghi chép. Vua ra chiếu đặc cách bãi triều, các quan đến cửa cung, dâng tên để tỏ lòng thương xót.
[109] Ngày Tân Sửu, quan Tri châu Tần là Dương Hoài Trung tâu rằng châu này khai thác gỗ, xin mở rộng biên giới hơn trăm dặm, triệu tập địa chủ để cấp cho trà và lụa. Vua nói: “Làm sao có thể vào sâu trong đất địch hơn trăm dặm mà không dùng binh đuổi đánh?” Vương Đán nói: “Lúc đầu quốc gia, Cao Phòng làm Tri châu Tần, từng bàn việc mở đất để lập ty khai thác gỗ, người Nhung náo động, Thái Tổ sai Ngô Đình Tộ thay thế, ban chiếu vỗ về, các bộ lạc mới yên.” Mã Tri Tiết nói: “Mở rộng đất thành nội địa, lại phải đặt quân phòng thủ.” Vua nói: “Như thế, há chẳng phải giết người sao? Chi bằng lấy đường khai thác gỗ, đi qua các bộ lạc, ban cho tiền lụa, thì cầu gì chẳng được. Nếu chỉ tham gỗ, mà chiếm đất vô dụng, khiến hại đến người xa, chẳng phải là chí của Trẫm.”
[110] Ngày Nhâm Dần, xuống chiếu cho các châu trưởng quan xét xử ngục tụng, không để oan uổng.
[111] Lại xuống chiếu cho quần thần trong ngoài, nếu không phải ngày nghỉ thì không được tụ họp uống rượu bỏ bê công việc. Bấy giờ, Đô quan viên ngoại lang, Tri châu Hồ là Tô Vi dẫn thuộc hạ vượt suối chở nhạc đến núi Đạo Trường cầu mưa, cùng uống rượu. Chiều về, thuyền nặng bị lật, Phán quan Lưu Kế Năng và hai kỹ nữ chết đuối, những người khác may thoát, Tô Vi bị khiển trách giáng chức, bèn hạ chiếu răn dạy.
[112] Dân gian thường nấu chảy tiền để chế thuốc làm đồng thau, tiêu hủy tiền tệ, làm tăng thói gian lận. Sai Hữu ty bàn định điều cấm, xin xử theo luật phạm đồng, Vua đặc cách khoan hồng, phạm hai lạng thì xử tội một lạng, đến mức tử hình thì tâu xin xử. Khi kinh đô xây cung quán, đồ dùng cần dùng đồng mà mạ vàng, đều thay bằng đồng thau, đặt ty chế tạo. Ở Thiểm Tây khai thác đá Lô Cam để dùng, cũng cấm dân buôn bán.
[113] Ngày Quý Mão, xuống chiếu từ nay về sau, trong văn tự công tư có nói đến Ngọc Hoàng, đều phải viết theo luật “bình khuyết” (ND: “Bình khuyết” 平闕 là quy định phải: xuống dòng (“khuyết” – để trống một dòng) hoặc thụt lề (“bình” – viết cao lên một chữ)).
[114] Chiếu rằng từ nay các chức Chuyển vận sứ phó, Đề điểm hình ngục ở các lộ cử quan, nếu sau khi tiến cử được 5 năm không phạm lỗi mà có công lao và tài năng, thì cả người tiến cử cũng được đặc biệt ban thưởng. Vua nói với các tể thần rằng: “Người tiến cử nếu phạm tội tham nhũng thì bị liên đới trách nhiệm, nhưng nếu tiến cử được người tài thì lại không được ban thưởng, như vậy không khuyến khích được.” Vì thế mới có chiếu này.
[115] Ngày Ất Tỵ, dời quân đồn trú ở Bảo Đức quân đến Tịnh châu để nhận lương. Trước đây, do việc vận chuyển lương thực đến hai châu Lân, Phủ gặp khó khăn, nên dời quân qua sông, nhưng ở Bảo Đức cũng thiếu cỏ và lương thực, nên lại dời đi nơi khác.
[116] Ngày Đinh Mùi, lệnh cho các châu quân ở Thiểm Tây mở kho phát lương để cứu đói dân.
[117] Ngày Mậu Thân, chiếu cho Tư Nông tự rằng lúa ở kho Thường bình tại kinh sư bán ra, tuy trước đây đã giảm giá, nhưng nay có thể giảm thêm 5 đồng mỗi đấu. Từ đó đến tháng 6, tổng cộng bán được hơn 9.000 hộc, nhờ vậy giá cả ở kinh sư tạm ổn định.
[118] Ngày Kỷ Dậu, chiếu cấm chặt củi ở các danh sơn động phủ trong thiên hạ.
[119] Ngày Canh Tuất, lệnh cho Thái thường lễ viện xem xét và định ra nghi thức trai tiếu ở đạo trường Thiên Khánh, rồi ban bố cho các châu.
[120] Ngày Nhâm Tý, chiếu rằng: “Những người được bổ làm quan kinh sư do thế tập, từ 25 tuổi trở lên xin được bổ nhiệm, nên cho vào Quốc học nghe giảng và học tập kinh sách, thời hạn là 2 năm. Sau đó, Thẩm quan viện cùng với quan giám sát khảo thí, rồi tâu tên lên.” Mùa thu năm đó, có 9 người được dẫn vào chầu, nhưng Đại Lý bình sự Tiền Tượng Trung và Phụng lễ lang Trần Tông Kỷ vì học vấn chưa tinh thông, nên cho tiếp tục học tập, đợi năm sau mới dẫn vào chầu.
(Tiền Tượng Trung, Trần Tông Kỷ, không rõ lai lịch.)
[121] Điện tiền và Thị vệ ty tâu rằng các quân cấm binh từ Hổ Dực trở xuống đều nguyện đến cung Chiêu Ứng để phục vụ. Vua đồng ý, lệnh định mức cấp thêm và thường xuyên thay đổi.
[122] Quyền tri Duyện châu Chu Tốn tâu rằng việc tu sửa đàn phong ở Thái Sơn đã hoàn thành. Vua ban chiếu khen thưởng, cấp tiền cho binh lính và thợ. Đàn Viên đài được nâng cao thêm 1 trượng 5 thước, đàn Xã Thủ cũng được nâng cao thêm 1 trượng 6 thước, và cả hai đều mở rộng thêm 50 thước.
[123] Lô Châu tâu rằng, các man tộc ở vùng biên giới gần đó xâm lấn lẫn nhau, xin thêm quân để phòng thủ. Vua nói: “Người ở phương xa chỉ cần vỗ về, khiến họ yên ổn mà thôi.”
[124] Ty An phủ Hà Bắc tâu rằng, người ở biên giới phía bắc nhiều người bị bệnh sưng má rồi chết, dân biên giới dần dời về phía nam để tránh dịch. Vua xuống chiếu cho Viện Y quan tìm phương thuốc chữa trị.
[125] Tháng 5, ngày Ất Mão, mùng một, Vua xuống chiếu truy phong Nhan Hồi, đệ tử của Khổng Tử, tước Duyễn công, lên làm Quốc công; Mẫn Tổn, tước Phí hầu, cùng chín người khác làm Quận công; Tăng Sâm, tước Thành bá, cùng sáu mươi hai người khác làm Liệt hầu. Các tể tướng và quan lại phân nhau soạn lời tán. Ban đầu bàn việc gia phong tước công cho Thập triết, còn lại làm hầu. Vương Đán nói: “Nhan Tử trước phong Duyễn công, nếu cùng làm công tước thì không thể phân biệt với Á thánh. Xin phong Nhan Tử làm Quốc công, còn lại làm Quận công.” Vua nghe theo. Vương Đán được giao soạn lời tán cho Nhan Tử, từ chối rằng: “Thần từng thấy Thái Tổ ngự chế lời tán. Nay việc phong thiện ở phía đông đã hoàn thành, bệ hạ thân hành đến Trâu, Lỗ, các môn nhân của tiên sư đều được tôn phong tước hiệu, lời tán cho Nhan Tử xin bệ hạ tự soạn.” Vua nói: “Trẫm đặc biệt giao cho khanh, đừng từ chối nữa.”
[126] Ngày Bính Thìn, Cao Dương Quan tâu rằng, các hiệu úy quân Hà Bắc mỗi khi được thăng bổ, thường dẫn thuộc hạ dâng hoa bạc, xin cấm chỉ việc này. Vua nghe theo.
[127] Thiều Châu dâng quả tần bà, sau vì đường xa nên bãi bỏ.
(Việc này theo bản kỷ, Thực lục chép là quả thiên tuế, không rõ là vật gì.)
[128] Ngày Đinh Tỵ, trong cung ban thuốc và phương thuốc cho Vương Đán, đều do Vua tự đóng dấu, vì Vương Đán nhiều bệnh, thân thể gầy yếu.
[129] Vua xuống chiếu tu sửa cung Chiêu Ứng, từ nay Ty Bát Tác không cần kiêm quản.
[130] Lại đặt Ty Đông Sằn.
(Năm Cảnh Đức thứ 4, tháng 7, bãi bỏ hai ty sằn.)
[131] Lần đầu lên núi Thái Sơn, Vương Khâm Nhược tâu rằng ở phía đông hai bia đá của Đường Cao Tông và Huyền Tông, có vách đá phía nam bằng phẳng và dốc đứng, muốn khắc bia ngay trên vách đá để ghi lại thánh chỉ. Vua nói: “Công đức của Trẫm vốn không có gì đáng ghi chép, nếu cần soạn thuật, chỉ là để tạ ơn trời ban phúc, kể lại sự tốt đẹp của tổ tiên mà thôi.” Ngày Mậu Ngọ, Vua ra lệnh lên núi Thái Sơn tạ ơn trời, soạn bài minh ghi công đức của hai vị thánh, cùng bài tán về Cửu Thiên Ty Mệnh Bảo Sinh Thiên Tôn, Chu Văn Hiến Vương, và ghi chép về tượng Ngọc Nữ để trình cho các quan phụ tá.
[132] Ngày Tân Dậu, ban chiếu tạm ngừng khoa cử năm nay.
[133] Ngày Nhâm Tuất, ban chiếu cho quan trưởng lại ở Duyện Châu[15] vào ngày thiên thư giáng xuống núi Thái Sơn, đến điện Thiên Huống để lập đạo trường, thiết lễ cúng tế, lấy ngày đó làm tiết Thiên Huống, lệnh cho các châu đều tổ chức lễ cúng. Theo lời thỉnh cầu của Lưu Tổng, tri châu Tịnh Châu. Sau đó lại cấm giết mổ, thi hành hình phạt, ban yến tiệc theo quy chế của tiết Thiên Khánh.
(Tên tiết, theo 《Thực Lục》 thì đến tháng giêng năm thứ tư mới định, nay ghi chung, nhưng khi Lưu Tổng tấu xin đã có tên tiết rồi.)
[134] Hợp 12 chỉ huy Long Kỵ thành 6.
[135] Quan biên thần tâu rằng Khiết Đan bị nước Hắc Thủy xâm lược nên rút lui, bộ hạ của họ phòng thủ ở biên giới, gọi Hắc Thủy là đất nước yếu kém.
(Khiết Đan phía đông bắc kiểm soát Hắc Thủy Mạt Hạt, phía tây giáp Hạ Quốc, theo 《Vũ Kinh Địa Lý》, cần xem xét thêm.)
[136] Ngày Quý Hợi, ban chiếu cho quân ở các trại biên giới Hoàn Châu, từ nay cứ hai tháng cấp một lần tiền để chi phí củi đốt.
[137] Tam Ban Tá Chức, giám sát việc khai thác phèn ở huyện Linh Thạch, châu Phần, là Biên Thủ Tín, vì tham dự tiệc rượu của quan huyện lệnh, bị Đại Lý xử tội đánh 100 trượng vì tội tư. Vua thấy tình tiết nhẹ, đáng thương, đặc cách đổi thành tội công. Nhân đó ban chiếu từ nay những trường hợp tương tự, phải trình bày rõ tội trạng và hình phạt để xin chỉ dụ.
[138] Ngày Ất Sửu, có người dâng thư nói rằng, Ty Tạp mại và Ty Nội đông môn trong việc thu chi, nhân đó làm điều gian trá. Vua nói: “Hai ty này đã nhiều lần được sắp đặt, từng cấp năm trăm vạn tiền cho bản ty để chuẩn bị chi tiêu, không muốn để giá trị bị chậm trễ[16]. Thời Tiên đế, cấp một trăm vạn tiền, sai Tống Tư Cung kiểm tra, phàm việc mua bán trong cung, lệnh phải trả tiền ngay mặt, dùng xong lại tăng thêm, thường giữ đủ số tiền đó, nhưng nghe nói Tống Tư Cung cũng không thể hoàn toàn làm đúng ý Tiên đế. Gần đây, trong cung phàm những gì cần mua, đều đến kho Tả tàng, tuy phải chuyển đổi, nhưng cũng tránh được việc quấy nhiễu dân.”
(Sự việc cuối năm Thái Bình Hưng Quốc thứ 4 và tháng giêng năm Chí Đạo nguyên niên có thể tham khảo. Tống Tư Cung, lần đầu thấy vào tháng 9 năm Hàm Bình thứ 2, e rằng đây là một người khác.)
[139] Ngày Bính Dần, Vua triệu tập tể tướng đến Long Đồ các xem tượng đạo, lại xem các vật báu ở điện Sùng Hòa, tổng cộng hơn bốn trăm loại. Vương Đán nói: “Từ thời tổ tông đến nay, điềm lành tập trung nhiều, bốn phương không đâu là không nghe truyền, nay được tận mắt chứng kiến, thực là linh dị.” Vua nói: “Phù mệnh của quốc gia rõ ràng, là do tổ tông tích đức mà thành. Đến nay bốn biển hòa hợp, không dùng binh đao, hoàn thành lễ phong thiền, là có nguyên do vậy. Trẫm thường nghĩ về các đời trước, dù là Vua có đức, nhưng có thể làm lễ phong thiền thì ít, Trẫm nay làm được, là do từ thời Ung Hi đã từng có sự chuẩn bị, chế độ đã đầy đủ, Trẫm có sức gì đâu!” Vương Đán nói: “Nếu không phải do bệ hạ chăm chỉ kế thừa tốt, ra sức tạo nên thái bình, thì không thể phụng thừa chí hướng của tiên đế. Nay lại khen ngợi tổ tông, thực là phúc lớn vô cùng của tông miếu xã tắc.”
[140] Tam ty xin lệnh cho Thái phủ tự chế tạo cân một cân và năm trăm cân, để tiện cho dân dùng, Vua đồng ý. Bắt đầu lệnh cho Viện Thương thuế đến Thái phủ tự xin đấu, cân, thăng, thước để bán ra.
[141] Bộ thự ty Trấn Định tâu rằng quân sĩ đánh bạc, những nhà dân nào cho lưu trú và biết chuyện, xin đều xử phạt. Vua nói: “Bộ thự ty chỉ nên răn đe quân đội. Việc nhà dân cho lưu trú là trách nhiệm của phủ huyện.” Không chấp thuận.
[142] Hôm đó, vì cung Chiêu Ứng khởi công xây dựng, Vua ban yến cho Đinh Vị và các quan dưới quyền, lại ban tiền cho binh lính tham gia công trình.
[143] Ngày Đinh Mão, Vua ban yến cho Quảng Bình công Đức Di và các quan, cùng Thị giáo Thời Đại Nhã ở Bắc trạch, vì đã hoàn thành việc giảng sách. Lại ban cho Đại Nhã 50 tấm lụa. Các hoàng điệt đều đến chỗ ngồi riêng tạ ơn, Vua dặn dò họ chăm chỉ học hành.
[144] Ngày Canh Ngọ, Vua nói với các phụ thần: “Nay bốn phương yên ổn, mấy năm liền được mùa, nếu các nơi có người tài, thì lo gì dân không giàu có. Trẫm hết lòng tìm người hiền, vẫn lo rằng những người ở chức vụ thấp muốn che chở dân, báo đáp nước, mà Trẫm không thể sớm biết và trọng dụng; lâu ngày không được triều đình biết đến, họ cũng nản chí. Các khanh nghe thấy điều gì, nên tâu ngay, nếu được người tài, thì là lợi của nước vậy.”
[145] Ngày Tân Mùi, xuống chiếu rằng các công chúa, quận chúa, huyện chúa ở Nam cung, Bắc trạch vào ngày sóc vọng vào chầu, ngày lễ tiến cống và vào cung không đúng giờ, nếu triều chưa tan, đều phải ra vào bằng cửa Huyền Vũ, đợi tan triều mới được đi các cửa khác. Lúc đó, Hoàng thành ty tâu rằng Trưởng công chúa Tùy Quốc ngồi kiệu đến cửa Hữu Dịch, lẫn vào đoàn ngựa triều, nên mới đặt ra quy định này.
[146] Thiểm Tây bị hạn hán mất mùa, ngày Nhâm Thân, sai Diêm thiết phán quan, Thái thường bác sĩ Dương Khả đi trạm đến đó, xét xử tù nhân, giảm tội lưu đày trở xuống một bậc, tội tử hình nếu có tình tiết đáng thương thì tâu xin xử lý.
[147] Ngày Ất Hợi, Lâm Đặc, Lưu Thừa Khuê, Lý Phổ dâng lên 23 quyển sách biên soạn về pháp lệnh trà.
[148] Từ bộ viên ngoại lang, Trực tập hiền viện Dương Khản xin lệnh các châu huyện không được sai lại dịch xuống làng bắt việc, Vua đồng ý. Khản là người Tiền Đường, con cháu của Ngu Khanh.
[149] Ngày Bính Tý, Quảng Nam Tây Lộ chuyển vận sứ Hà Lượng tâu: “Người man ở Khâm Châu cướp lúa gạo của dân đánh cá ở cửa biển, chủ trại Như Hồng là Lý Văn Trứ dẫn quân nhẹ đi thuyền nhỏ đánh úp, Văn Trứ bị trúng tên chết. Tám tướng hiệu đi theo Văn Trứ đều bị chém, và đã gửi văn thư cho An Nam bắt giặc.” Vua xuống chiếu thúc giục. Năm sau, bắt được 13 người [Khuyển Yêu] Lão dâng lên[17].
[150] Ngày Đinh Sửu, Lễ bộ Cống viện tâu: “Theo chiếu, bàn định trong số những người được tiến cử từ Quốc Tử Giám, hai kinh và các lộ qua năm lần giải thí, lấy số nhiều nhất trong một năm làm chuẩn. Từ nay lấy ba phần mười, làm thành định lệ mãi mãi.” Vua xuống chiếu trong số nhiều nhất qua năm lần, đặc cách lấy năm phần mười.
[151] Ngày Mậu Dần, Vua ngự ở điện nhỏ xét án tù, phần lớn được giảm tội. Có dân hộ tuyệt mà vợ bán ruộng đất đi lấy người khác, đến lúc việc phát giác, thì tiền bán đã tiêu hết. Các quan bàn theo luật, ruộng đất phải tịch thu. Vua ra lệnh giao ruộng đất cho chủ hiện tại, nộp tiền bán chia cho người còn sống.
[152] Ngày Canh Thìn, sai Hữu Gián nghị đại phu Trần Tượng Dư đến Thiểm Tây cầu đảo ở các đền Thái Bình cung, Hậu Thổ, Tây Nhạc, Hà Độc, vì hạn hán.
[153] Ngày Tân Tỵ, xuống chiếu cho Tây Kinh mở kho bán thóc rẻ để giúp dân nghèo.
[154] Ngày Nhâm Ngọ, Hà Lượng tâu: “Giao Châu mỗi lần gửi văn thư cho các châu quân ở biên giới, đều phải chờ tâu báo và trình lên chuyển vận sứ, đi lại chậm trễ, làm mất cơ hội. Xin từ nay cho các nơi tùy nghi thi hành rồi tâu lên.” Vua nghe theo.
[155] Chiếu rằng: “Các châu tâu việc ngục tù trống không, phải có xác nhận từ Ty Lý viện của châu và huyện ỷ quách đều không có tù nhân bị giam giữ, mới được coi là ngục tù trống không. Mỗi khi có tấu trình đến, Bộ Hình sẽ đối chiếu với bản tường trình tù nhân trong tuần, nếu đúng như quy định trong chiếu chỉ trước, sẽ đặc cách ban chiếu khen thưởng.”
[156] Tháng 6, ngày Ất Dậu, ban bố điều lệ khen thưởng cho các quan chức mạc phủ, châu huyện trong việc chiêu tập hộ khẩu.
[157] Chiếu rằng các lộ đề điểm hình ngục không được tự ý sửa chữa nhà cửa.
[158] Ngày Bính Tuất, các chỉ huy sứ nha nội của các châu Tự, Hiển, Vân là Thư Bảo, Thư Phú, Hướng Điền đến triều cống.
[159] Ngày Mậu Tý, Triệu Đức Minh được miễn khởi phục.
[160] Lệnh cho châu Thiều bán thóc trong kho để cứu giúp dân nghèo.
[161] Ngày Kỷ Sửu, chiếu rằng ngày này năm trước có thiên thư giáng xuống núi Thái Sơn, từ nay về sau tại kinh đô và các lộ đều được nghỉ một ngày, gọi là tiết Thiên Huống.
[162] Ngày Canh Dần, phong Tả Long Vũ tướng quân, Phò mã đô úy Lý Tuân Húc làm Thứ sử châu Trừng. Trước đây, khi Trưởng công chúa nước Tùy hạ giá, ban cho nhà ở tại phường Vĩnh Ninh. Trong nhà có hình phượng bằng đá, Tuân Húc đều cho đục bỏ. Áo của công chúa có hình rồng, cũng cất giấu đi. Vua khen ngợi và đối đãi đặc biệt. Lúc này, Tuân Húc bị bệnh xin nghỉ, Vua nói với Vương Đán rằng: “Trẫm đã sai người đến thăm bệnh của Tuân Húc, nghe nói cũng đáng lo. Xét Sài Tông Khánh trước đây từng làm quan vệ không lâu đã được làm Thứ sử, Tuân Húc nên theo lệ cũ, có thể xét ngày tháng để tâu lên.” Vương Đán tâu: “Tông Khánh được phong tướng quân từ tháng 7, gặp ân điển tế giao nên được làm Thứ sử. Tuân Húc chưa gặp ân điển, nhưng cũng đã được 7 tháng.” Vì thế có mệnh lệnh này.
[163] Văn Tư sứ, Thứ sử Vạn châu Diêm Nhật Tân xuất thân từ lại viên, thích bàn luận để tiến thân, từng tâu rằng: “Con em của quần thần nhờ ấm mà được làm quan, thường chưa đến tuổi trưởng thành đã nhận bổng lộc, xin từ nay chỉ cấp lương cho những người từ 20 tuổi trở lên. Lại nữa, trăm quan trong kinh thành vào chầu sớm, nhưng các học sĩ, thừa lang, xá nhân trở lên, người hầu theo quá nhiều, khó tránh né, xin hạ lệnh giảm bớt.” Lại nhiều lần xin được đối đáp bàn việc thời sự, tự nhận sức lực còn dồi dào, mong được chính thức nhận chức quận, ra sức ở biên thành. Bèn được bổ làm Thứ sử Phường châu, quản lý Vị châu kiêm chức Kiềm hạt Kinh Nguyên lộ.
[164] Ngày Tân Mão, Tri châu Bảo châu Triệu Bân xin tăng thêm 500 binh lính cho đồn điền, được chấp thuận.
[165] Năm Đông phong, người dâng văn chương rất nhiều, sai các quan cận thần khảo sát xếp hạng, chọn được Hứa Thân ở thảo dã và Tiến sĩ Tổ Cao Hồng Củ, lệnh cho hai chế thí nghiệm xem xét trình độ rồi tâu lên. Ngày Nhâm Thìn, ban cho Hứa Thân đỗ Tiến sĩ cập đệ, Hồng Củ đồng xuất thân, ban áo bào và hốt trực tiếp. Tổ Cao vì cha là Tổ Cát phạm tội tham nhũng bị xử tử, được bổ làm Tam ban Phụng chức.
[166] Triệu tập các quan Thiên văn thuộc Hàn lâm đang phục vụ tại các lộ Hà Bắc, Hà Đông, Thiểm Tây về kinh, vì biên giới không có việc gì.
[167] Ty Kiềm hạt Hoàn Khánh lộ tâu bắt được gián điệp người Thổ là Lư Sưu, theo luật phải xử tử. Chiếu lệnh xiềng giải về Hạ châu, giao cho Triệu Đức Minh xử lý.
[168] Ngày Giáp Ngọ, đến cung Chiêu Ứng, ban cho Tu cung sứ khí tệ.
[169] Ngày Ất Mùi, ra chiếu rằng: “Nghe nói trong kinh thành có nhiều kẻ vô lại giả mệnh đi do thám, các ty nên sai Tam ban bắt mà trị tội.”
[170] Chiếu lệnh các việc tại các Ty Trú bạc ở các lộ Tây Bắc đều do Tri châu cùng quản lý, vì có nhiều việc trái lệ.
[171] Lệnh cho Từ châu xuất thóc kho cứu tế dân nghèo.
[172] Ngày Bính Thân, ra chiếu: “Từ nay phàm có xây dựng gì, đều phải vẽ địa đồ trước rồi mới khởi công, không được tùy tiện thay đổi. Nếu việc gì bất tiện cần sửa đổi, đều phải tâu xin.” Trước đó, sai sứ sửa chữa viện của Trưởng công chúa nước Ngô, sứ giả cãi nhau về ý kiến, nhiều lần thay đổi, nên hao tổn rất nhiều, Vua nghe được, lệnh trị tội và quy định lại.
[173] Ngày Đinh Dậu, ban chiếu rằng: “Những người thợ xây dựng cung Chiêu Ứng, trong những ngày tam phục mà làm việc đắp đất, đều được nghỉ. Các công việc khác, nếu thời tiết mát mẻ hơn, không cần ngừng làm.” Lúc đó, quan Tu cung sứ Đinh Vị muốn cung điện hoàn thành nhanh, xin không cho nghỉ trong những ngày tam phục, nhưng Vương Đán nói rằng nên thuận theo thời tiết, Vua nói: “Lý lẽ đúng là như vậy.” Nên ban chiếu này.
Tây Nhiễm viện sứ Tạ Đức Quyền lúc đầu tham gia xây dựng cung điện, Đức Quyền lo lắng về việc lao dịch quá nặng nề, hàng ngày tranh cãi với đồng liêu mà không thể giải quyết, nên xin từ chức.
Tri chế cáo Vương Tăng dâng sớ rằng:
“Thần nghe rằng triều đình đặt ra chức quan gián tránh để ngăn ngừa những thiếu sót trong chính trị, những người không phải chức quan đó mà dám nói là để bày tỏ lòng trung thành, huống chi trong thời đại không kiêng kỵ này, lại được hưởng ân điển đặc biệt, nếu suy nghĩ mà không có ích gì, e rằng sẽ bị chê cười vì chiếm lộc.
Thần thấy quốc gia nhận được điềm lành lớn, được ban sách bí mật, phúc lớn truyền đến muôn đời, công nghiệp vượt xa trăm vị Vua trước. Bệ hạ kính cẩn giữ gìn báu vật, lên núi lớn phong tước, công lao lưu danh muôn thuở, ân trạch thấm nhuần khắp nơi, lòng thành kính phụng sự, thật là tột bậc. Nhưng lòng thanh khiết phát ra, mệnh lệnh gấp rút thi hành, ở góc bắc của thành nghiêm ngặt, mở ra ngôi đền bí mật của các vị thần, để tỏ rõ sự ứng nghiệm lớn, đặt tên tốt đẹp. Từ khi bắt đầu đến nay, số người tham gia rất đông, chở đá từ núi khác, nối tiếp trên đường, chặt gỗ Dự Chương, vận chuyển xa từ rừng núi. Đắp đất, nung gạch, vung cuốc, dùng rìu, công việc kéo dài nhiều năm, chi phí lên đến hàng vạn. Vượt qua quy chế cũ của đền Kỳ Niên, vượt xa những gì nghe trước đây, giao cho người quyền quý giám sát, ủy quyền cho người có thế lực quản lý. Như vậy, ý nghĩa tôn kính văn báu của quốc gia không phải là không sâu sắc, quy mô xây dựng đài quan không phải là không hùng vĩ. Tuy nhiên, lòng thành khẩn của thần, có lẽ khác với điều này, đã thấy nghe, sao dám im lặng!
Thần cho rằng những việc xây dựng hiện nay có năm điều bất tiện. Tuy công việc đã bắt đầu, chưa thể dừng lại hoàn toàn, nhưng nếu may mắn được nghe theo lời khuyên của kẻ hèn mọn, giảm bớt chi phí công trình, hạn chế quy mô, thì cũng là ân huệ lớn cho dân và kế hoạch lâu dài lo cho nước. Nay xin trình bày với bệ hạ năm điều ấy.
Hơn nữa, cung điện mới xây dựng lần này quy mô rộng lớn, tất cả vật liệu gỗ đều là gỗ quý. Thần nghe nói những nơi sản xuất trong thiên hạ, thu mua rất nhiều, vận chuyển đến cung điện, càng làm tổn hại sức dân, dù nói chỉ sử dụng quân lính và thợ thuyền, nhưng làm sao tránh khỏi phiền nhiễu dân thường! Huống chi quân nhân cũng là dân chúng, đây là điều bất tiện thứ nhất.
Gần đây vừa hoàn thành việc phong tặng, đã hao tốn nhiều kinh phí, nay lại xây dựng, càng tiêu hao tài sản. Dù trong kho tàng, của cải chất đống như núi, công trình dưới chân, thợ thuyền tự đến, nhưng của cải trong nội phủ là tích lũy qua nhiều đời, mọi thứ đều là mồ hôi xương máu của dân chúng, tiêu tan dễ dàng[18], thu gom lại thì khó khăn, dù cực kỳ dồi dào, vẫn nên tiết kiệm, đây là điều bất tiện thứ hai.
Bậc thánh nhân coi trọng việc mưu tính từ đầu, người trí tuệ nhìn thấu khi sự việc chưa hình thành, họa nảy sinh từ chỗ kín đáo, nguy hiểm phát sinh từ sự an nhàn. Nay dưới cửa cung, vạn người tụ tập, khí nóng đang mạnh, lao động rất vất vả, những binh sĩ tạp dịch, phần nhiều là tiểu dân bất hảo, có kẻ chạy trốn ra ngoại thành, trộm cắp trong đô thị, chỉ cần một việc như vậy, đủ để gây lo lắng cho bậc thánh, đây là điều bất tiện thứ ba. Bậc vương giả cai trị thiên hạ, thuận theo trời đất, hành động phải tuân theo thời lệnh, sắp xếp không sai lệch với quy luật tự nhiên, không đề cao phong cách xa xỉ, không trái với trật tự âm dương. Thần xét thấy tháng tư không nên huy động đông người, không khởi công xây dựng, không chặt cây lớn. Nay khởi công xây dựng, đối mặt với khí nóng ngột ngạt, làm xáo trộn đất đai, trái với lời dạy trước.
Huống chi hạn hán đột ngột, sấm sét gió mạnh, bật gốc cây, cuốn bay ngói, khí độc lan tràn, nhà nhà gặp tai họa, chẳng phải là minh chứng rõ ràng của việc không thuận theo trời đất sao? Đây là điều bất tiện thứ tư. Thần nghe nói trong các văn bản phù mệnh, có lời răn dạy về việc thanh tịnh nuôi dưỡng dân chúng. Nay cung điện đang xây dựng[19], vốn dựa theo linh thiên, nhưng lại quá chú trọng vào việc đào bới, rộng rãi tô vẽ điêu khắc, dù đã hao tổn nhiều vật lực, nhưng e rằng chưa hợp với ý trời, đây là điều bất tiện thứ năm.
Kính mong Bệ hạ suy nghĩ về đại mưu của tổ tông, xem xét lời răn sâu xa của thánh hiền, chuyển ý nghĩ, hồi tâm trí, răn đời trước, nghĩ đến tương lai, ban chiếu cho quan coi việc xây dựng, ngừng việc lao dịch của dân chúng, giữ yên muôn loài, đối ứng với trời cao. Như thế, thì gần xa đều yên lòng, người và thần đều vui mừng[20]. Nếu nhất định muốn làm rạng rỡ điềm lành lớn, cần xây cung linh[21], thì thần dám dâng kế ngu, cũng có thể thực hiện được. Chỉ cần giảm bớt quy mô, giảm bớt chi phí, chỉ giữ sự giản dị, không cần lấy sự kỳ lạ, chỉ lấy sự thành tâm sáng suốt, lại coi trọng sự nghiêm trang thanh khiết, về danh số thì nên tăng thêm, về chi phí thực tế thì lấy tiết kiệm làm chính, để trong bốn biển đều biết ý Bệ hạ yêu quý sức dân, há chẳng tốt sao!
Xưa Thái Tông hoàng đế xây cung Thái Nhất, Thượng Thanh, cũng không làm cho quá tráng lệ. Thần cho rằng Bệ hạ nên noi theo mà làm, lấy đó làm phép tắc, để tỏ ra không dám vượt quá, thì đức khiêm nhường lớn lao sẽ rạng rỡ nghìn thu, sao lại đặc biệt muốn vượt qua chế tác của tiên đế!
Và thấy Tây Kinh xây dựng điện thờ ảnh Thái Tông, Đông Nhạc dựng cung Hội Chân, tính toán công sức, cũng đều không kém gì tài sản của trăm nhà bình dân, nhưng đối với việc tôn thờ tổ tiên và lễ thần thì thật là thịnh vượng, còn đối với đại kế của quốc gia thì vẫn chưa đủ để coi là việc cấp bách của thời đó.
Thần đoán rằng Bệ hạ nhất định cho rằng trong nước thái bình, biên cương yên ổn, dân chúng khang kiện, phong tục giàu có, thời tiết thuận hòa, mùa màng bội thu, dù có xây cung điện cũng không tổn hại gì, nhưng thần lại cho rằng không phải vậy. Hiện nay biên giới vừa mới ổn định, biên thùy còn có mối lo bị xâm phạm, dân tình tạm yên, kho lẫm không có tích trữ dư thừa.
Huống chi vùng Quan Phụ, dân lưu vong vốn đã nhiều, dân cận điện, nông tang thất vọng. Dù có lệnh cho các quan an ủi, cũng e rằng chưa khôi phục được ruộng vườn, giữa mùa thu đông, lo sợ đói kém. Vội vã kinh doanh thần quán, e rằng sẽ làm dân tình uất ức. Vả lại, những điều về sự hưng phế của cổ nhân, việc được mất của các vị Vua trước, đều ghi chép đầy đủ trong sách vở đủ để làm gương, Bệ hạ đã xem xét kỹ rồi, không cần thần nói thêm. Thử xem từ xưa các bậc quân vương sùng thượng xây dựng, ai được an toàn như những người thanh tịnh vô vi?
Mong Bệ hạ lưu tâm nghe lời, đừng bỏ qua lời thần, thì thiên hạ may mắn lắm.
Ngày nay, tuy người trên kẻ dưới đều biết đạo lý như vậy, nhưng ai nấy đều tự yêu bản thân, không dám khinh suất với mũ miện. Đến như các đại thần bên cạnh, thì lo lắng kế sách không được nghe theo, dẫn đến hối hận vì bị xa lánh; các quan chức trong ngoài, thì lo lời nói khó thông đạt, sợ gây ra tội lỗi do hành động bừa bãi. Khiến cho những mưu kế trung thành chưa được thực hiện, chính là vì lẽ này.
Chỉ có thần xuất thân từ chốn thấp hèn, gặp được thời văn minh, đặc biệt được thánh thượng biết đến, vượt xa người cùng thời, làm quan chức thị tòng, thân mặc áo mũ, hiểu sơ lược cơ hội an nguy, chưa báo đáp được ân đức, muốn hy sinh thân mình để phấn đấu, nay chính là lúc, lại đâu dám im lặng để cầu an, không vì bệ hạ mà phân tích rõ ràng? Vì vậy, thần liều lĩnh nói ra những lời ngu muội, mạo phạm đến uy nghiêm của bệ hạ, cảm xúc dâng trào trong lòng, không hề e ngại.
Bệ hạ khoan dung tội lỗi của thần, thương xót lòng thành nhỏ bé của thần, sâu sắc soi xét cổ nhân, thử xem xét lựa chọn, đừng cho rằng xây dựng một ngôi đền là việc nhỏ mà không quan tâm. Thần cho rằng việc huy động dân chúng, đặc biệt liên quan đến thời cơ, không thể không xem xét kỹ. Nên khiến cho trong làng xóm, bọn gian ác không có cơ hội mở miệng bàn tán, đó là điều thần mong mỏi, cũng là may mắn của thiên hạ.”
(Sớ của Vương Tăng trong 《Ngôn hành lục》, không rõ ngày tháng, phụ chép ở đây, cần tra cứu thêm. Sớ của Tăng có nói “công lao lớn suốt năm”, có lẽ nên phụ chép vào tháng 5 năm sau; lại nói “hạn hán”, xét thấy tháng 5 năm nay ngày Canh Thìn sai quan cầu mưa, tháng 5 năm sau ngày Tân Sửu kinh đô mưa lớn, vậy nên phụ chép vào tháng 5 năm nay là hợp lý.)
[174] Bãi bỏ việc nuôi trâu ở các trang trại quan của huyện Túc Tùng thuộc châu Thư.
[175] Cấm hoàng thân tuyển thợ làm đồ dùng xa xỉ.
[176] Ngày Mậu Tuất, quan Kiềm hạt phủ Lân châu tâu rằng, tộc Đỗ Khánh dựa vào trấn Đường Long làm viện trợ, thường quấy nhiễu các bộ khác, xin cho phủ châu xuất kỵ binh đánh úp. Vua nói: “Phiên bộ cũng là dân của ta, lấy đạo lý mà vỗ về, họ ắt sẽ nghe theo.” Đồng ý.
[177] Ra chiếu: “Từ nay, các tờ tấu của quần thần dâng lên điện, phải làm thành hai bản. Bản có thể thi hành thì một để lại trong cung, một giao cho hữu ty; bản không được chấp thuận thì đều giữ lại không trả lời.”
[178] Ngày Canh Tý, Thị ngự sử Triệu Tương từ châu Thăng trở về, tâu rằng Tri châu Hồng Mã Cảnh bị bệnh không thể đảm đương công việc; Chuyển vận sứ Lưu Chiêu tính tình nhu nhược, chậm chạp, trong bộ phận mình phụ trách nhiều châu, hơn một năm chưa từng đi tuần tra; Đô giám Trương Minh dùng hình phạt không đúng mức, thường xuyên đánh bạc. Vua xuống chiếu chọn quan thay thế Mã Cảnh và Lưu Chiêu, điều Trương Minh đến nơi khác làm việc.
[179] Thứ sử châu Hưng, Tri phủ châu Chiết Duy Xương dẫn đầu 47 người thuộc bộ tộc Ngột Nê, đứng đầu là Đại thủ lĩnh Minh Nhai đến triều kiến, dâng ngựa quý. Vua sai Trung sứ tiếp đãi, thân hành hỏi han, ban yến tiệc và ban thưởng rất hậu. Chiết Duy Xương tâu rằng tiên thần Ngự Khanh trước đây được ban 30 lá cờ để tăng thêm uy phong quân đội, xin được ban thêm. Vua đồng ý. Khi về, lại ban thêm vật phẩm từ nội phủ, sai Trung sứ tổ chức tiệc tiễn.
[180] Ngày Tân Sửu, xuống chiếu rằng từ nay những người theo hầu của Kim Ngô Nhai ty không được mượn cớ. Đây là theo lời tâu của Diêm Nhật Tân.
[181] Châu Hùng tâu rằng có sâu ăn lúa, nhưng sau đó sâu tự chết.
[182] Từ năm Cảnh Đức thứ 4, Vua không còn đi săn nữa. Ngày Nhâm Dần, xuống chiếu giữ lại khoảng mười con chim ưng và chim cắt trong Ngũ phường[22] để các vương tùy thời thực hiện lễ nghi, còn lại đều thả hết.
[183] Bãi bỏ việc châu Ung, châu Nghi hàng năm phải cống nộp tên thuốc.
[184] Ngày Quý Mão, bãi bỏ thuế tre gỗ ở châu Thăng.
[185] Xuống chiếu: “Từ nay, các quan văn võ không có công việc công thì không được vào kinh. Các cơ quan công quyền như Giám lâm quan mang theo gia quyến ở lại nơi công vụ, cho phép thân thích bạn bè đến thăm, nhưng không được cản trở công việc.”
[186] Ngày Bính Ngọ, tăng thêm số lượng tiền đúc ở hai châu Nhiêu và Trì, thưởng tiền cho thợ, châu Nhiêu mỗi năm 17 vạn, châu Trì 30 vạn.
[187] Ngày Đinh Mùi, xuống chiếu cho binh lính làm việc ở kho và trường được nghỉ ngơi, lại ban thưởng tiền.
[188] Ngày Kỷ Dậu, xuống chiếu rằng từ nay các chương sớ trong và ngoài triều không được dùng hai chữ húy cũ của Thái Tông khi còn ở phủ đệ.
[189] Trước đó, Thị lang Công bộ là Trương Bỉnh, Tri chế cáo là Chu Khởi đã trình lên danh sách những người thi đỗ trong kỳ thi “Phục cần từ học, Kinh minh hành tu”. Vua xuống chiếu cho Thị lang Công bộ là Phùng Khởi, Cấp sự trung là Tiết Ánh, Đãi chế Long đồ các là Thích Luân và Trần Bành Niên vào túc trực ở Bí các để phúc khảo và định lại kết quả.
Ngày Canh Tuất, Vua ngự đến điện Sùng Chính thân hành chủ trì kỳ thi, lại cho sao chép riêng bài thi để chấm, lấy chữ trong sách 《Ngọc Thiên》 làm ký hiệu, lần đầu tiên chia bài thi của Tiến sĩ thành năm bậc: “Thượng thứ”, “Trung thượng”, “Trung thứ”, “Hạ thượng”, “Hạ thứ”. Lấy bài thi do quan chấm và quan phúc khảo định để so sánh thứ bậc, nếu có chỗ khác nhau thì sai chấm lại. Sau khi chấm xong, lại giao cho Hữu bộc xạ là Trương Tề Hiền và các quan khác xem xét kỹ, rồi đem mười quyển điểm cao giao cho Tể tướng định lại lần nữa. Vua ban cho Tiến sĩ là Lương Cố cùng 26 người đỗ đệ, 3 người đỗ đồng xuất thân, 2 người đỗ đồng Tam lễ xuất thân, 48 người đỗ Cửu kinh, Ngũ kinh, Tam lễ, Học cứu, Minh pháp, và 6 người đỗ đồng xuất thân. Những người đỗ từ thứ năm trở lên được bổ nhiệm chức quan, giống như khoa thi năm trước; những người còn lại được bổ làm Thí hàm Tri huyện, Phán ty, Bạ uý.
Lương Cố là con của Lương Hạo, ban đầu nhờ ấm phong của cha mà được làm Tiến sĩ xuất thân. Sau khi mãn tang, ông đến Đăng văn viện xin từ chối ân điển trước, nguyện đi thi Hương cống, Vua đồng ý.
[190] Khi mới chọn đất xây cung Chiêu Ứng, chỉ đến hết khu vực Nội điện Trực ban viện. Đinh Vị và các quan xin mở rộng thêm, tổng cộng chiều đông tây 310 bước, nam bắc 430 bước. Đất ở đây phần lớn là đất đen xốp, không tốt, nên phải lấy đất tốt từ phía bắc thành Đông Kinh để thay thế, độ dày từ 3 thước đến 1 trượng 6 thước không đều, mỗi ngày huy động hàng vạn nhân công. Vua thấy đường xa, thương xót sự vất vả của dân khiêng vác, bèn sai Đinh Vị và các quan bàn tính. Có người đề nghị dùng lạc đà và xe lừa chở, có người đề nghị dùng thuyền từ hào phía bắc Tân thành chở theo sông Quảng Tế vào Cựu thành, có thể đến thẳng cửa cung. Đinh Vị và các quan xin dùng xe chở là tiện.
Vua nói: “Kéo thuyền chỉ cần 1.000 người, so với khiêng đất, giảm được 10 phần sức lực, mà đất lại chở được nhanh, dùng thuyền là tiện.” Ngày Nhâm Tý, xuống chiếu cho Tam ty cấp thuyền không cho cung Chiêu Ứng chở đất, đồng thời nạo vét kênh rạch.
[191] Tăng cấp tiền trang bị, lương thực và ban áo quần cho quân sĩ các châu đi đẵn gỗ làm bè. Miễn thuế thương nhân mua gỗ của quan trên đường vận chuyển; nếu quan thu mua thì phải trả tiền ngay, không được ép bán. Kẻ nào vi phạm, lệnh cho Phát vận ty xét xử và tâu lên.
[192] Chiếu rằng: “Các châu quân ở Quảng Nam, Phúc Kiến lộ, từ chức Quân sứ trở xuống trong quân Cấm quân phạm tội, nếu tội đồ trở xuống thì giam giữ, tâu xin xử lý; tội trượng trở xuống thì trình bày rõ nguyên do phạm tội lên Ty Đề điểm hình ngục của bản lộ, giao cho xem xét kỹ hành vi phạm tội, căn cứ theo pháp luật để quyết định hình phạt. Dù là tội trượng nhưng tình tiết nặng, cũng phải trình bày đầy đủ tình tiết để tâu lên.” Trước đó, Hình bộ lang trung là Dương Đàm tâu rằng các quân hiệu đóng quân ở châu ngoài phạm tội không đến mức tử hình, xin cho nơi đó xử lý. Pháp tự bàn theo lời thỉnh cầu, Vua nói: “Quân đóng giữ có nhiều quân thượng, nếu các hiệu phạm tội mà châu quận xử lý thì không tiện.” Vì thế mới định ra chế độ này.
[193] Vua nói với Tri Xu mật viện Vương Khâm Nhược rằng: “Việc luyện tập cường tráng ở Hà Bắc, từ khi biên giới phía bắc ngừng chiến, liền lệnh cho các châu theo lệ thường luyện tập vào lúc nông nhàn, là vì không quên việc binh đao mà khiến họ tập luyện thành thói quen. Nếu bỏ rồi lại làm, Khiết Đan ắt sinh nghi ngờ. Hôm qua thấy châu Triệu tâu xưng theo lệnh tuyên chỉ luyện tập, có thể bí mật truyền đạt ý này, và hỏi rõ lý do không tuân chiếu.”
- Chữ 'tăng' trong câu 'Thử hoa cựu đa tiễn tăng thái vi chi' vốn bị khuyết, nay căn cứ theo bản Tống, bản Tống Toát Yếu và Tống Hội Yếu phần Hình pháp 2/9 để bổ sung. ↵
- Chữ 'điển' trong câu 'Bất đắc lệnh nguyên suy điển chi ứng' vốn viết là 'khúc', nay căn cứ theo các bản khác để sửa lại. ↵
- 'Thành' nguyên là 'Giới', căn cứ theo các bản và 《Trường biên kỷ sự bản mạt》 quyển 17 'Phong Thái Sơn', 《Tục thông giám》 quyển 28 sửa lại. ↵
- 'Đồng thời' nguyên văn là 'nãi', theo bản trong các sách sửa lại. ↵
- Chữ 'điện đầu' dưới 'nội thị' vốn bị thiếu, theo bản Tống, bản tóm tắt Tống và《Tống hội yếu》chức quan 36-5, 《Tống sử toàn văn》quyển 6 bổ sung. ↵
- Chữ 'vi nội thị cao phẩm' vốn bị thiếu, theo sách trên bổ sung. ↵
- Chữ 'hiền' nguyên có ở dưới chữ 'tập', theo 《Tống hội yếu》 binh 1-2 mà bỏ ↵
- 'Kim Tiên Ngọc Chân' nguyên là 'Kim Chân Ngọc Tiên', theo 《Cựu Đường thư》 quyển 7 Duệ Tông kỷ, 《Tân Đường thư》 quyển 5 Duệ Tông kỷ, quyển 83 Kim Tiên công chúa, Ngọc Chân công chúa truyện, 《Tư trị thông giám》 quyển 210, Cảnh Vân năm thứ 2 tháng 5 ngày Tân Dậu mà sửa lại ↵
- 'Không đúng' nguyên văn là 'kỳ', căn cứ vào bản Tống, bản Tống Toát Yếu, bản các và 《Tục Thông Giám》 quyển 28 sửa lại. ↵
- 'Giao cho Lại bộ bổ nhiệm làm chức Bạ, Úy' nguyên văn là 'chủ', căn cứ vào 《Tục Thông Giám》 quyển 6 sửa lại. ↵
- Trước đây chỉ có chiếu chỉ cho Khai Phong phủ và các châu quân đi qua, chữ 'kịp' nguyên là 'tự', theo các bản khác sửa lại. ↵
- Bèn lấy sách chiêm nghiệm ra cho Vương Đán xem, chữ 'Nhân' nguyên là 'Lệnh', chữ 'Chiêm' nguyên là 'Cổ', theo bản Tống và bản Tóm tắt đời Tống mà sửa. ↵
- 'Tài dụng' nguyên là 'Tài lực', theo bản Tống, bản Tống toát yếu và 《Tống sử toàn văn》 quyển 6 sửa lại. ↵
- 'Triệu' nguyên là 'Chiếu', theo bản Tống, bản Tống toát yếu và 《Tống sử toàn văn》 sửa lại. ↵
- Chiếu cho quan trưởng lại ở Duyện Châu, chữ 'trưởng' nguyên bản là 'dân', theo bản trong các sách và 《Trường Biên Kỷ Sự Bản Mạt》 quyển 17 về việc phong Thái Sơn mà sửa. ↵
- Không muốn để giá trị bị chậm trễ, chữ 'trệ' nguyên là 'lưu', theo bản Tống, bản Tống toát yếu và Tống hội yếu thực hóa 55-16 sửa lại ↵
- Việc bắt 13 người [Khuyển Yêu] Lão dâng lên, chữ '[Khuyển Yêu] Lão' cũng thấy trong quyển 83, tháng 12 ngày Mậu Ngọ năm Đại Trung Tường Phù thứ 7. 《Tống hội yếu》 phần Phiên Di 4 tờ 28 và 31 chép là 'Ngân lão', 《Tống sử》 quyển 488, truyện Giao Chỉ chép là 'Địch lão'. ↵
- tiêu tan dễ dàng 'dễ' nguyên tác 'sợ', căn cứ theo 《Tống văn giám》 và 《Trường biên kỷ sự bản mạt》 quyển 18 về việc xây dựng cung Ngọc Thanh Chiêu Ứng sửa lại. ↵
- Nay cung điện đang xây dựng 'các' nguyên tác 'khuyết', căn cứ theo bản Tống, bản tóm tắt Tống, bản các và 《Tống văn giám》, 《Trường biên kỷ sự bản mạt》 sửa lại. ↵
- 'người' nguyên là 'thần', theo bản Tống, bản Tống toát yếu và 《Tống văn giám》 dẫn trên mà sửa ↵
- Câu 'cần xây cung linh' này, bản Tống, bản Tống toát yếu và 《Tống văn giám》, 《Trường biên kỷ sự bản mạt》 quyển 18 chép việc xây cung Ngọc Thanh Chiêu Ứng đều có thêm 8 chữ: 'sắp xong cùng nhau vất vả, mới có thành tích'. ↵
- Ngũ phường ưng cốt: chữ 'phường' nguyên bản là 'phương', căn cứ theo Tống bản, Tống toát yếu bản và 《Thập triều cương yếu》 quyển 3, 《Tống sử》 quyển 7 Chân Tông kỷ sửa lại. ↵