III. TỐNG CHÂN TÔNG
QUYỂN 72: NĂM ĐẠI TRUNG TƯỜNG PHÙ THỨ 2 (KỶ DẬU, 1009)
Từ tháng 7 năm Đại Trung Tường Phù thứ 2 đời Chân Tông đến hết tháng 12 cùng năm.
[1] Mùa thu, tháng 7, ngày Giáp Dần, mùng một, Vua xuống chiếu cho Hữu bộc xạ Trương Tề Hiền, Hộ bộ thượng thư Ôn Trọng Thư, Hữu thừa Hướng Mẫn Trung, Ngự sử trung thừa Vương Tự Tông, Tri tạp ngự sử Lư Diễm, mỗi người tiến cử một người có tài năng xứng đáng làm Ngự sử.
[2] Nội Đông Môn ty tâu rằng: “Các mệnh phụ trong hoàng thân được phép vào cung yết kiến, trước đây chưa từng tâu trước, đều không đợi báo mà vào, cơ quan hữu trách không có cách nào tra hỏi. Mong rằng từ nay trở đi, tất cả đều phải tâu trước một ngày và đợi báo.” Vua xuống chiếu rằng: “Trưởng công chúa không cần đợi báo, còn lại theo như lời tâu.”
[3] Trước đó, Khai Phong phủ bắt giam tiến sĩ Liêu Phù, trói gông giữa sân, phơi nắng làm lưng nứt nẻ, tra hỏi nhưng không có tội trạng. Vua cho rằng trong tháng nắng nóng, tội chưa rõ ràng mà đã phải chịu hình phạt tàn khốc, thật đáng thương xót. Ngày Đinh Tỵ, đặc biệt lập ra ty Củ sát tại kinh hình ngục, sai Kim bộ viên ngoại lang Tri chế cáo Chu Khởi, Thị ngự sử Triệu Tương đứng đầu. Tất cả các nơi có hình ngục tại Ngự sử đài, Khai Phong phủ và trong kinh, phạm tội đồ trở lên, phải lập tức báo cáo việc bắt giam. Nếu có việc chưa xử lý xong hoặc bị trì hoãn, phải lấy lời khai để bác tấu. Nếu bỏ bê chức trách, dẫn đến oan sai, khi sự việc bị phát giác, sẽ bị trừng phạt nặng.
[4] Tam ty xin xuất 1 vạn tấm lụa từ kho nội phủ để hỗ trợ kinh phí, Vua đồng ý.
[5] Thị Kỳ Húc đến Lô Châu, người Di liền đến nhận tội, giết súc vật để thề. Húc đi kiểm tra giếng muối, người Di lại chống cự. Húc dẫn hơn trăm quân bộ thuộc, bắt sống ba thủ lĩnh của họ, chém vài chục đầu, nhưng bộ hạ bị thương gần hai mươi người. Húc bèn đến Lê Châu, báo việc này lên. Lúc đó, người Di ở Lê Châu là Đẩu Bà Hành cũng nhiều lần ra cướp phá[1]. Vua cho rằng Húc khinh địch nên bị nhục, ngày Kỷ Mùi, hạ chiếu dụ Húc, lệnh phải giữ vững ân tín, thiết lập phương lược để chế ngự, không nên chủ trương đánh dẹp, để tránh gây kinh động.
(《Thực lục》 chép: Húc đi kiểm tra giếng muối, bộ hạ bị thương, bèn trở về Lê Châu. Xét Húc nhận chiếu chiêu phủ người Di ở Nhung, Lô, ban đầu không liên quan đến Lê Châu, không rõ vì sao lại đến Lê Châu, mà 《Thực lục》 lại chép là “trở về”. Lê Châu và người Di ở Nhung, Lô vốn thông nhau, nhưng đường đi cũng khá xa. Sau đó, sai tướng xuất binh, lại lấy danh nghĩa Tuần kiểm Lê, Nhã, nhưng việc đánh dẹp thì phần nhiều ở biên giới Nhung, Lô, không rõ vì sao? Căn cứ theo bản truyện của Húc, chép rằng người Di Đẩu Bà Hành ra cướp Lê Châu, Vua sai Húc dẫn quân đánh dẹp. Nhưng không chép việc trị tội Giang An, giết Nhâm Trại, không hợp với 《Thực lục》, 《Hội yếu》 và chính sử, nghi ngờ rằng ở Lô Châu và Lê Châu đều có người Di làm loạn, nhưng chính sử, Thực lục, hội yếu chép sơ lược. Nay tạm theo bản truyện của Húc mà sửa chữa, cần phải khảo cứu thêm.)
[6] Cáp môn chi hậu Lô Giám tâu rằng, trước đây khi ông làm Tri châu Nghi, có quân sĩ đào ngũ chạy sang đất Thổ Phồn, những người tự thú đều được giảm tội, đến nỗi có kẻ lại đào ngũ lần nữa, đó là do hình phạt quá nhẹ, xin từ nay đều xử trảm. Vua nói: “Tự thú mà lại giết, thì khiến người ta không có đường tự đổi mới.” Bèn hạ chiếu rằng từ nay quân sĩ các châu biên giới đào ngũ sang Thổ Phồn mà tự thú, đều bị trói giải về kinh. Sau đó, Pháp tự định ra chế độ, xin xử trảm, vợ con được miễn liên đới tội, kẻ tình tiết nặng thì xử theo luật.
[7] Năm Hàm Bình nguyên niên, Lô Giám làm Thừa thụ lộ Phu Diên, Lý Kế Thiên tung tin rằng trước trướng của hắn có viên đá rơi xuống, trên có chữ “Trời răn ngươi chớ làm họa cho Trung Quốc”, Lô Giám vào tâu việc này, và nói rằng giặc giả tạo chuyện này để làm nghi ngờ triều đình, nên chuẩn bị phòng bị kỹ để đối phó. Không lâu sau, châu Linh thất thủ. Vua nhớ lời ông, bèn thăng làm Tri châu Nghi.
Kẻ do thám báo rằng Lý Kế Thiên sẽ từ cửa ải Chế Thắng đại quân xâm lược, Vua hạ chiếu dời người già trẻ và lương thảo vào nội địa, Lô Giám tâu rằng làm vậy sẽ làm dao động lòng dân, lại tỏ ra yếu thế, không nên dời. Sau đó giặc cũng không đến.
Lô Giám là người Kim Lăng.
[8] Bãi bỏ việc mua gỗ ở châu Thọ, vì làm khổ dân.
[9] Ngày Tân Dậu, hạ chiếu rằng quân cấm vệ phục dịch ở cung Chiêu Ứng từ nay mỗi tháng thay phiên, quân sương và mùa đông đều được nghỉ ngơi. Trước đây, quân cấm vệ mỗi quý thay phiên một lần, Vua muốn chia đều ban thưởng, nên có lệnh này.
[10] Đổi cung Vạn An trở lại tên là điện Tư Phúc.
[11] Hạ chiếu rằng các ty Quần mục ở kinh đô và các phường ngoại, từ nay nếu số gia súc sinh sản đạt năm phần, số chết mất không quá một phần, thì sứ thần và quân hiệu được ban thưởng khí tệ, nếu sinh sản không đủ số mà chết mất quá phần, thì bị xử tội theo cấp bậc. Đây là theo lời xin của Chế trí sứ.
[12] Trước đó, có chiếu giảm bớt 9 chỉ huy quân trú đóng ở Phu Diên lộ về doanh. Ngày Ất Sửu, các quan Kiềm hạt Lý Kế Xương tâu rằng việc phòng bị biên giới đã chuẩn bị sẵn, mong được cho giữ như cũ. Vua cho rằng các bộ lạc đã yên ổn[2], hy vọng giảm bớt gánh nặng vận chuyển, nên không đồng ý.
(Sách 《Thực lục》 vào tháng 7 năm sau, ngày Ất Mùi lại chép việc này, lời Vua có hơi khác, nhưng sự việc thì không khác, có lẽ là chép trùng.)
[13] Ngày Đinh Mão, Thái thường Lễ viện tâu: “Theo chiếu, xin xét định việc tâu của Thông phán Châu Châu Thạch Trung Phu về khí cụ và phục sức dùng trong lễ tế Xã Tắc và Huyền Thánh Văn Tuyên Vương ở các châu huyện. Nay xét lại điển lễ, các châu huyện tế Xã Tắc và Thích Điện, tuy có ghi việc quan tế mặc áo tế và làm lễ tam hiến, nhưng vì dùng 8 bàn và 8 đậu, lễ nghi giống như các tiểu từ ở kinh đô, nên xin các quan hiến ở châu huyện chỉ mặc áo công mà hành lễ.” Vua đồng ý.
[14] Ngày Canh Ngọ, ra chiếu cho các quan Đề điểm huyện trấn ở phủ Khai Phong xem xét và cử các quan xử án ở các huyện.
[15] Vua bảo các tể thần: “Các quan kinh triều và chư ty sứ phó tướng sắp đi nhậm chức ngoài, ai được vào chầu, Trẫm đều dặn dò việc cần làm, mong họ hoàn thành chức trách; còn những người không vào chầu, từ nay nên viết lời răn dạy, in ra ban cho họ.” Tri Xu mật viện Trần Nghiêu Tẩu tâu: “Các quan Mạc chức và châu huyện cũng mong được răn dạy.” Vua đồng ý. Vua nói: “Tiên triều từng ban thiên 《Nho Hạnh》 cho các thần, nay cũng nên ban lại.”
(Sách 《Hội yếu》 chép việc ngày 17 tháng 7. Ngày 17 là ngày Canh Ngọ.)
[16] Ngày Tân Mùi, đổi tên cung Chiêu Ứng thành Ngọc Thanh Chiêu Ứng cung.
[17] Lần đầu lập Dưỡng bệnh viện.
[18] Vua cho rằng người phạm tội trong cung cấm, xưa có ngục Dịch Đình để xử, nay không muốn đặt trong cung, bèn dùng nhà quan trong cửa Thông Viễn để làm nơi đó.
[19] Người dâng thư tâu rằng các châu huyện cầu tạ mưa tuyết thường nhân đó thu góp. Ngày Quý Dậu, ra chiếu từ nay những lễ vật cần dùng đều do quan cấp.
[20] Ngày Ất Hợi, bảy châu Từ, Tế, Truy, Thanh, Duyễn ở kinh đông bị lụt, Vua xuống chiếu sai sứ đi ngựa trạm đến xem xét, đồng thời lệnh cho chuyển vận sứ và đề điểm hình ngục quan của bản lộ chia đường kiểm tra việc đắp đê ngăn nước, ruộng bị hại đều được miễn thuế.
[21] Ngày Mậu Dần, Vua xuống chiếu phong tước Bá cho 19 vị tiên nho được phối hưởng tại miếu Huyền Thánh Văn Tuyên Vương, gồm Tả Khâu Minh sử nước Lỗ, tặng Lan Đình hầu Vương Túc chức Tư không, Đương Dương hầu Đỗ Dự chức Tư đồ, sai các quan cận thần soạn lời tán.
[22] Đổi tên Nội y khố thành Thượng y khố.
[23] Thẩm hình viện và Đại Lý tự dâng lên điều lệ về việc đánh trượng và chuộc tội bằng tiền. Trước đây, phạm tội từ gia dịch lưu trở xuống, nếu một tội đã phát hiện trước và bị xử phạt, các tội khác phát hiện sau sẽ tính cả số trượng trước để xử. Vua cho rằng việc này khiến dân thường bị đánh nhiều lần, không phù hợp với ý nghĩa thương xót, nên xuống chiếu định lại chế độ, chỉ chuộc tội bằng tiền để đủ số tiền còn thiếu, nếu tình tiết hung ác thì mới đánh trượng lại.
[24] Ngày Canh Thìn, Thị ngự sử Triệu Tương, Từ bộ lang trung kiêm phán Tam ty đô thôi khiếm ty Bành Duy Tiết dâng lên danh sách các khoản nợ đọng trong thiên hạ trước lễ phong thiền, tổng cộng 1.260.700 quan, đều được xóa bỏ.
[25] Ngày Tân Tỵ, cấm dân các châu Hà Bắc bỏ nghề nông để học các kỹ thuật cấm chú, đấu kiếm, đánh gậy.
[26] Dân Quang Hóa quân là Tào Hưng làm giặc, sắp bị hành hình thì kêu oan, quân sai Huyện úy xét lại. Hình bộ tâu rằng Huyện úy vốn là người bắt giặc, nay lại sai xét án, e rằng họ sẽ tránh tội bắt oan dân lành, dẫn đến oan sai. Vua bèn xuống chiếu: “Từ nay, các án tử hình đã xong, nếu kẻ bị xử kêu oan, đều giao cho quan không liên quan xét lại. Nếu thiếu quan, báo ngay cho chuyển vận sứ và đề điểm hình ngục sứ, cử quan ở châu lân cận đến xét.”
[27] Ngày Nhâm Ngọ, lệnh châu Duyễn cử 100 lính đóng ở huyện Phụng Phù để phòng giặc.
[28] Vua xuống chiếu: “Nội thị tuyên ban có người đưa tiền, nên để bản tỉnh định số tiền, không được quá mức.” Lúc đó, có quân hiệu chết, được ban 50 quan tiền; gia đình đưa 10 quan cho sứ thần, có người dâng sớ nói việc này, nên Vua ra lệnh quy định.
[29] Tháng 8, ngày Quý Mùi mùng một, lấy Từ bộ viên ngoại lang, Trực tập hiền viện, chủ phán Tam ty Khai sách ty Mai Tuân làm Tri châu Hào, Độ chi phán quan, Thái thường bác sĩ Hoàng Tông Đán làm Tri châu Cù. Tuân và Tông Đán ở Kế tỉnh không thể giữ mình cẩn trọng, nên bị điều đi.
(Hoàng Tông Đán, chưa rõ quê quán. Theo bản truyện của Mai Tuân, việc bị điều đi là do bàn luận về thiên thư. Không rõ Tông Đán bị điều đi vì lý do gì, tạm dùng theo sách 《Thực lục》, cần xem xét kỹ để sửa lại. 《Thực lục》 có lẽ đã giấu việc này.)
[30] Ra chiếu cho các quan Củ sát được cấp ăn theo lệ của Thẩm quan viện.
[31] Ngày Bính Tuất, ra chiếu cho các châu Vận, Truy, Tế, v.v., dân tránh lũ qua các bến đò không phải nộp thuế, lại lệnh cho các nơi dùng thuyền quan giúp đỡ họ.
[32] Trước đó, các Giám ở Hà Bắc tâu rằng đất cỏ ở Hình, Triệu rất rộng, xin đặt Giám ở Hình châu. Quần mục chế trí sứ sai Phán quan đi khảo sát ruộng bỏ hoang, thu được hơn một vạn khoảnh, có thể nuôi được một vạn con ngựa, lại tâu rằng Hình châu cách kinh đô hơi xa, xin đặt Đại danh đệ tam Giám ở Minh châu. Được chấp thuận.
[33] Đô giám Hầu Diên Thưởng ở Hiệp lộ bị bệnh, Vua thấy giặc Man chưa yên, phát binh đi chiêu dụ ngăn chặn, lo ngại dân Di ở Thi, Kiềm, Quỳ, Hiệp bị quấy nhiễu sợ hãi, ngày Mậu Tý, sai Cáp môn chi hậu Khang Huấn cùng quản câu Hiệp lộ trú bạc công sự, đi vỗ về an ủi họ. (Khang Huấn, chưa rõ quê quán.) Chuyển vận sứ tiến cử Thị cấm Trương Minh, xin cho thay Diên Thưởng. Vua nói: “Đinh Vị từng ở Quỳ, Hiệp, nên hỏi lại xem ý kiến của Vị thế nào, nếu bổ nhiệm thì thăng chức rồi sai đi.” Nhân đó nói: “Ở biên thành cần người am hiểu địa hình đường sá, tình hình dân chúng, nếu chỉ có tài mà không quen việc, cũng khó trách họ làm tốt được.” Mã Tri Tiết nói: “Việc trấn thủ vùng xa càng cần chọn lựa kỹ, nhưng trong số cận thần chưa biết ai là người thích hợp.” Vua nói: “Trẫm cũng chưa biết, đã có người tiến cử, thì có thể dùng được.”
(Việc này theo 《Bảo huấn》 ghi chép thêm. Không rõ Trương Minh có được dùng hay không, cần xem xét. Tháng 10 năm đó, Đô giám Trương Minh ở Hồng châu đổi làm Ly vụ, chắc là một Trương Minh khác.)
[34] Ngày Kỷ Sửu, ra lệnh cho Hồ Nam điều động vài nghìn quân lính đồn trú ở núi Động Đình. Ban đầu, Vua đưa bản đồ núi cho các quan đại thần xem và nói: “Núi này nằm giữa nước, bốn mặt cách bờ hơn mười dặm, nghe nói những năm mất mùa, bọn cướp đoạt thường trốn tránh ở đó.” Vì vậy, Vua ra lệnh cho quân lính tuần tra canh gác.
[35] Ngày Canh Dần, Viện Thẩm hình tâu lên việc xét xử của Pháp tự: Huyện úy Hạ là An Khởi bắt ba người dân cho là kẻ trộm, sai công nhân tra tấn hàng trăm lần, dùng hình phạt phi lý, làm gãy xương mắt cá chân của họ, mà huyện lệnh không biết; những người bị thương, cơ quan chủ quản làm giả tờ khai của họ, nói rằng xương mắt cá chân bị gãy là do cha anh đánh đập, không phải do quan phủ. Pháp tự xử tội công của huyện lệnh và huyện úy, lấy cơ quan chủ quản và công nhân làm thủ phạm chính. Vua sai Tri viện sự Lưu Quốc Trung đọc lại vụ án, Vua nói: “Việc tra tấn trực tiếp, há chỉ do công nhân sao?” Quốc Trung bèn nói nên xử tội tư, nên cách chức hai quan, rồi lạy tạ chờ tội, Vua xuống chiếu tha cho.
Vua từng bàn việc chọn quan làm Tri viện Thẩm hình, nói với tể tướng rằng: “Phải là người am hiểu pháp luật.” Vương Đán nói: “Nay các quan pháp luật tâu lên việc xét xử án kiện[3], thì Đại Lý tự có Pháp trực, Tường đoạn, Thẩm hình lại đặt quan Tường nghị phụ trách việc đó, người làm Tri viện chỉ cần thông hiểu sự lý, xét kỹ tình hình, không cần phải thông thạo pháp luật.” Vua cho là phải.
[36] Cấp cho Đại Lý tự tiền công dụng mỗi tháng hai trăm ba mươi quan, trước đây cấp trà thì bãi bỏ.
[37] Xuống chiếu cho các ty Thị bạc ở Hàng Châu, Minh Châu, Quảng Châu, từ nay các thương nhân nước ngoài mang đồng thau đến, quan phủ thu mua, mỗi cân trả năm trăm đồng. Vì mới đặt ra lệnh cấm, Tam ty định giá mỗi cân chỉ hai trăm đồng, Vua đặc cách tăng thêm.
[38] Bí thư thừa Đổng Ôn tâu: “Nhà Hán lấy núi Hoắc làm Nam Nhạc, xin cho quan trưởng châu Thọ mùa xuân và mùa thu đến tế lễ.” Vua xuống chiếu cho quan Lễ bộ cùng Viện Sùng Văn xem xét và định rõ.
Các quan tâu: “Xét sách 《Nhĩ Nhã》 nói ‘Giang Nam, Hoành’, chú thích ‘Hoành Sơn, Nam Nhạc’. Lại nói ‘Hoắc Sơn là Nam Nhạc’, chú thích ‘tức là núi Thiên Trụ, sông Tiềm chảy ra từ đây’. Như vậy không chỉ Hoắc Sơn là Nam Nhạc, Vua Thuấn tháng năm tuần du phương nam, chế độ nhà Chu, đều lấy Hoành Sơn làm Nam Nhạc. Chỉ có Hán Vũ Đế vì Hoành Sơn xa xôi, nghe theo lời sấm vĩ mà tế lễ ở Tiềm, Hoắc, đến đời Tùy lại lấy Hoành Sơn làm Nam Nhạc. Huống chi việc thờ cúng đã lâu, cương vực nước ta rộng lớn, khó thay đổi chế độ. Nếu ở Hoắc Sơn có cầu đảo hoặc tế lễ đặc biệt, thì giao cho châu huyện thi hành.” Vua nghe theo.
[39] Ngày Quý Tỵ, Vua xuống chiếu rằng từ nay các vật dụng cần thiết của cung Động Chân và các phủ công chúa, được tùy tiện mua bán, lệnh cho Tạp Mãi Vụ cung ứng. Bấy giờ, gia đồng của Phò mã Đô úy Sài Tông Khánh từ châu ngoài chở than vào kinh thành, đi qua các nơi đều được miễn thuế, đến nơi thì bán hết để kiếm lợi, lại mua ở Tạp Mãi Vụ, gia đồng tranh nhau xin xỏ. Vua nói: “Tông Khánh không biết trị nhà, buông thả kẻ dưới, thật đáng xấu hổ.” Bèn thêm điều ước quy định.
[40] Một người thiếp của Vua là Đỗ thị xuất gia ở cung Động Chân, muốn được đối xử như các công chúa. Đỗ thị là cháu gái của Chiêu Hiến Hoàng hậu. Vua cấm dùng vàng rất nghiêm, khi từ Đông Phong trở về, Đỗ thị mặc áo vàng ra đón xa giá, Vua thấy thế nổi giận, bèn bắt xuất gia làm đạo sĩ. Từ đó, thiên hạ không ai dám phạm lệnh cấm.
(Sự tích Đỗ thị xuất gia, quốc sử không chép, nay căn cứ sách 《Tạp Chí》 của Giang Hưu Phục mà chép vào. Giang nói là cung Thái Hòa, là sai.)
[41] Ngày Giáp Ngọ, nước tích tụ ở phía tây kinh thành làm hư hại ruộng dân, sai trung sứ cùng Cáp môn chỉ hậu Khang Tông Nguyên dẫn người đào dẫn nước. Tông Nguyên và những người khác nhân đó xin đại tu đê điều, Vua nói: “Chỗ đất ẩm thấp, làm sao thi công được, hơn nữa đê điều chật hẹp, nếu vỡ thì hư hại tất nhiều, huống chi nước mùa thu đã rút, nên đợi đến mùa xuân năm sau tu sửa. Hãy sớm lên kế hoạch, vẽ đồ án trình lên.”
(Khang Tông Nguyên, chưa thấy.)
[42] Ngày Ất Mùi, sai sứ thần đốc thúc Kinh Đông lộ đào dẫn nước tích tụ.
[43] Tri tạp ngự sử Triệu Tương tâu: “Thần nghe rằng giữa Vua tôi, lễ nghĩa phải được thực hiện; nghi thức triều đình, tiến lui phải có chừng mực. Vì vậy, khi trời sáng thì tất cả vào triều, hoặc giả ngủ để đợi thời. Nếu không chăm chỉ dậy sớm, sao có thể hết lòng không lười biếng? Huống chi còn giả vờ ốm, đó là sự khinh nhờn triều đình, nếu không có quy định kiểm tra, ai sẽ chịu trách nhiệm về việc quan lại bỏ trống? Thần thấy rằng các quan văn võ thường tham triều mỗi ngày đều sớm đến Đãi lậu viện, đợi mở cửa nội rồi cùng vào. Nay từ khi lệnh triều ban ra vào giờ Thìn, nên nhiều người đến muộn, mong cho phép hai viên quan coi việc triều ban thường trực ở cửa chính nha để giám sát, ai vào muộn thì ghi tên tâu lên. Lại nữa, khi gió mưa nóng lạnh hơi nhiều, thì nhiều người giả ốm xin nghỉ, mong giao cho Ngự sử đài xem xét tâu lên, sai quan đến khám, nếu rõ ràng là giả dối, thì tâu lên để xử lý.” Vua nghe theo.
[44] Ngày Bính Thân, xuống chiếu khen ngợi những người được biểu dương ở cổng làng, từ nay ngoài hai thứ thuế thì miễn các loại tạp dịch khác.
(Xét rằng người được biểu dương từ triều trước đã được miễn các dịch vụ khác ngoài hai thứ thuế, không rõ vì sao nay mới có chiếu này, cần xem xét thêm.)
[45] Hạ lệnh cho châu Thiền không được cấm trâu qua sông. Trước đó, Vua nói với Vương Đán rằng: “Nghe nói ở Hà Bắc có dịch bệnh trâu, ở Kinh Đông có người đem trâu cày đi buôn bán, quan lại ở bến sông châu Thiền ngăn cản, việc này rất bất tiện, nên bảo Chu Oánh để họ tự do đi lại.” Nhân đó nói: “Nơi nào nước lụt tràn đến, mùa màng đã bị thiệt hại. Nếu nước rút sớm, còn có thể trồng lúa mạch. Nếu lụt kéo dài đến tháng chín mới rút, dù có gieo trồng nhiều, đất cũng không thể canh tác được.” Vương Đán nói: “Nơi nước sông chảy qua, gọi là đất bồi, trở thành đất màu mỡ.” Vua nói: “Nếu chiếm đất lâu ngày, cũng không thể canh tác được, đó là lời của người nông dân già.”
[46] Ngày Đinh Dậu, Thị lang Lại bộ Triệu Xương Ngôn mất.
[47] Ngày Mậu Tuất, châu Ích tâu rằng người Man ở châu Lê đã được chiêu an, nhưng vẫn còn những kẻ chưa yên ổn, xin chọn sứ thần đến vỗ về. Vua hạ chiếu cho Chuyển vận sứ lộ Tử Châu là Đằng Thiệp và Thị Kì Húc, nếu Tôn Chính Từ chưa đến, cứ theo chiếu cũ mà an phủ, giữ quân không ra ngoài, đợi Chính Từ đến nơi, tùy nghi hành sự.
[48] Thời Nam Đường niên hiệu Bảo Đại, phong thần Tam Thủy Phủ làm vương. Ngày Kỷ Hợi, Vua hạ chiếu ban thêm tôn hiệu mới, lệnh cho các châu Giang, Thái Bình, Nhuận cử quan đến tế cáo[4].
[49] Hạ chiếu cho các quan lại ở các châu quân biên giới Hà Bắc không được đối xử bất lễ. Lúc đó, các thành biên giới vì sứ Khiết Đan đến triều cống, thường tập luyện nhạc bộ để chuẩn bị yến tiệc, sau đó dạy quan lại làm trò hề, thậm chí có kẻ dùng lời lẽ thô tục chế giễu tướng sĩ, khiến người ta không chịu nổi. Vua cho rằng đó không phải là cách trị dưới, nên ra lệnh cấm.
[50] Ích châu tâu rằng người man ở Cung Bộ Xuyên giết 18 người man Bảo Tắc bán ngựa, liền chuyển công văn đến Lê Châu, nhận được báo cáo rằng Cung Bộ Xuyên và Lưỡng Lâm ở sau núi vốn có thù hận, việc giết người man Bảo Tắc là do người man ngoài sông Đại Độ. Nhân đó ban chiếu răn dạy, không được xâm phạm lẫn nhau. Lại ban chiếu cho quan biên giới không được tùy tiện vào hang động[5], để cầu công gây sự.
[51] Ngày Tân Sửu, lệnh cho Lý Sĩ Long, chuyển vận sứ Thiểm Tây, tạm quản lý công việc ở lộ Tử Châu. Lúc đó, Đằng Thiệp, chuyển vận sứ của lộ này, đến Lê Châu bị bệnh, Sĩ Long vận chuyển lương thực đến đó, nên được lệnh này.
[52] Ngày Quý Mão, phong Hoàng đệ bát muội là Trần Quốc Trưởng Công Chúa làm Ngô Quốc Trưởng Công Chúa, xuất gia hiệu là Báo Từ Chính Giác Đại Sư, ban tên là Thanh Dụ, nơi ở gọi là viện Sùng Chân Tư Thánh. Trước đó, Vua nói với Vương Đán rằng: “Trưởng Công Chúa được ban hiệu sư, có nên ban chiếu không?” Vương Đán đáp: “Theo điển lễ, không có.” Vua nói: “Nên tiến phong đại quốc, nhân đó ban chiếu.” Vương Đán nói: “Như vậy thì được.” Công chúa vào viện đã có ngày, Vua triệu đến dạy bảo, lại lo lâu ngày sẽ quên, bèn ghi chép đại lược để ban cho. Sau đó, đưa cho Vương Đán xem và nói: “Các muội xuất giá, Trẫm chỉ dạy đạo làm vợ phải cung thuận mà thôi. Ngô Quốc nay tự chủ việc viện, không thể không uốn nắn phòng ngừa.” Lại ban chiếu cho viện Sùng Chân Tư Thánh từ nay mua vật ở tạp mãi vụ phải báo số lượng, để tránh làm phiền người.
(Việc mua vật báo số lượng vào ngày Bính Dần tháng 9, nay ghi chung.)
[53] Ngày Giáp Thìn, Long Hán Sài, Vua Tây Nam Phiên, sai sứ đến cống phương vật, chúc mừng việc đông phong. Ban chiếu phong Long Hán Sài làm Ninh Đức Đại Tướng Quân. Sứ giả hơn trăm người đều được tăng chức tước khác nhau.
[54] Ty An phủ vùng biên Hà Đông tâu: “Khi đi tuần đến Phủ châu, có bộ tộc phiên dâng dê, ngựa, thức ăn. Không muốn trái ý họ, nên nhận thức ăn. Lo rằng từ nay đi tuần, lại có người đến dâng, xin theo lệ dùng vật của quan để trả giá trị tương đương.” Triều đình đồng ý.
[55] Tháng đó, chiếu cho Khai Phong phủ, phàm ra bảng cáo thị chúng, đều phải trình bày sự việc xin chỉ dụ triều đình. Trước đây, phủ này ra bảng ở đường, cấm người môi giới dẫn dụ con em nhà dân vay mượn tiền của người Hồi Cốt. Vua nói: “Quốc gia ban ơn cho người phương xa, thiên hạ không phân biệt, Kinh sư là nơi bốn phương hội tụ, sao có thể chỉ nói riêng người Hồi Cốt?” Vì thế có chiếu này.
[56] Tháng 9, ngày Nhâm Tý mùng một, quan Nội cung phụng là Vương Thừa Huân tâu: “Theo chiếu, đến châu Minh ngăn cửa sông Chương[6], châu này cử quyền Suy quan là Tổ Bách Thế giám sát binh lính, thấy rất siêng năng, xin cho chính thức nhậm chức[7].” Vua nói: “Quan châu huyện bổ nhiệm chức mạc, đều do ân đặc biệt, nội thần sao được xin bàn.” Lập tức lệnh Lại bộ chọn người thay.
[57] Quản câu việc Nam cung, Bắc trạch là Triệu Tương tâu: “Quan Bắc trạch cung phụng là Thừa Khánh hai lần không kịp dự triều, xin tra hỏi viên sứ thần phụ trách.” Vua nói: “Thừa Khánh đã có tờ trình, nói rằng các chú tướng quân ngày nghỉ được phép vào cửa Huyền Vũ, chỉ có Thừa Khánh theo điều ước của Ty Hoàng thành phải vào cửa Đông Hoa, đợi các chú lên ngựa xong mới vào, nên thường đến muộn.” Ngày Giáp Dần, bèn chiếu cho Thừa Khánh trở xuống, ngày nghỉ dự triều, được vào cửa Huyền Vũ.
[58] Phàm nội thị có lỗi, bị phạt làm người quét dọn sân, ngày Ất Mão, ban tên là Tán nội phẩm.
[59] Ngày Bính Thìn, ghi nhận con trai của Hà Bỉnh, nguyên là Viên ngoại lang độ chi, tri châu Từ Châu, là Hà Tri Sùng làm Thái miếu trai lang, lại điều cháu của ông là Hà Tri Cổ, Huyện úy huyện Bình Di, làm Huyện úy huyện Phũ Dương. Hà Bỉnh trước đây giữ chức Thủ châu Tượng Châu có công lao, từng làm tri châu Trạch Châu và Từ Châu, khi mất, gia đình ông đến châu xin cho Hà Tri Sùng, lúc đó mới hơn mười tuổi, được điều Hà Tri Cổ làm quan ở Từ Châu. Theo chế độ gần đây, các quan lang trong tỉnh khi qua đời không có lệ ban thưởng kéo dài, nhưng hoàng thượng nhớ đến công lao trước đây của Hà Bỉnh, nên đặc biệt ghi nhận.
[60] Ngày Mậu Ngọ, cấp gạo cho dân huyện Trường Đạo, châu Tần Châu bị nước lũ cuốn trôi, mỗi người một hộc.
[61] Tôn Chính Từ và những người khác cho rằng quân phương Bắc không quen thuộc với địa hình và đường sá, nên đã tập hợp dân đinh trong làng, gọi là “Bạch truy tử đệ”, cấp vũ khí để làm người dẫn đường, lại xin thêm quân tiếp viện. Hoàng thượng cho rằng vùng biên giới xa xôi hẻo lánh, việc cung ứng không dễ dàng, nên không đồng ý; nhưng vẫn ra chiếu cho Tôn Chính Từ và những người khác, nếu giặc man không chịu chiêu an, đã bị tiêu diệt và khuất phục, thì không nên truy đuổi tận cùng. Lại nói rằng tính cách của người man hung hãn, trước đây Đinh Vị khi làm An phủ sứ châu Quỳ Châu có lời thề răn dạy, và lệnh cho họ uống máu ăn thề, khắc ghi việc này trên cột đá sắt, có nhiều điều lệ, chiếu cho Xu mật viện ghi chép và trình bày cho Tôn Chính Từ và những người khác.
[62] Ngày Nhâm Tuất, hợp nhất hai lộ bố trí quân của châu Trấn Châu và châu Định Châu làm một, lệnh cho Phó đô bố trí sứ châu Định Châu, Quan sát sứ châu Ung Châu là Vương Năng đảm nhiệm. Chức Kiềm hạt và Đô giám vẫn giữ nguyên như cũ. Trước đây, châu Trấn và châu Định mỗi nơi đều có bố trí sứ riêng, sau khi bãi binh, đã bỏ một chức. Sau đó lại chia ra, lệnh cho Quan sát sứ châu Quế Châu là Thạch Phổ đảm nhiệm. Lúc này, Thạch Phổ được thăng làm Lưu hậu Bảo Bình, nhận nhiệm vụ trên đường đi, nên lại hợp nhất làm một.
(Lần đầu hợp nhất châu Trấn và châu Định là vào ngày Quý Tỵ tháng giêng năm Cảnh Đức thứ hai.)
[63] Ngày Quý Hợi, dời ty Thái tạo vụ của châu Tần Châu đến trại Mã Tông, theo đề nghị của Tri châu Dương Hoài Trung.
[64] Ngày Giáp Tý, sai Công bộ thị lang Phùng Khởi làm Chánh sứ sang chúc mừng ngày chính đán của quốc mẫu nước Khiết Đan, Nam tác phường sứ Lý Kế Nguyên làm phó; Điện trung thị ngự sử Triệu Trấn làm Chánh sứ sang chúc mừng ngày chính đán của quốc chủ nước Khiết Đan, Lục trạch sứ, Gia Châu đoàn luyện sứ Đỗ Thủ Nguyên làm phó; Thái thường bác sĩ, Trực sử quán Nhạc Hoàng Mục làm Chánh sứ sang chúc mừng ngày sinh thần của quốc chủ nước Khiết Đan, Đông nhiễm viện sứ, Tầm Châu thứ sử Phan Duy Cát làm phó.
(Lý Kế Nguyên, chưa rõ lai lịch.)
[65] Trước đó, nước sông Biện dâng cao tràn bờ, từ kinh thành đến Trịnh Châu, ngập cả đường sá. Vua xuống chiếu chọn sứ thần hiểu biết về thủy lợi đi ngựa trạm, giảm bớt thế nước ở cửa sông Biện, vẽ bản đồ trình bày lợi hại. Sau đó, thế nước đột ngột giảm xuống, làm trở ngại việc vận chuyển bằng đường thủy, lại sai sứ đi nạo vét cửa sông Biện.
[66] Ngày Ất Sửu, xuống chiếu rằng những vật phẩm tư lễ của sứ thần đi sứ Hạ Châu, trước sau không đồng đều, từ nay lệnh định số lượng, quan phủ cấp tiền mua.
[67] Trước đó, sai Cung bị khố sứ Tạ Đức Quyền đào sông Kim Thủy thành kênh, từ cửa Thiên Ba dọc theo hoàng thành đến cửa Càn Nguyên, qua phía đông đường Thiên Nhai, vòng quanh Thái Miếu, đều lát gạch, trồng cây thơm, chỗ xe ngựa đi qua lại xếp đá làm cầu. Giữa chừng đào giếng vuông, cung điện, chùa chiền, nhà dân đều được dùng nước. Lại dẫn nước về phía đông, theo lỗ thoát nước dưới thành chảy vào hào. Kinh thành được tiện lợi. Ngày Đinh Mão, Đức Quyền tâu việc hoàn thành, Vua xuống chiếu cho Tông chính cáo tế ở miếu thất, ban tiền cho quân lính làm việc.
[68] Ty thiên tâu rằng mặt trăng sắp bị che khuất hoàn toàn, ngày hôm sau là ngày bản mệnh của hoàng đế, xin làm lễ cầu đảo. Vua nói: “Quỹ đạo đã định, sao có thể cầu xin được.” Không cho phép. Sau đó quan sát thấy không bị che khuất, các tể thần dâng biểu chúc mừng.
[69] Ngày Mậu Thìn, xuống chiếu rằng số ngựa của Tả Hữu Kỵ Kỵ viện từ nay mỗi tháng báo cáo một lần, bớt đi việc báo cáo hàng ngày.
[70] Vì Trưởng công chúa nước Ngô xuất gia thọ giới xong, nên phổ độ tăng ni, đạo sĩ trong thiên hạ, và mỗi cung quán, tự viện cứ mười người thì độ một người, không đủ mười người và những người lễ bái thầy cũng độ một người.
[71] Ngày Canh Ngọ, xuống chiếu rằng từ nay khi tế giao, đặt vị trí sao Chu Bá ở sau sao Đê và sao Thọ, làm thành định lệ mãi mãi, theo lời thỉnh cầu của Hàn lâm thiên văn Hình Trung Hòa.
[72] Thẩm hình viện và Đại Lý tự tâu: “Theo chiếu chỉ, định các điều khoản về việc vi phạm chế độ và không tự thân nhận mệnh lệnh. Nay xin rằng, nếu trong các sắc lệnh có nói đến việc xử tội theo pháp luật hoặc xét đoán theo triều điển mà không định rõ hình phạt, thì đều phải căn cứ vào luật lệnh và cách thức; nếu không có điều khoản cụ thể, thì căn cứ vào việc vi phạm chế độ, phân biệt giữa cố ý và sơ suất, cũng như giữa việc tự thân nhận mệnh lệnh và không tự thân nhận mệnh lệnh để xét đoán, nếu tình tiết nặng thì tâu lên xin chỉ. Đồng thời, từ nay các quan khi nhậm chức, phải tuân thủ các sắc lệnh trước đây, nếu vi phạm thì không được viện cớ không biết điều khoản.” Được chấp thuận.
[73] Ngày Tân Mùi, châu Vệ dâng lên một con rùa vàng có hoa văn, các quan căn cứ vào chiếu chỉ trước đây từ chối, nhưng viên lại phủ đã quỳ dưới cửa khuyết nhiều ngày. Vua nghe tin, đặc cách cho thả vào ao quan.
[74] Ngày Nhâm Thân, ra chiếu chỉ cho các châu quân ở Hà Bắc sửa chữa các thành lũy bị hư hỏng do mưa mùa hạ.
[75] Thiệu châu Phòng ngự sứ, Quảng Bình công Đức Di tâu rằng con gái ông đã kết hôn với Điện trực Quách Trung Hòa, gia tộc đông đúc, muốn xin cấp thêm một dinh thự riêng. Vua nói: “Trung Hòa có cha mẹ, nếu theo lời xin này thì lễ nghi phụng dưỡng cha mẹ chồng sẽ bị thiếu sót.” Không cho phép.
(Quách Trung Hòa, không rõ lai lịch.)
[76] Ngày Giáp Tuất, sai sứ mang thuốc phòng chống dịch bệnh ban cho quân dân các châu Nhung và Lô.
[77] Ngày Ất Hợi, quân Vô Vi tâu rằng gió lớn bật gốc cây, làm hư hỏng cổng thành, doanh trại, nhà dân, khiến hơn nghìn người bị chết đuối và đè chết. Ra chiếu sai nội thần đi nhanh đến thăm hỏi, miễn thuế năm sau, thu nhặt thi thể người chết, mỗi nhà được cấp một hộc gạo.
[78] Lý Kế Chu qua đời. Ra chiếu cho các quan biên giới chọn người con có thể kế thừa chức vụ của ông để tâu lên. Các quan biên giới tâu rằng con trai ông là Điện trực Sĩ Bân nhu nhược, còn cháu là Sĩ Dụng tính tình chất phác trung thành, am hiểu việc biên giới, được các bộ lạc kính phục. Ngày Đinh Sửu, ra chiếu cho Sĩ Bân quản lý việc bộ tộc, còn Sĩ Dụng làm Kim Minh Tuần kiểm Đô giám để hỗ trợ.
[79] Ban gạo cho dân châu Phượng bị chết đuối, mỗi người một hộc.
[80] Trước đó, Vua nói với Vương Đán rằng: “Trẫm khi ở Đông cung đã giảng 《Thượng thư》 bảy lần, 《Luận ngữ》 và 《Hiếu kinh》 cũng đều vài lần. Nay các vương trong tông thất học tập, chỉ chú trọng kinh sách, hôm qua tâu giảng quyển thứ năm của 《Thượng thư》, việc này rất đáng mừng.” Bèn triệu Ninh vương Nguyên Ốc đến Long Đồ các xem sách, Vua bảo rằng: “Trong cung thường nghe giảng sách và tập bắn cung, là việc tốt nhất.” Nguyên Ốc nói: “Thần xin mời thị giảng Trương Dĩnh giảng 《Thượng thư》, ngày nghỉ không bỏ cung tên.” Nhân đó trình bày ý nghĩa của điển mô, Vua rất vui, bèn ra chiếu mỗi ngày giảng sách đều ban ăn, sai Nhập nội phó đô tri Trương Kế Năng đảm nhiệm việc này. Vua còn lo Nguyên Ốc khinh thường những người chuyên kinh, nên lại thêm huấn đốc.
[81] Trước đó, Vua ra chiếu các châu có sách ngự bút của Thái Tông, đều phải đem đến kinh đô dâng lên. Bèn lệnh Xu mật viện đề tên dùng ấn, rồi trả lại cho nhà họ.
[82] Mùa thu năm đó, các lộ Kinh Tây, Hà Đông, Thiểm Tây, Giang Hoài, Kinh Hồ và các châu Trấn, Định, Ích, Tử, Cung, Mật đều báo được mùa. Ở kinh sư, một đấu thóc giá ba mươi đồng.
[83] Mùa đông, tháng 10, ngày Quý Mùi, châu Hùng tâu rằng Khiết Đan sửa đắp thành mới. Vua nói với các phụ thần: “Trong thệ ước năm Cảnh Đức có điều khoản không được xây dựng thành trì, nay việc này là sao?” Trần Nghiêu Tẩu nói: “Họ trước vi phạm thệ ước sửa thành, cũng là lợi của ta.” Vua nói: “Há nên bỏ lợi để giữ chữ tín? Vả lại, lấy việc này làm đầu, ắt sẽ có dần dần. Nên lệnh cho quan biên giới chất vấn việc họ vi phạm thệ ước, ngăn lại, thì việc vỗ về dân xa, không mất lòng họ.”
[84] Chém dân châu Hào là Tề Duệ, vì tội ác nghịch bỏ trốn, gặp lúc đông phong lộ ra, châu dùng lệnh xá tha. Tri huyện Định Viễn là Vương Trọng Vi nói rằng thông phán, Độ chi viên ngoại lang, Trực sử quán Triệu Huống nhận của Duệ ba trăm ngàn tiền, không tâu lên, xin trị tội nặng. Vua ra chiếu đặc biệt chém Duệ, xử Huống tội tham ô, cách chức làm dân. Huống là người Phạm Dương, con của Hữu thừa Thượng Giao.
(Thượng Giao, xem năm Thiên Phúc thứ mười hai[8].)
[85] Ngày Đinh Hợi, ban chiếu rằng trước một ngày kỵ của Tuyên Tổ Chiêu Vũ Hoàng Đế và Chiêu Hiến Hoàng Hậu, triều đình không thiết triều, ngày kỵ các quan dâng tên hành lễ, cấm giết mổ, đình chỉ công việc, ghi vào lệnh thức.
[86] Ngày Mậu Tý, ban chiếu: “Nghe nói quân lính vận chuyển lương thực ở Giang, Chiết, dù qua mùa đông cũng không được nghỉ ngơi. Từ nay cho phép họ nghỉ ngơi hai tháng.”
[87] Ngày Canh Dần, lệnh cho Điện tiền, Mã bộ, Quân đầu ty từ nay tuyển bổ quân lính, mỗi chỉ huy theo lệ cũ, đủ 500 người thì dừng. Ban đầu, lệnh cho các châu tuyển chọn bổ sung vào quân cấm vệ, số lượng tuyển chọn quá nhiều, có khi vượt quá định mức cũ, mà doanh trại vốn đã ổn định, có nơi đến hai người ở chung một phòng, nên phải ban lệnh nghiêm ngặt.
[88] Ngự sử trung thừa Vương Tự Tông tâu rằng nước lũ ở Hứa Châu làm hại ruộng dân, nguyên nhân là do sông Huệ Dân không tu sửa đê điều cẩn thận, hàng năm đều bị vỡ. Triều đình liền sai Cáp môn chỉ hậu Tiền Chiêu Hậu đến xem xét. Chiêu Hậu xin khai thông sông Tiểu Dĩnh để phân lưu nước lũ. Vua nói: “Xả nước từ thượng nguồn, chẳng phải sẽ gây họa cho hạ lưu sao?” Chiêu Hậu không trả lời được. Phán quân Trần Châu Thạch Bảo Cát lại tâu rằng nếu sông này mở rộng, thì quận sẽ bị nước lũ đe dọa, gây hại lớn. Triều đình bèn sai Bạch Ba phát vận phán quan Sử Oánh đến xem xét. Oánh xin tu sửa đập Đốn Cố Song Đẩu Môn ở cửa sông Giảm Thủy, làm kênh dẫn nước Lộc Hạng để điều tiết nước lũ[9], tâu xin được chấp thuận. Triều đình bèn sai Tam ban chọn người có năng lực, am hiểu công việc đi tuần tra bảo vệ đê điều, khen thưởng và xử phạt theo phép sông Hoàng, sông Biện. Từ đó, quan lại thận trọng trong nhiệm vụ, thiên tai lũ lụt dần giảm bớt.
(Thực lục chép việc chọn sứ thần đi xem xét đê điều vào ngày Bính Tuất tháng 8, nay theo bản chí, ghi sau khi Sử Oánh đề xuất. Chiêu Hậu, Oánh, quê quán chưa rõ.)
[89] Ngày Giáp Ngọ, xuống chiếu cho các lộ, châu, phủ, quân, giám, quan, huyện chọn đất công để xây dựng đạo quán, và đều lấy tên là “Thiên Khánh”. Dân chúng nếu có người tự nguyện nhường đất, chuẩn bị vật liệu để xây dựng cũng được cho phép. Trước đây, đạo giáo ít được người đời coi trọng, chỉ có người Giang Tây, Kiếm Nam vốn sùng bái. Đến lúc này, trong thiên hạ mới bắt đầu phổ biến tượng đạo. Điện trung thị ngự sử Trương Sĩ Tốn tâu rằng: “Hiện nay việc xây dựng đua nhau nổi lên, gần xa đều bị quấy nhiễu không chịu nổi, xin dựa vào các đạo quán cũ mà làm.” Chiếu theo lời xin.
[90] Ban thưởng tiền cho tướng sĩ ở Nhung, Lô bắt giặc man, vì đường núi hiểm trở, lương thực không đủ.
[91] Ngày Canh Tý, Xu mật viện tâu: “Các sứ thần Tam ban ở ngoài nếu phạm lỗi bị cách chức hoặc giáng chức, đều phải đợi người thay thế, thường kéo dài nhiều tháng, công việc càng thêm đổ nát. Xin từ nay khi chiếu chỉ đến, lập tức cho rời chức, chọn quan tạm quyền xử lý công việc.” Theo lời xin.
[92] Châu Duyễn có sương làm hại mùa màng. Ngày Giáp Thìn, sai sứ đi tuần phủ.
[93] Xuống chiếu: “Nghe nói các vật phẩm công của Hàn lâm ngự trù, Nghi loan ty bị thiếu hụt đều tích tụ và hao tán, Tam ty lệnh đều phải bồi thường, thật là vô nghĩa, nên bãi bỏ hết.”
[94] Ngày Ất Tỵ, Nội thị tỉnh tâu rằng gần đây các sứ thần trong tỉnh bảo cử con em nhiều người xin được nhập vào Nội thị tỉnh, xin ban lệnh cấm. Theo lời xin.
[95] Sai nội thị đem bài minh tán Thái Sơn do Vua ngự chế ban cho Đinh Vị và những người biên soạn sách 《Phong thiền ký》. Đinh Vị nhân đó viện dẫn chuyện Thái Tông ban cho Tô Dịch Giản, xin đến nha môn Tam ty tập hợp các quan cận thần cùng xem, lại đến sảnh đường Sùng Văn viện cho bá quan xem. Vua nói: “Trẫm sao dám so sánh với tiên đế?” Đinh Vị và mọi người cố xin, mới cho phép, lại ban khắp cho các quan cận thần.
[96] Ngày Đinh Mùi, xuống chiếu cho các bộ tộc phiên ở Hà Tây, vì Hạ Châu đã quy phục, những người vốn có hiềm khích từ nay không được xâm lấn nhau, lại lệnh cho quan lại biên giới triệu tập các thủ lĩnh để hiểu dụ.
[97] Dân ở Tịnh Châu bán than đá, mỗi bao phải nộp 10 cân. Ngày Kỷ Dậu, xuống chiếu bãi bỏ.
[98] Ngày Canh Tuất, xuống chiếu ngoài việc Hạ Châu tiến cống, nếu có vật phẩm tư nhân buôn bán lâu ngày không bán được, từ nay quan phủ sẽ thu mua.
[99] Ngày Tân Hợi, trung sứ Sử Sùng Tín tâu rằng, Thị Kỳ Húc và những người khác dùng y phục và vải lụa dụ hàng người Di là Đẩu Bà Hành, định xét tội để giết. Vua cho rằng Húc gọi đến rồi giết đi, như vậy là trái với ý nghĩa của việc chiêu an, bèn hạ chiếu dụ Húc và những người khác rằng, nếu có người đến xin chiêu an thì không được giết, nếu dám kháng cự thì lập tức tiến quân đánh dẹp.
(Sách 《Quốc sử Tây Nam Phiên truyền》 chép việc Đẩu Bà Hành đầu hàng cùng với chiếu chỉ Vua ban cho Thị Kỳ Húc, lệnh phải dùng ân tín, không được gây sự, ghi vào năm đầu, điều này sai lầm rất lớn, nay không theo.)
[100] Vua lấy việc ghi chép bằng ngự bút về việc trả lại ngựa lạc cho tể tướng xem, nói: “Hùng Châu tâu bắt được ngựa lạc gửi trả Khiết Đan, lại tâu gần đây có kẻ trộm ngựa rồi về đầu hàng, cũng chỉ gọi là ngựa lạc gửi trả[10]. Đây là gian trá, chúng há không biết sao? Nên dụ Hùng Châu, từ nay nếu có việc như vậy, phải xét kỹ rồi trả lại, không được dối trá.”
(《Hội yếu》 chép việc này vào tháng 10, nay phụ chép.)
[101] Ngự sử trung thừa, quyền phán Lại bộ thuyên Vương Tự Tông, tính cách cương quyết, thẳng thắn, không sợ hãi gì, mỗi lần vào chầu đều bàn hết sức về việc thời sự, hoặc cả những việc nhỏ nhặt trong dân gian. Ông ta khinh bạc, hiểm ác, thích tiến thân, kịch liệt chê bai khuyết điểm của tham tri chính sự Phùng Chửng, lại kết thân với em trai tể tướng Vương Đán là Húc[11], nhờ chuyển ý kiến cho Đán để được giúp đỡ. Đán ghét hành vi xấu xa của ông ta, nên ra sức bảo vệ Chửng, Tự Tông rất tức giận.
Tri chế cáo Vương Tăng có người em họ gả vào nhà Khổng Miện, nhưng gia đình không hòa thuận. Vương Tăng theo hầu đông phong, nhân đó đến nhà Khổng Miện, uống trà bị trúng độc, nhờ có thuốc tốt mới giải được. Việc đã bị phát giác, Vương Tăng dâng mật sớ, nói rằng đang thực hiện đại lễ, xin ngừng việc điều tra. Tể tướng cũng cho rằng Khổng Miện là hậu duệ của Tiên sư, sẽ được khen thưởng, nên giấu việc này đi. Riêng Tự Tông lại cho rằng Vương Tăng vu cáo Khổng Miện[12], sợ bị phản tội nên xin ngừng việc điều tra.
Gặp lúc trời hạn hán, Tự Tông xin đối chất, nói: “Khổng Miện bị Vương Tăng kiện, nếu triều đình ra lệnh tra hỏi, thêm vào đó việc tra tấn, thì Miện sẽ mãi mang tiếng oan. Lại nữa, Hầu Đức Chiêu nhờ ân xá mà được thăng chức, nhưng năm khảo hạch chưa đủ, dùng thủ đoạn lừa dối để đạt được, nếu không phải do Lại bộ lệnh sử tự khai[13], thì cũng không thể biết được. Duyên đường hành thủ Lý Vĩnh Tích vì tội tham nhũng bị cách chức, lại được bổ nhiệm vào chức cũ, sau đó được đưa đi thuyên chuyển làm lệnh lục.”
Vua liền triệu Vương Đán đến hỏi việc, Đán nói: “Tội của Khổng Miện, triều đình đặc biệt che giấu, không cho điều tra, thực sự không phải oan uổng. Đức Chiêu căn cứ vào lời tấu của Lại bộ, mới ban chế mệnh, đến khi tự khai ra, liền bị truy thu. Vĩnh Tích trước đây vì mua dê cho bản bộ tiết độ sứ mà không nộp thuế nên bị cách chức, duyên đường thiếu người, Lý Hãng thấy ông ta tư chất khôi ngô, nên chọn bổ làm quan, sau lại dùng làm phó hành thủ, làm việc bốn năm, dâng sớ xin được thăng chức, nên lại đưa đi thuyên chuyển.” Vua nói: “Chỉ vì việc này mà gây ra hạn hán sao?” Tự Tông lý lẽ cùng cực, lại dùng lời khác công kích Vương Đán, Đán không chống cự, việc mới thôi.
[102] Tháng này, Tự Tông xin được đối đáp, nói: “Từ tháng tám năm ngoái đến tháng mười năm nay không mưa, lúa mạch không được thu hoạch. Đến mùa thu, các châu Duyễn, Vận bị mưa lớn, sông tràn gây hại cho mùa màng. Đó là do hình chính có sai sót, dẫn đến tai họa.” Lại nói: “Khổng Miện bị oan uổng, tiếng đồn lan rộng, mà Vương Tăng vẫn còn giữ chức vụ gần Vua. Xin hãy cách chức để chỉnh đốn triều đình, thần xin dâng sớ tâu lên.” Vua bảo Vương Đán rằng: “Vương Tăng thực sự không có tội, nếu Tự Tông dâng sớ, cũng phải xử lý.” Vương Đán nói: “Khổng Miện có nhiều việc không tốt, nhưng vì là hậu duệ của Khổng Tử, không muốn truy cứu. Nói rằng ông ta bị oan, ảnh hưởng đến hòa khí, e rằng không hợp lý.” Triệu An Nhân nói: “Nếu nay lại xét hỏi, Khổng Miện làm sao tránh khỏi tội?” Vương Khâm Nhược nói: “Thần xin thẩm vấn Tự Tông, hoặc lại tra hỏi Khổng Miện, nếu không thể giấu được, thì xử lý thế nào?” Hôm sau, Tự Tông lại đối đáp, và xin lỗi về lời nói trước, Vua khoan dung cho ông ta. Sự ngông cuồng của ông ta phần lớn như vậy.
[103] Chiếu rằng quan củ sát hình ngục nếu có việc công lên điện, thì đến nội điện khởi cư, và được miễn thường triều.
[104] Ngày mùng một tháng mười một, Nhâm Tý, quan tri châu Đặng là Trương Tri Bạch tâu: “Dân lưu tán ở Thiểm Tây liên tục vào địa phận, có người muốn trở về quê cũ mà không có lương thực, thần khuyên nhủ hào phú xuất ra mấy nghìn hộc thóc, tính theo đầu người mà cấp phát, lấy nửa tháng làm chuẩn, tổng cộng có hai nghìn ba trăm hộ, hơn một vạn hai trăm người lên đường, số thóc còn thừa đều cấp cho người nghèo và già cả.” Vua khen ngợi.
[105] Vệ úy khanh, quyền phán Hình bộ Thận Tòng Cát tâu: “Theo chiếu năm Thuần Hóa thứ ba, các châu tâu việc ngục không, phải là Ty Lý viện, châu ty và huyện ỷ quách đều không có tù nhân bị giam giữ; lại theo chiếu sau, các lộ từ nay ngục không, không ban chiếu khen ngợi, tâu đến, giao Hình bộ căn cứ vào bản tấu hàng tuần của từng nơi để kiểm tra, không sai thì tâu lên. Thần thấy các Ty Đề điểm hình ngục tâu việc ngục không, bản ty đối chiếu, phần nhiều không hợp với chiếu cũ, các châu ngoài mong được khen ngợi, mưu cầu hư danh. Gần đây, hai châu Bân, Thang xét án tử tù, liên quan đến mấy người[14], chỉ một đêm liền thi hành án chém. Thần thấy các đời trước ở kinh sư xử án, còn phải tâu năm lần, là muốn thận trọng với án tử hình, há nên trong một ngày liền quyết án tử hình. Triều đình vốn cẩn thận xét kỹ, sợ có oan uổng, không phải vì cần gấp, mà các châu phủ không hiểu ý triều đình[15], chỉ mong lập công, chỉ cốt ngục không, ắt không có lợi gì. Xin theo chiếu trước, không ban chiếu khen ngợi. Các châu, phủ, quân, giám, căn cứ vào số lượng công việc chia làm ba bậc: bậc nhất là nơi có nhiều công việc, năm ngày; bậc hai, mười ngày; bậc ba, hai mươi ngày, đều phải châu ty, Ty Lý viện, huyện ỷ quách hoàn toàn không có tù nhân bị giam[16], cùng những người bảo lãnh hoặc gửi ở quán trọ, mới được coi là ngục không, giao Ty Đề điểm hình ngục căn cứ vào bậc và số ngày để kiểm tra xác thực, ghi vào sổ ấn.” Được chấp thuận.
[106] Ngày Quý Sửu, lệnh cấm các loài chim dữ săn mồi gây hại không được vào cung quán, chùa viện.
[107] Ngày Giáp Dần, sai sứ đem 62 quyển sách ngự chế và ngự thư của Thái Tông ban cho các quan phụ chính, mỗi người một bản, đều là những sách chưa từng ban ra ngoài. Mấy ngày sau, lại ban bút lông đỏ khắc chữ của Thái Tông cho Vương Đán trở xuống, mỗi người một đôi.
[108] Ngày Ất Mão, Ty An phủ biên giới Hà Đông tâu: “Dân châu Lân, châu Phủ thường mang hàng hóa nhẹ đến lập chợ buôn bán trái phép trong địa giới châu Hạ. Xin cho phép bắt giữ, đặt ra thưởng phạt để răn đe và khuyến khích.” Vua nói: “Nghe nói đường đi hiểm trở, buôn bán riêng lẻ, số lượng không nhiều, nên chỉ theo chiếu trước, tăng cường giám sát là được.”
[109] Ngày Bính Thìn, Vua làm bảy điều văn vũ sắc[17], ban cho các quan văn từ chức Chuyển vận sứ trở xuống đến Tri huyện, quan võ từ chức Bộ thự trở xuống đến Tuần kiểm. Ban sắc răn dạy cho các quan Mạc chức, châu huyện, Giám vật vụ. Vua nói với tể tướng: “Các quan tâu việc, Trẫm lấy chức nghiệp răn dạy họ, nhớ lại chế độ nhà Hán, Thứ sử lấy sáu điều tra xét việc, nhà Tề có năm điều, nhà Tấn cũng có sáu điều, quan võ có bảy điều răn của Gia Cát Lượng, Trẫm nay tham khảo tìm ra yếu đạo, để răn dạy quần thần. Lại nghĩ triều trước lấy thiên 《Nho hạnh》 ban cho các quan cận thần, nay có thể ban thêm một cuốn.” (Xem thêm ngày Canh Ngọ tháng 7).
[110] Ngày Mậu Ngọ, Vương Chiêu, quan Tuần kiểm chung các châu Quỳnh, Nhai, tâu rằng: “Người Man ở núi Lê Mẫu thù hằn lẫn nhau, cướp bóc, thần đã gửi công văn, giao cho thủ lĩnh bắt và đưa những kẻ gây ác đến, thu hồi hết của cải bị cướp và vật bồi thường mạng người, uống máu thề, thả về động, nay đều đã yên ổn.” Vua nói: “Trẫm thường răn bảo quan biên giới không được xâm phạm, quấy nhiễu ngoại di, nếu họ giết hại lẫn nhau, chỉ dùng luật lệ bản địa. Nếu dùng quốc pháp mà trừng trị, ắt sẽ sinh sự. Đạo cai trị bằng cách buộc ràng, chính ở chỗ này.”
[111] Ngày Kỷ Mùi, xuống chiếu rằng những người từng làm Phó sứ Quốc tín sang Bắc triều và từng tiếp đãi sứ thần, mỗi khi có sứ thần Bắc triều đến kinh, đều phải mặc phẩm phục, xưng hô theo chức vụ đã mượn, đứng hàng, ngồi tiệc.
[112] Ngày Canh Thân, sai nội thị đi các châu Lân, Phủ và các châu ven biển vùng Xuyên Hạp, ban tiền, bạc cho quân đồn trú. Từ khi tạm ngừng chiến sự ở tây bắc đến nay, lâu không có ban thưởng như vậy, đến nay đặc cách ra lệnh.
[113] Ngày Nhâm Tuất, Tư Đạc Đốc ở phủ Tây Lương sai sứ đến cống.
[114] Ngày Quý Hợi, xuống chiếu cho các hộ ở châu Từ, quân Hoài Dương không bị thiên tai lũ lụt, năm nay được miễn ba phần mười thuế ruộng. Vua cho rằng châu, quân này tuy đã được miễn thuế, nhưng vẫn lo dân không tự trình báo, nên ra lệnh nhắc lại.
[115] Phủ Hà Trung tâu rằng quân Quảng Tế dời đến Tập Tân, dùng thuyền chở gia quyến, bị đắm trên sông Hoàng Hà, tổng cộng mấy chục người. Xuống chiếu sai sứ đến hỏi thăm, lại cấp tiền để chôn cất, xét tội người lái thuyền không cẩn thận.
[116] Ty An phủ Hà Bắc tâu rằng quan Tuần kiểm vùng biên giới bắt được dân Bắc giới là Lý Thủ Minh, kiểm tra hành lý, đã đưa về châu Bảo. Vua nói: “Những người này tuy đến biên giới, nhưng không phải là gian trá, lại không có vật cấm, không cần phải giam giữ.” Bèn xuống chiếu cho châu Bảo trả lại hành lý, dùng rượu thịt khao thưởng rồi cho về.
[117] Ngày Giáp Tý, ban chiếu rằng các quan lại ở các lộ có hành vi tham nhũng, hại dân, nếu xét thực được thì các chức Chuyển vận sứ, Đề điểm hình ngục quan của lộ đó không cử xét được sẽ bị luận tội. Trước đó, Tri châu Tấn Châu là Tề Hóa Cơ, Tri châu Phu Châu là Hà Sĩ Tông đều phạm tội tham nhũng bị xử phạt, nhưng các giám ty ban đầu không tâu lên, nên mới ban chiếu nhắc nhở.
(Việc Hà Sĩ Tông ở Phu Châu cần xét lại, tháng giêng năm Chí Đạo thứ 2, từ chức Tào vận Hà Đông bị giáng làm Tri châu Hoa Châu.)
[118] Vua từng nói với tể tướng rằng: “Điều cốt yếu của việc trị nước là thưởng đúng công, phạt đúng tội. Không để tình riêng xen vào thì thưởng phạt sẽ đúng, khuyên răn sẽ thực hiện được, muôn phương sẽ yên ổn, khí hòa sẽ sinh ra, tự nhiên trời đất giáng điềm lành, bốn phương không có việc gì. Nghĩ như vậy, há chẳng nên cảnh giác sao?” Lại nói: “Nghe nói Thôi quan châu Lũng là Trần Tiệm không giữ được thanh liêm, Chuyển vận sứ vì là cháu của Nghiêu Tẩu nên không xét cử ngay, trước đây vì vi phạm bị hặc tội, Nghiêu Tẩu đặc biệt xin cho được miễn chức. Từ nay nếu có việc như vậy, tất phải trị tội, không tha nữa.”
(Hai việc này căn cứ theo 《Bảo Huấn》, việc trước thuộc năm thứ nhất, việc sau thuộc năm thứ hai, nay gộp lại chép vào đây. Việc giám ty không cử xét được quan lại, hoặc tương tự, cần xét lại.)
[119] Ở Quảng Châu, thương nhân nước ngoài tập trung nhiều, sai Nội thị là Triệu Đôn Tín đi ngựa trạm đến vỗ về, khao thưởng. Liền ban chiếu cho Tri châu Mã Lượng và các quan định ra điều lệ xử phạt thương nhân nước ngoài phạm tội. Lượng và các quan xin rằng những người chủ thuyền lớn và những người từng được triều đình phong chức vì tiến cống, nếu phạm tội thì bảo lãnh tâu xin xét xử, còn lại đều xử theo luật, Vua đồng ý.
[120] Ngày Ất Sửu, ban chiếu: “Các lộ sai người quyền quản quân, hết năm mà không có người thay thế, số lượng khá nhiều. Vì việc đều phải tâu lên Xu mật viện xét duyệt xong, mới giao cho hữu ty chờ báo cáo rồi mới cử người đi, nên bị chậm trễ. Từ nay giao cho Điện tiền ty và Thị vệ ty ghi chép ngày tháng, lần lượt cử người thay thế.”
[121] Ngày Bính Dần, quan Nội cao ban là Sử Sùng Tín tâu rằng Tôn Chính Từ, Trương Kế Huân, Thị Kì Húc dẫn quân chia cánh vào các thôn làng của người Di để chiêu dụ. Sau đó có chiếu chỉ đốc thúc Tôn Chính Từ và các tướng, lệnh ba ngày một lần phải báo cáo việc.
(Chiếu chỉ ba ngày một lần tấu việc vào ngày Bính Tý tháng 12, nay ghi liền vào đây.)
[122] Ngày Kỷ Tỵ, ba ty xin mượn ba vạn quan tiền từ kho Nội tàng, được chấp thuận.
[123] Ngày Quý Dậu, bộ lạc người Phiên ở La Nham Châu, thuộc Sa Bình Lộ, Châu Nhã là Vương A Lê cùng mười bảy người khác đến triều cống, lần đầu tiên thông hiếu, chiếu chỉ phong cho A Lê chức Hoài Hóa Ty Qua.
[124] Viện Lễ Tân tâu rằng nhà sư người Hồi Hột là Cáp Thượng đến cống phẩm và xin được đến Ngũ Đài Sơn chiêm bái. Vua nói: “Người Nhung Kiết sùng bái Phật giáo, cũng là lợi ích của Trung Quốc. Có thể cấp lương, cho phép họ làm theo lời thỉnh cầu.”
[125] Ngày Giáp Tuất, Khiết Đan phái sứ là Hữu Vệ Thượng tướng quân Tiêu Tháp Lạt Cát, Sùng Nghĩa Tiết độ sứ Gia Luật A Cố Đạt Mộc, phó sứ là Cấp sự trung Bùi Nguyên Cảm, Tướng tác giám Trương Văn đến chúc mừng ngày Thừa Thiên tiết.
[126] Ngày Ất Hợi, chiếu chỉ cho các quân sĩ đốn gỗ ở các châu, nếu đã phục dịch qua mùa đông, thì được nghỉ ngơi tại nơi đóng quân.
[127] Ngày Bính Tý, sứ giả tiến cống của Hạ Châu là Bạch Thủ Quý xin mua cung tên và nỏ. Vua cho rằng nỏ thuộc vật cấm, không cho phép, còn lại đều chấp thuận.
[128] Ngày Canh Thìn, ban yến tiệc cho các quan cận thần tại phủ của Vương Đán. Theo chế độ cũ, yến tiệc thường được ban vào ngày Đông chí[18], nay nhân dịp sinh thần của Vương Đán, nên ban yến để tỏ lòng sủng ái.
[129] Tấn quốc Đại trưởng Công chúa Hiền Tĩnh qua đời.
[130] Ngày Tân Tỵ, mùng một tháng 12, chiếu chỉ bãi bỏ việc chúc thọ ngày Thừa Thiên tiết và triều hội ngày Chánh đán năm sau.
[131] Trước đó, dân chúng trong kinh thành có chiếm đất công, đã sửa đổi, thì bị thu thuế tích lũy nhiều năm. Chiếu chỉ xóa bỏ hết.
[132] Ngày Quý Mùi, Lê Chí Trung ở Giao Châu sai sứ đến cống nạp, dâng một con tê giác thuần. Vua cho rằng tê giác trái với bản tính vùng đất, không thể nuôi dưỡng, muốn từ chối không nhận; nhưng lại sợ trái ý Chí Trung, đợi sứ giả về, bèn ra lệnh thả nó ra biển. Chí Trung lại sai sứ dâng biểu xin giáp trụ và đồ trang bị, Vua xuống chiếu đồng ý. Lại xin mở chợ buôn bán ở Ung Châu, quan chuyển vận sứ của địa phương tâu lên, Vua nói: “Dân vùng biển thường bị Giao Châu xâm lấn, trước đây chỉ cho phép mở chợ ở Liêm Châu và trại Như Hồng, vì đó là nơi kiểm soát biên giới. Nay nếu để họ tiến thẳng vào nội địa, việc này không tiện.” Vua xuống chiếu bảo địa phương lấy quy chế cũ mà giải thích cho họ.
(Việc xin giáp trụ và mở chợ, sách 《Hội Yếu》 đều chép vào tháng 12 năm thứ hai, sau khi cống tê giác, nhưng bản truyện lại đều gán việc này vào năm thứ ba, 《Thực Lục》 cũng chép việc xin giáp trụ vào tháng giêng năm thứ ba, e rằng lẫn với việc quan chức Quảng Tây kinh lý trấn phủ, nay theo 《Hội Yếu》, ghi liền một mạch.)
[133] Ngày Kỷ Sửu, Vua xuống chiếu rằng dê tế lễ ban cho sứ giả Khiết Đan, nghe nói trên đường đi phải chăn dắt, rất vất vả, nên cấp ngay tại Hùng Châu.
[134] Trước đây, sứ giả Khiết Đan khi đến sứ quán, người tiếp đón có tặng ngựa riêng, ngựa đều nộp lên quan nhưng lễ đáp lại đều là của riêng. Đến lúc này, Hàn lâm học sĩ Triều Huýnh làm sứ tiếp đón, tâu việc ấy. Ngày Canh Dần, Vua xuống chiếu từ nay ngựa mà sứ tiếp đón nhận được, quan sẽ trả tiền, phó sứ được một nửa.
[135] Ngày Tân Mão, lấy Đông thượng các môn sứ Lý Doãn Tắc kiêm chức Thứ sử Tưởng Châu, vẫn giữ chức Tri Hùng Châu.
[136] Ban đầu, Khiết Đan cử sứ là Hữu Vũ vệ Thượng tướng quân Gia Luật Đột Lỗ Cô, Quảng Đức quân Tiết độ sứ Gia Luật Tích Nhĩ Ninh, Phó sứ là Hữu Kiêu vệ Đại tướng quân Khấu Khanh, Thái thường Thiếu khanh Hình Hữu đến chúc mừng năm mới. Tích Nhĩ Ninh trên đường đi bị bệnh, ngày Nhâm Thìn, Vua xuống chiếu cử sứ đến thăm hỏi, Tích Nhĩ Ninh cởi mũ lạy tạ.
(Đột Lỗ Cô vào yết kiến vào ngày Đinh Tỵ, vì sợ lẫn với tờ cáo ai của Châu Trác, nên cử sứ thăm hỏi Tích Nhĩ Ninh, và ghi vào ngày Nhâm Thìn.)
[137] Ngày Bính Thân, Chiêu tuyên sứ, Thành Châu Đoàn luyện sứ, Nội thị Tả hữu ban Đô tri Trương Sùng Quý được bổ làm Phu Diên lộ Đô kiềm hạt. Trước đây, Sùng Quý từ Phu Diên được triệu về, muốn ở lại kinh sư, Vua thấy Sùng Quý am hiểu việc biên cương, nên lại cử đi, dặn dò kỹ lưỡng, và cho phép mỗi năm vào triều tâu việc, lại ban thêm 200 vạn tiền công dụng.
[138] Ngày Canh Tý, Sử Sùng Tín từ Châu Lô vào tâu rằng Tôn Chính Từ chia quân làm ba đường tiến vào đất Di, người Di đều sợ hãi chịu tội, những kẻ không chịu chiêu an phần nhiều đã bỏ trốn, có tên Đẩu Dẫn chạy sâu vào nơi hiểm trở, đã sai người đến nơi ẩn náu chiêu dụ, Chính Từ dẫn quân thẳng đến Tỉnh Dục. Lại nói người Di ở Bộ Cung rất căm phẫn việc người Di ở Châu Lô giết hại lẫn nhau, xin đem quân giúp đánh. Vua nói: “Nếu người Di ở Bộ Cung thành công, thì sẽ sinh lòng tham, chi bằng bảo họ tự thú.”
[139] Ngày Tân Sửu, Tam ty sứ Đinh Vị dâng lên 150 bức họa về điềm lành trong lễ phong thiền ở Thái Sơn, Chiêu tuyên sứ Lưu Thừa Khuê dâng lên một bức họa về nghi trượng Thiên thư, Vua triệu các quan đến xem ở điện Tư Phúc, sau lại cho bá quan xem ở triều đường.
[140] Ngày Nhâm Dần, ban tiền cho quân sĩ tuần tra ở Châu Nhung và Châu Lô.
[141] Ngày Quý Mão, sai Châu Giang tu sửa lại nhà cũ của Bạch Cư Dị đời Đường. Vua nói chuyện với các quan về Cư Dị, khen ngợi ông biết giữ danh tiết, nên có lệnh này.
[142] Quốc mẫu họ Tiêu của nước Khiết Đan mất, thọ 57 tuổi, được truy tặng thụy hiệu là Tuyên Hiến. Vua Khiết Đan khóc đến nỗi nôn ra máu, sai Tiết độ sứ Thiên Bình là Gia Luật Tín Ninh cưỡi ngựa đến báo tin, châu Trác gửi văn thư trước đến châu Hùng, châu Hùng tâu lên.
Ngày Giáp Thìn, xuống chiếu bãi triều bảy ngày, lệnh cho quan Lễ bàn định kỹ lưỡng về chế độ tang phục, trong cung đưa ra nghi lễ phát tang theo 《Khai Bảo Lễ》 dành cho nước phiên, giao cho các đại thần tham khảo rồi thi hành. Lại sai Thái thường bác sĩ trực Sử quán là Vương Tùy, Nội điện thừa chế Các môn chi hậu là Quách Doãn Cung làm sứ tế điện, Thái thường bác sĩ phán Tam ty Thôi khiếm Bằng do ty là Vương Thự, Cung phụng Các môn chi hậu là Vương Thừa Cẩn làm sứ điếu viếng, ban tặng năm bộ quần áo, một vạn tấm lụa gấm.
Ngày Ất Tỵ, sứ chúc mừng năm mới là Gia Luật Đột Lỗ Cô vào yết kiến lần đầu, sau khi trở về dịch quán, lệnh cho Khách tỉnh sứ là Tào Lợi Dụng đưa văn thư của châu Trác cho xem.
Ngày Mậu Thân, sứ báo tang là Gia Luật Tín Ninh đến, Các môn sứ nhận thư đưa vào trong, xuống chiếu cho Đột Lỗ Cô và những người khác đến chùa Khai Bảo bày vị trí khóc viếng, các quan Trung thư môn hạ, Xu mật viện, Tam ty sứ, Học sĩ, Tri chế cáo trở lên, đến dịch quán Đô Đình viếng. Ngày Kỷ Dậu, Vua mặc tang phục ở cửa Đông trong phát tang, triệu Tín Ninh vào trong, thân hỏi thăm, các quan dâng danh sách phúng viếng.
Tiêu thị có mưu lược, khéo điều khiển tả hữu, các đại thần phần nhiều tận lực vì bà. Trước đây, người Phiên đánh chết người Hán thì bồi thường bằng trâu ngựa, còn người Hán thì bị chém, đồng thời tịch thu thân thuộc làm nô tì, Tiêu thị đều xử theo pháp luật của người Hán. Mỗi khi quân địch kéo đến xâm lược, bà đích thân mặc giáp ra trận chỉ huy. Khi hòa hảo, cũng do bà đề ra kế sách.
Tuy nhiên, bà vốn tính tàn nhẫn, hay giết hại người. Khi mới trao quyền lại cho Khiết Đan chủ, chưa đầy một tháng thì bà qua đời. Không lâu sau, Gia Luật Xương Vận[19] cũng qua đời. Xương Vận chính là Hàn Đức Nhượng. Trong ngoài đều mặc tang phục giống như Tiêu thị, rồi đưa linh cữu đi an táng. Ông không có con, nên lấy con của Ngô vương Long Dụ là Chu vương Thừa Nghiệp làm người kế tự[20].
[143] Triều đình ban chiếu cho Ty An phủ dọc biên giới Hà Bắc, Hà Đông, phải nghiêm ngặt bắt bớ những kẻ bất lương gần biên giới có lời nói bậy bạ để mê hoặc người ngoài.
[144] Trước đây, dọc sông Hoàng Hà ở Hà Bắc cấm thuyền nhỏ đánh cá, Vua nghe nói dân nghèo phần nhiều nhờ đó để kiếm sống, bèn hạ chiếu bãi bỏ lệnh cấm.
[145] Mùa đông năm đó, Lê Chí Trung chết, Giao Chỉ loạn. Có người nói Chí Trung bị thuộc hạ giết. Triều đình hạ chiếu cho Chuyển vận sứ lộ Quảng Tây lo liệu việc trấn phủ ở các châu quân ven biển, thường xuyên báo cáo sự việc.
[146] Năm đó, toàn quốc có 8.402.537 hộ.
(Theo lệ, cuối mỗi năm đều ghi chép cả số hộ và số khẩu, ở đây có lẽ thiếu số khẩu.)
[147] Sáp nhập ba kho Tả tàng khố là kho tiền, kho vàng bạc và kho tơ lụa làm một kho.
(Năm Thuần Hóa thứ 3, không rõ thời điểm.)
[148] Triệu Đức Minh dẫn quân bản bộ đi đánh Hồi Cốt. Sao thường hiện ban ngày, Đức Minh sợ hãi rút quân về.
(Điều này căn cứ vào phụ truyền của Triệu Đức Minh trong 《Nhân Tông Thực lục》. Các sách khác không có[21], không rõ thời điểm, ghi chép vào cuối năm, đợi tra cứu thêm.)
- Lúc đó, người Di ở Lê Châu là Đẩu Bà Hành cũng nhiều lần ra cướp phá. 'Đẩu Bà Hành' nguyên bản là 'Đẩu Bà', căn cứ theo 《Trường biên kỷ sự bản mạt》 quyển 25 'Lô Man chi bạn', 《Tống sử》 quyển 496 'Tây Nam chư Di truyện' và chú thích trong bản này mà bổ sung. Xét 'Đẩu Bà Hành', 《Tống hội yếu》 phần 'Phiên Di' 5-14 chép là 'Đẩu Bà Môn'. ↵
- Vua cho rằng các bộ lạc đã yên ổn, 'bộ lạc' trong bản Tống và bản Tóm tắt Tống chép là 'di lạc'. ↵
- 'Nay' nguyên là 'lệnh', theo bản Tống, bản tóm tắt Tống, bản các bản sửa. ↵
- 'Giang' nguyên bản chép là 'Pháp', theo bản khác sửa lại. ↵
- Lại ban chiếu cho quan biên giới không được tùy tiện vào hang động, chữ 'triếp' nguyên là 'xuyết', theo bản trong các sách và 《Tống hội yếu》 phần Phiên Di 5-58 sửa lại. ↵
- 'Chương' nguyên là 'chướng', theo bản Tống, Tống toát yếu, các bản khác sửa. ↵
- 'Nhậm' nguyên là 'Tá', theo sách trên sửa. ↵
- Chữ 'niên' trong 'Thiên Phúc thứ mười hai niên' vốn thiếu, theo các bản khác bổ sung. ↵
- 'Lộc Hạng' nguyên bản là 'Lộc Cảng', theo bản Tống, Tống toát yếu và Tống hội yếu phương vực 16-23 sửa lại ↵
- Cũng chỉ gọi là ngựa lạc gửi trả, chữ 'di' nguyên bản là 'khiển', theo các bản và 《Tống hội yếu》 phiên di nhị chi nhị sửa lại. ↵
- Lại kết thân với em trai tể tướng Vương Đán là Húc, hai chữ 'Vương Đán' nguyên bản khuyết, theo Tống bản, Tống toát yếu bản, các bản và 《Tống sử》 quyển 287 《Vương Tự Tông truyền》 bổ sung. ↵
- Tự Tông độc vị Tằng vu hãm Miện 'Độc' nguyên tác 'Vu', cứ đồng thượng thư cải. 'Hãm', Tống bản, Tống toát yếu bản cập thượng dẫn Tống sử quân tác 'Cấu'. ↵
- Phi Lại bộ lệnh sử trần thủ 'Sử' nguyên tác 'Tự', cứ Tống bản, Tống toát yếu bản cập thượng dẫn Tống sử cải. ↵
- 'Can' nguyên là 'Uổng', theo bản Tống, bản Tống toát yếu và 《Tống hội yếu》 Hình pháp 4-85, 《Thông khảo》 quyển 166 Hình khảo sửa. ↵
- 'Triều chỉ' nguyên là 'Triều đình', theo bản Tống, bản Tống toát yếu, bản các và 《Tống hội yếu》, 《Thông khảo》 sửa. ↵
- 'Châu ty Ty Lý viện' nguyên là 'Châu Ty Lý viện', theo sách trên bổ sung chữ 'Ty'. ↵
- Sách Tống bản, Tống toát yếu bản và 《Tống sử》 quyển 7, 《Chân Tông kỷ》, 《Biên niên cương mục》 quyển 7, 《Thập triều cương yếu》 quyển 3 đều bỏ chữ 'sắc', 《Tống đại chiếu lệnh tập》 quyển 191 có bảy điều văn thần và bảy điều vũ thần, cũng không có chữ 'sắc'. ↵
- 'Thường' nguyên bản viết là 'đương', căn cứ theo Tống bản và Tống toát yếu bản bổ sung. ↵
- Gia Luật Xương Vận, 《Khiết Đan quốc chí》 quyển 18 và 《Liêu sử》 quyển 82 bản truyện đều chép là 'Gia Luật Long Vận'. ↵
- Lấy con của Ngô vương Long Dụ là Chu vương Thừa Nghiệp làm người kế tự, hai chữ 'Chu vương' vốn bị thiếu, nay căn cứ vào Tống bản, Tống toát yếu bản và 《Khiết Đan quốc chí》 dẫn trên để bổ sung. ↵
- Các sách khác không có, chữ 'vô' vốn bị thiếu, nay căn cứ vào các bản để bổ sung. ↵