"

III. TỐNG CHÂN TÔNG

QUYỂN 74: NĂM ĐẠI TRUNG TƯỜNG PHÙ THỨ 3 (CANH TUẤT, 1010)

Từ tháng 7 năm Đại Trung Tường Phù thứ 3 đời Chân Tông đến hết tháng 12 cùng năm.

[1] Mùa thu, tháng 7, ngày Mậu Dần, mùng 1: Cung Ngọc Thanh Chiêu Ứng, điện Tử Vi đặt xà nhà, xa giá đến xem.

[2] Trương Sùng Quý, Khiêm hạt lộ Phu Diên, tâu rằng dân các bộ lạc phiên lạc nhân mùa thu thu hoạch lúa, đã phái quân đóng giữ biên giới. Vua nói: “Điều này chắc là lo Triệu Đức Minh thay lòng đổi dạ.” Ngày Tân Tỵ, sai sứ đi vỗ về các tướng giữ biên giới, đồng thời hỏi Sùng Quý về kế sách phòng ngự. Sứ trở về, tâu rằng trong cương vực của Đức Minh bị hạn hán, từng bị người Hồi Cốt xâm lấn, Đức Minh dẫn bộ tướng đi cướp bóc các bộ lạc Hồi Cốt, nên mới phái người giữ đất biên giới.

[3] Xuống chiếu cho Tam ty mua gỗ, những người được trả bằng trà từ nay trả toàn bằng tiền.

[4] Ngày Mậu Tý, Phùng Chửng, Thượng thư Tả thừa kiêm Tham tri chính sự, vì bệnh được ban cho nghỉ, dâng biểu xin từ chức, Vua ban chiếu ưu đãi không cho. Chửng lại dâng biểu, Vua vẫn không cho, sai trung sứ thúc giục vào triều, lại ban thư tay dụ chỉ. Lại sai tể tướng Vương Đán đến tận nhà khuyên nhủ, Chửng mới trở lại làm việc.

[5] Ngày Kỷ Sửu, Tam ty mượn 2 vạn tấm lụa từ kho Nội tàng, Vua đồng ý.

[6] Ngày Quý Tỵ, Nhiệm Trung Chính, Tri châu Ích Châu, tâu rằng Đổng Trung Nghĩa, Thứ sử châu Bá thuộc diện châu ki mi, đã mất, con trai đáng được kế tập, nhưng vì còn nhỏ, người trong tộc xin cho Đổng Hạo, em họ của Trung Nghĩa, tạm quản việc châu.

Vua nói: “Trong các bộ lạc di địch, cha chết con nối là chế độ cũ của triều đình, nhằm ngăn chặn sự may rủi, khiến họ biết có phận định. Nay thay đổi chế độ này, ắt để lại hậu họa.” Bèn lập con trai ông ta, cho phép người thân cận giúp đỡ.

[7] Ngày Ất Mùi, Lý Kế Xương, Đô Khiêm hạt lộ Phu Diên, tâu rằng: “Theo chiếu, giảm 9 chỉ huy quân đóng đồn. Thần lo ngại biên phòng sẽ thiếu sót, mong hãy giữ nguyên như cũ.” Vua nói: “Triệu Đức Minh đang tuân theo giáo hóa của triều đình, ắt không có sự cố gây ra xâm lấn. Các quan biên thần không để ý đến việc vận chuyển lương thực làm khổ dân, nên theo chiếu trước.”

(Tháng 7 năm ngoái, ngày Ất Sửu, Thực lục cũng chép việc này, đây chắc là trùng lặp, nhưng lời Vua hơi khác, nay cũng giữ cả hai.)

[8] Ngày Bính Thân, Hộ bộ thượng thư Ôn Trọng Thư qua đời, được truy tặng chức Hữu bộc xạ. Ngày Kỷ Hợi, lấy Thượng thư hữu thừa kiêm Bí thư giám Hướng Mẫn Trung làm Công bộ thượng thư, Tư chính điện đại học sĩ. Vua nói: “Nếu Ôn Trọng Thư còn sống, sẽ cùng được bổ nhiệm.” Vua thở dài tiếc thương lâu, bèn cho hai con trai của ông làm Hiệu thư lang. Ngày đưa tang về quê, lệnh cho quân tuần kiểm dọc đường hộ tống.

[9] Đặt chức Long đồ các học sĩ, lấy Trực học sĩ Đỗ Hạo làm chức này, Đãi chế Trần Bành Niên làm Trực học sĩ[1]. Lại chiếu rằng Long đồ các học sĩ ở trên Xu mật trực học sĩ, cấp bổng như vậy.

[10] Chiếu rằng: “Từ chức Đại tướng quân trở xuống ở Nam cung và Bắc trạch, đều phải đến thư viện giảng đọc kinh sử. Các con từ mười tuổi trở lên, đều phải vào học, mỗi ngày dạy kinh sử, đến buổi chiều mới thôi. Vẫn giao cho Thị giáo giáo thụ và quan Bạn độc khuyên bảo, không để lười biếng bỏ bê.”

(Việc này là ngày Nhâm Dần, sợ lẫn với việc tế Hậu thổ ở Phần Âm, nay theo bản kỷ, dời lên trước ngày Tân Sửu.)

[11] Ngày Tân Sửu, hơn ba vạn quan văn võ, tướng hiệu, kỳ lão, đạo sĩ và tăng nhân đến cửa khuyết, xin tế Hậu thổ ở Phần Âm, Vua không cho.

[12] Biểu đã dâng ba lần. Tháng 8, ngày Đinh Mùi mùng một, chiếu rằng sang năm xuân sẽ có việc tế lễ ở Phần Âm. Trước đó, Vua sai Trần Bành Niên và các quan tìm hiểu các điển lễ tu sửa và bỏ bê việc tế hậu thổ qua các đời, rồi đưa cho tể tướng xem và nói: “Sử cũ nói rằng tế trời mà không tế đất là sai lệch với đạo lý đối xứng. Trẫm đã lên Thái Sơn tế trời, thì việc tế lễ ở Thùy Thượng cũng không thể thiếu, mà dân chúng Hà Trung cũng đã nhiều lần thỉnh cầu. Nhưng việc phong thiền vừa xong, vội làm lễ này, há chẳng phải vì đất xa mà tốn kém sao?” Các quan đều nói: “Bệ hạ vì dân cầu phúc, không ngại gian khổ, lòng thánh đã quyết, ắt đã thấu đến thần minh.” Vua nói: “Chỉ mong dân được mùa, còn với Trẫm thì không ngại gì.”

[13] Phong con gái của Trưởng Lạc quận chủ họ Triệu làm Thành Kỷ huyện quân. Triệu thị là cháu gái của Triệu Phổ, ngoại tôn của Yên Quốc trưởng công chúa. Các quan nói rằng từ khi lập quốc đến nay, con gái của quận chủ chưa có chế độ phong tước, nên đặc cách ban mệnh.

[14] Tả Long Vũ đại tướng quân, Thiều Châu phòng ngự sứ, phân ty Tây Kinh Hàn Sùng Huấn mất.

[15] Ngày Mậu Thân, lấy Tri Xu mật viện sự Trần Nghiêu Tẩu làm Kinh độ chế trí sứ tế lễ Phần Âm, Hàn lâm học sĩ Lý Tông Ngạc làm phó. Nghiêu Tẩu quyền phán Hà Trung phủ, Tông Ngạc quyền đồng tri phủ sự. Xu mật trực học sĩ Thích Luân, Chiêu tuyên sứ Lưu Thừa Khuê lo việc kế toán chuyển vận. Luân sau đó ra làm Tri Hàng Châu, lấy Long đồ các đãi chế Vương Thự thay thế. Khách tỉnh sứ Tào Lợi Dụng, Tây Kinh tả tàng khố sứ Trương Cảnh Tông, Cung bị khố sứ Lam Kế Tông lo việc tu sửa hành cung và đường sá.

[16] Hà Bắc chuyển vận sứ Hữu gián nghị đại phu Lý Sĩ Hoành, Diêm thiết phó sứ Hộ bộ lang trung Lâm Đặc lo việc đề cử chuyển vận ty ở Kinh Tây và Thiểm Tây. Sĩ Hoành lại dâng 30 vạn tiền lụa để giúp chi phí, chiếu khen ngợi.

[17] Ngày Kỷ Dậu, điều 5000 quân từ Thiểm Tây, Hà Đông đến Phần Âm để phục dịch. Đặt các trạm dịch cấp tốc, xuất ngựa trong chuồng để tăng cường dịch trạm. Tăng thêm 8450 người làm việc ở các trạm dịch.

[18] Ngày Canh Tuất, sai Hàn lâm học sĩ Triều Huýnh, Dương Ức, Long đồ các học sĩ Đỗ Hạo, Trực học sĩ Trần Bành Niên, Tri chế cáo Vương Tăng cùng Thái thường lễ viện xét định nghi thức tế tự ở Phần Âm.

[19] Ngự sử trung thừa kiêm Công bộ thị lang Vương Tự Tông bị bãi chức, giáng làm Diệu Châu quan sát sứ, Tri Vĩnh Hưng quân phủ kiêm Binh mã bộ thự. Vua sắp đi về phía tây, cho rằng Kinh Triệu là đất trọng yếu, muốn tìm một đại thần văn võ song toàn để trấn giữ, bèn nói với tể tướng: “Tự Tông từng tự nhận là biết việc võ, có thể trao chức Liêm xa, để đảm đương nhiệm vụ này. Nên triệu đến hỏi trước xem ý ông ta thế nào.” Sau đó Tự Tông vui lòng nhận chiếu, liền bổ nhiệm, lại làm thơ ban cho.

[20] Xuống chiếu cấm săn bắn dọc đường Phần Âm, không được xâm chiếm ruộng dân, theo chế độ như khi đi phong thiền ở phía đông.

[21] Ngày Tân Hợi, cấp cho Thăng Châu 1000 quan tiền công dụng mỗi năm. Theo chế độ cũ là 500 quan, lúc đó Trương Vịnh làm Tri châu, nên ưu đãi hơn.

[22] Giang Nam bị hạn hán, xuống chiếu cho các quan Chuyển vận, Đề điểm hình ngục xét xử những tù nhân bị giam giữ trong khu vực mình quản lý.

[23] Ngày Nhâm Tý, sai nội thị Trịnh Chí Thành, Giang Đức Minh đi Thăng Châu, Hồng Châu, Nhuận Châu để vỗ về quân dân, khao thưởng tướng hiệu, kỳ lão và tế lễ các núi sông trong vùng, vì lâu ngày không mưa, lại thường xảy ra hỏa hoạn.

[24] Ngày Giáp Dần, xuống chiếu cho các quan cận thần đến Long đồ các xem sách. Vua xem sổ kế toán quốc gia đời Nguyên Hòa, Tam ty sứ Đinh Vị tâu: “Đời Đường, Giang Hoài mỗi năm chở 40 vạn hộc gạo đến Trường An, nay lên đến hơn 500 vạn hộc, kho tàng đầy ắp, kho lẫm dư dật.” Vua nói: “Dân tình no đủ, thật nhờ trời đất tổ tông giáng phúc, mà kho tàng quốc gia dồi dào, cũng nhờ công lao của các quan kế toán vậy.” Đinh Vị lạy tạ. Lại xem các vật báo điềm lành thu được từ đầu triều đến nay ở điện Sùng Hòa, sử quan Triều Huýnh, Dương Ức nói: “Đây đều là điềm báo trời trao mệnh cho thánh triều, không thể không ghi vào sử sách. Xin ban tên các vật ấy cho Viện tu quốc sử.” Vua đồng ý. Rồi mở tiệc ở điện Sùng Chính, Vua làm thơ, các quan theo hầu đều họa.

[25] Quân Trấn Nhung xin xây dựng pháo đài Ninh Viễn ở phía đông bắc quân, cách 15 dặm, dùng các tay cung tiễn để canh giữ, được chấp thuận.

[26] Ngày Đinh Tỵ, ban chiếu rằng huyện Bảo Đỉnh không được dùng roi đánh người, nếu có tội thì đều phải đưa đến phủ để xử lý[2].

[27] Bộ tướng Thổ Phồn ở châu Vị là Xước Khắc Tông đến cống ngựa. Xước Khắc Tông tự nói vốn thuộc phủ Tây Lương, sau khi bị Lý Kế Thiên đánh phá, bèn dời đến ở Khang Cổ. Ban đầu mang hơn 200 con ngựa đến cống, đến núi Thiên Đô gặp Vạn Tử Thái Bảo, bị cướp đoạt, chỉ còn lại 30 con. Lại nói rằng trong lãnh thổ của Đức Minh đang gặp nạn đói kém, các bộ lạc lân cận tranh nhau mua bán lương thực, xây dựng lầu yết, tập hợp binh mã, định đánh chiếm Cam Châu, và đánh nhau với Thổ Phồn.

(Theo 《Hội yếu》, việc này xảy ra vào tháng 8. 《Thực lục》 và 《Chính sử》 đều không ghi chép. Nay phụ chép trước ngày Mậu Ngọ, cần xem xét thêm.)

[28] Ngày Mậu Ngọ, dời Kiềm hạt Tào Vĩ từ lộ Trấn Định sang lộ Kinh Nguyên, thay thế Dương Hoài Trung. Lúc đó, Triệu Đức Minh dẫn quân ra sông Đại Lý xây dựng trại, các bộ lạc ở biên giới Thương Nhĩ, Bình Hưng, Vĩnh Bình cướp bóc lẫn nhau, nên lệnh cho Tào Vĩ đến kiểm soát.

[29] Ngày Canh Thân, châu Giải tâu rằng muối trong hồ tự nhiên sinh ra, vị rất ngon, lấy những hạt tinh khiết nhất để tiến lên. Ban chiếu sai sứ đến tế miếu hồ.

[30] Ngày Tân Dậu, trả lại đất cỏ chăn ngựa ở châu Vận cho dân, vì đây là con đường đi qua khi đi phong thiện ở phía đông, nên ưu đãi.

[31] Ngày Quý Hợi, Đô kiềm hạt Phu Diên là Trương Sùng Quý tâu: “Nhận được thư của Triệu Đức Minh, nói rằng đã phái nha hiệu đến cống ngựa, đồng thời tố cáo rằng thổ dân Diên Châu là Minh Ái xâm phạm vùng đất thuộc quyền quản lý của hắn ở Tuy Châu. Thần nghi ngờ có mưu gian, bèn phái tiểu hiệu đóng quân phòng thủ biên giới. Quả nhiên, Đức Minh đem ba nghìn quân đến xâm lấn, quân chưa đến nơi, lại phái bộ hạ đến buôn bán ở các quận biên giới. Khi quân địch đến, quân đồn trú do thần phái đi đã bất ngờ đánh trả, Đức Minh liền bỏ chạy. Từ khi Đức Minh quy phụ, đã nhiều lần giảm bớt quân đồn trú, nay xin tăng thêm để phòng ngừa.” Triều đình bèn hạ chiếu cho các lộ Phu Diên, Hoàn Khánh, Kinh Nguyên đều tăng thêm binh mã. Sau đó, Đức Minh dâng biểu tự tố cáo việc Minh Ái xâm phạm biên giới, triều đình ban chiếu trả lời.

(Việc Đức Minh tố cáo Minh Ái xâm phạm biên giới, được ghi trong Thực lục vào ngày Giáp Thân tháng giêng năm sau.)

[32] Ngày Giáp Tý, lệnh cho các phủ Hà Trung, Kinh Triệu và các châu Thiểm, Đồng, Hoa năm nay ngoài số thuế thu đã nộp, những khoản còn thiếu đều tạm thời được hoãn lại.

[33] Nạn đói ở Hoài Nam. Triều đình hạ chiếu bãi bỏ việc mua lương thực ở các châu, giảm giá bán gạo trong kho để cứu tế dân nghèo, những tù nhân ở các nơi đều được giảm án một bậc, kẻ trộm cắp lương thực thì xử phạt tùy theo mức độ.

[34] Ban cho Đại Lý bình sự Tô Kì đỗ Tiến sĩ cập đệ.

Kì là con của Tô Dịch Giản, con rể của Tể tướng Vương Đán. Kì trước đã thi đỗ Tiến sĩ, nhưng khi xướng danh, lại xếp vào hàng các khoa khác. Tri Xu mật viện Trần Nghiêu Tẩu tâu lên Vua, Vua hỏi ý kiến Vương Đán, Đán đứng lùi lại không trả lời. Kì nói: “Xin hãy để thần tiếp tục học tập.”

Khi ra ngoài, Nghiêu Tẩu nói với Đán: “Chỉ cần ông nói một lời thì Kì sẽ đỗ Tiến sĩ.” Đán cười nói: “Nhà Vua thân chủ trì thi cử để thể hiện sự công bằng. Ta là Tể tướng, lại tự tiến cử người thân trước mặt Vua, giữa đám đông sĩ tử, như thế chẳng phải là mất thể thống sao!” Nghiêu Tẩu xấu hổ xin lỗi, nói: “Mới biết Tể tướng thật sự có phong độ.” Đến lúc này, Kì dâng lên những bài văn của mình, được triệu vào viện Học sĩ để khảo thí, rồi được ban mệnh này.

(Sự việc ngày Giáp Tý tháng tám. Lời đáp của Đán với Nghiêu Tẩu, theo sách 《Di sự lục》.)

Đán có con rể trưởng là Điện trung thừa Hàn Ức, sau này cũng từng dâng lên những bài văn do mình viết, Vua rất muốn triệu ông vào thi, nhưng Đán cố từ chối. Theo lệ, Ức phải nhậm chức ở quận xa, nhưng Vua đặc cách triệu kiến, đổi làm Thái thường bác sĩ, tri châu Dương.

Đán nói riêng với con gái: “Hàn vào đất Thục, con cứ về nhà cha, đừng lo. Nếu cha cầu xin Vua, sau này người ta sẽ nói Hàn nhờ cha vợ xin miễn đi xa, rất không hay vậy.” Ức nghe vậy, mừng rỡ nói: “Công đối xử với con thật hậu hĩnh.”

Ở Dương Châu có kẻ hào phú là Lý Giáp, khi anh trai chết, ép chị dâu tái giá, rồi vu cáo con trai chị là con người khác để chiếm đoạt tài sản. Chị dâu nhiều lần kiện lên quan, nhưng Giáp hối lộ quan lại bắt chị phải nhận tội, việc kéo dài hơn mười năm, chị vẫn không ngừng kiện.

Hàn Ức xem lại hồ sơ cũ, thấy chưa từng dẫn người đỡ đẻ làm chứng, bèn triệu Giáp đến, đưa người đỡ đẻ ra đối chất, Giáp không biết trả lời thế nào, nên oan tình được giải. Ức là người Ung Khâu.

(Ức được thăng chức Điện trung thừa nhờ ân điển tế tự ở Phần Âm. Việc ông dâng văn và được đổi chức tri châu Dương, hẳn là xảy ra sau năm thứ tư, nay tạm ghi ở đây.)

[35] Ngày Ất Sửu, sai Nhập nội đô tri Tần Hán mang chiếu đến Phần Âm ban thưởng cho Trần Nghiêu Tẩu và các quan, rồi đi về phía tây lo liệu việc biên giới. Lại dụ các lộ Phu Diên, Hoàn Khánh, Kinh Nguyên rằng khi nhận được văn thư của Hán thì lập tức phát binh ứng chiến. Sau đó, lấy Hán làm Kiềm hạt binh mã Hà Tây. Khi Hán đến, các bộ lạc phiên vẫn yên ổn như cũ, quân không cần xuất trận, Hán liền trở về hành tại.

(Việc Hán làm Kiềm hạt Hà Tây, Thực lục ghi vào ngày Mậu Thìn, nay lược ghi. Việc Hán trở về hành tại, căn cứ theo bản truyện của Hán.)

[36] Lệnh cho Tây Kinh tu sửa miếu thờ Trang Tông nhà Hậu Đường.

[37] Ngày Bính Dần, xuống chiếu cho Trần Nghiêu Tẩu tế Tây Hải. Lại sai trung sứ đến các nơi như Tam Đình Độ để tế sông[3], vì thuyền bè qua sông đông nghịt.

[38] Ngày Đinh Mão, quần thần đến cửa khuyết dâng biểu xin tôn hiệu là Sùng Văn Quảng Vũ Nghi Thiên Tôn Đạo Bảo Ứng Chương Cảm Khâm Minh Thượng Thánh Chí Đức Nhân Hiếu, nhưng Vua không chấp thuận. Dâng biểu năm lần, cuối cùng vẫn không được chấp thuận.

[39] Ngày Mậu Thìn, vì Giang, Hoài mất mùa, Vua sai các quan trưởng ở châu Thăng, Dương, Lư[4] kiêm chức An phủ sứ của lộ mình. Lúc đó, Lang trung Hình bộ là Vương Tế làm Tri châu Hồng, thân hành đốc thúc quan lại nấu cháo, mỗi ngày tự nếm rồi cấp phát, ghi tên dân đói làm lính châu, cứu sống được rất nhiều người.

[40] Trần Nghiêu Tẩu tâu: “Trước đây khi đến Thiểm Châu, nghe đồn hơi hạn, lúa mạ rất ít. Khi vào địa giới, thân mắt thấy thực tế không đến mức đó, chỉ vì dân sợ có sai dịch nên mới nói vậy. Đã trực tiếp dặn dò và gửi văn thư cho Chuyển vận ty không được tự ý sai dịch, dân nghe tin này đều hướng về cửa khuyết reo mừng, thậm chí có người cảm động khóc.”

[41] Ngày Kỷ Tỵ, Vua xuống chiếu từ kinh thành đến phủ Ứng Thiên, các châu Tào, Tế, Đơn, Thái, Hứa, Nhữ, Dĩnh, Trần, Thiền, Bộc, Truy, Thanh và quân Quảng Tế đều tăng thêm binh tuần tra, sứ thần bắt giặc và lệnh cho các quan Ký ban Trung tá đứng đầu.

[42] Ngày Canh Ngọ, Vua xuống chiếu: “Nghe nói các quan câu đương trên đường đi Phần Âm ngoài việc cung đốn của châu huyện, còn tự ý đòi hỏi vật chuẩn bị[5], nên ra lệnh cấm chỉ tất cả.”

[43] Trước đó, Hoàng thành ty phái 40 lính thân sự ra kinh thành do thám, mỗi tháng cấp tiền, mỗi quý thay đổi, mọi việc do thám đều báo lên bản ty, bản ty ghi chép tâu lên. Vua lo họ sẽ hù dọa quấy nhiễu, bèn lệnh Xu mật viện quy định: từ nay trừ việc trộm cướp và những chuyện lạ trong dân gian mà cơ quan chức trách không bắt được ngay, còn lại không được tâu lên.

[44] Trần Nghiêu Tẩu tâu: “Tào Lợi Dụng nói nha môn ở Thiểm, Trịnh cửa chính thấp nhỏ, đường phố chật hẹp. Nếu định dừng chân, xin ban chỉ riêng.” Vua nói: “Cứ để như cũ, đừng làm phiền dân.”

[45] Ngày Tân Mùi, sai Tào Lợi Dụng tế sông Phần.

[46] Các quan định ra chế độ phong ngọc sách và ngọc quỹ: “Trong sân miếu chọn đất đào hố, ở giữa đặt hòm đá, hòm vuông năm thước, dày hai thước, trong chứa hòm ngọc, khắc ba đường dây vàng, rộng một tấc, sâu năm phân, chỗ buộc dây khắc sâu bốn tấc, vuông ba tấc năm phân, chứa ấn ‘Thiên hạ đồng văn’. Khi tế xong, Thái úy dâng hòm ngọc đặt vào trong đó. Tướng tác giám dẫn người nâng nắp đá[6], dày một thước, buộc dây, đắp bùn, đóng ấn, đều theo chế độ phong đàn Xã Thủ. Hoàng đế xem xong, lại thêm nắp, trên đó đắp kín như đàn nhỏ, rộng và dày năm thước.” Theo lời tâu.

[47] Châu Hoạt tâu rằng sông lớn chảy theo hướng bắc, chiếu sai quan đến tế.

[48] Ngày Nhâm Thân, bỏ trại Đại Tuyền Lĩnh ở châu Nghi, vì thiếu nước.

[49] Ngày Quý Dậu, Trần Nghiêu Tẩu tâu rằng trong phủ Hà Trung lúa mùa thu tốt tươi, giá thóc rất rẻ, một bó cỏ giá bốn tiền, lại hái lúa đậu dâng lên.

[50] Ngày Ất Hợi, một nghìn bảy trăm phụ lão phủ Hà Trung đến cửa khuyết đón xa giá, Vua hỏi thăm, ban cho tiền và lụa. Theo chế độ cũ, ngày nghỉ cửa cáp không có lệ từ kiến, Vua thấy họ từ xa đến, đặc cách cho vào chầu rồi cho về.

Từ kinh đô đến phủ Hà Trung có hai đường: một đường từ châu Thiểm qua cầu phao, qua núi Bạch Kính; một đường từ bến Tam Đình qua sông. Quan Ty thiên Bảo chương chính là Giả Chu tâu rằng hai đường này núi hiểm, nước xiết, không bằng đi ra ải Đồng Quan, qua hai sông Vị, Lạc đến Bồ Tân, đất bằng phẳng, dù có khởi công cũng chỉ khoảng mấy chục dặm. Việc này giao cho Trần Nghiêu Tẩu và các quan bàn, xin theo lời Giả Chu. Sông Vị ở trấn Tân Thị, châu Đồng, có nhiều bãi cát, từ đây đi hơi về phía nam rồi tây, vòng qua mười mấy dặm, chỗ hẹp có thể nối thuyền làm cầu.

Lại làm cầu phao trên sông Lạc thẳng đến Hà Trung. Lại xét đường cũ Trù Tang, dọc theo vách núi phía tây nam có vách đá dựng đứng, mỗi khi mưa lớn thường bị sạt lở, bèn dời đường từ phía nam huyện Linh Bảo vào đường châu Quắc, đến ải Hàm Cốc, hợp với đường cũ trước miếu Hán Vũ.

[51] Tháng 9, ngày Bính Tý, mùng một, Vua ngự đến cửa Tả Thừa Thiên Tường Phù xem lễ thượng lương, ban cho các quan theo hầu áo bào, đai vàng, tiền cho dân phu có khác nhau.

[52] Đổi vườn Hàm Phương thành vườn Thánh Thụy.

[53] Ngày Mậu Dần, xuống chiếu cho hành cung phía tây, sai ty Nghi Loan chỉ dùng màn dầu làm nhà để phòng túc vệ, không cần lợp bằng tre nứa.

[54] Ngày Kỷ Mão, bãi bỏ việc mua lương thực ở Giang Nam.

(Sách 《Thực lục》 chép rằng Giang, Hoài đã bãi bỏ từ tháng trước.)

[55] Ngày Canh Thìn, quan Tri châu Dương Châu là Hứa Thích xin tạm ngừng việc thuê thuyền ở lộ Lưỡng Chiết, để thương nhân có thể chở lương thực cứu giúp dân bị hạn, Vua đồng ý. Hứa Thích là người huyện Hấp.

[56] Muối ở ao Giải tự nhiên sinh ra dài mấy chục dặm, Trần Nghiêu Tẩu và các quan dâng lên tổng cộng bốn nghìn bảy trăm cân. Ngày Tân Tỵ, chia ban cho các quan cận thần và các quan ở Tam Quán, Bí Các.

[57] Quan Chuyển vận sứ Hà Đông, Lang trung Binh bộ là Trần Nhược Chuyết xin chuyển mười vạn xâu tiền, vải, cỏ, lúa từ bộ mình đến Hà Trung để giúp kinh phí, Vua đồng ý.

[58] Ngày Quý Mùi, xuống chiếu cho châu Tương ban ba mươi vạn tiền cho con của Lư Đa Tốn là Sát để lo việc chôn cất cha mẹ.

[59] Trần Nghiêu Tẩu tâu xin dựng đàn ở trên gò Thùy, theo quy chế của đàn phương khâu. Phía bắc miếu có hai cây bách cổ, bên cạnh có gò đống, liền dùng ngay đất ấy để dựng đàn.

[60] Ngày Bính Tuất, chúa Khiết Đan sai Lâm Hải tiết độ sứ Tiêu Át Lĩnh và Cấp sự trung Thất Trình đem di vật của mẹ mình đến dâng. Lại sai Tả Uy vệ Thượng tướng quân Tiêu Thiện Ninh và Tả Lĩnh vệ Đại tướng quân Trương Sùng Tế dâng áo ngự, đai văn tê, ngựa quý, cung tên để tạ lễ phúng viếng.

[61] Vua đối đáp với tể tướng ở Long Đồ các, xem bức tranh đón rước thiên thư.

[62] Xuống chiếu đốc thúc các châu bắt giặc, những kẻ cố ý phạm tội để cầu ân huệ, dù gặp ân xá cũng phải giam lại tâu xin xử trí.

[63] Hữu ty xin trước ngày tế bảy ngày, sai quan đến tế ở trong địa phận Hà Trung phủ các miếu Phục Hy, Thần Nông, Hoàng Đế, Vũ, Thang, Văn Vương, Vũ Vương, Hán Văn Đế, Chu Công và tế dưới gò Thùy sáu Vua đời Hán, Đường, Vua nghe theo.

[64] Ngày Đinh Hợi, Vua làm bài Minh ghi bên phải chỗ ngồi của tông thất và chú thích, ban cho Ninh Vương Nguyên Ốc trở xuống, theo lời thỉnh cầu của Phán Tông chính tự Triệu Tương.

[65] Ngày Kỷ Sửu, Tri Hoa châu Thôi Đoan tâu rằng có hơn hai nghìn bốn trăm phụ lão muốn đến cửa khuyết xin Vua đến Tây Nhạc, Vua xuống chiếu trả lời.

[66] Ngày Canh Dần, xuống chiếu từ Kinh đến Hùng châu, các huyện, trấn, lệnh tá, sứ thần, ai cung cấp đầy đủ dịch trạm cho sứ thần nước Khiết Đan, cho phép ghi vào sổ làm thành tích, khi thay về, được bổ chức ưu tiên.

[67] Trần Nghiêu Tẩu đến Phần Âm, nhiều lần tâu về điềm lành mây lành. Ngày Tân Mão, quần thần đến các tâu mừng.

[68] Ngày Nhâm Thìn, xuống chiếu ban tiền cho quân sĩ vận chuyển đồ tế Phần Âm bằng đường thuỷ, bộ.

[69] Ngày Quý Tỵ, đánh chết viên quan nội thị cao cấp là Giang Thủ Ân. Lúc đó, Thủ Ân chỉ huy quân sĩ kéo xe chở đá đóng quân ở trại Tổ Thôn, châu Trịnh, vì vi phạm quy định mua lúa non, tư lợi sai khiến 600 quân sĩ, cướp lúa mạch của dân, cùng với việc không tuân chiếu chỉ, tự ý chỉ huy dân phu, đánh đập vô cớ khiến 200 người bỏ trốn, lại sai dân phu là Thái Văn Nghĩa đi mua lừa không được[7], đánh đến chết. Vua rất tức giận, xuống chiếu cho Giám sát Ngự sử Vương Nghênh điều tra, tận tay viết lời răn dạy rồi phái đi. Vụ án kết thúc, Thủ Ân bị xử tử, Tri châu là Thái thường Bác sĩ Du Hiến Khanh không chịu ban hành chiếu chỉ, dâng sớ kháng nghị xin tha tội, bị giáng một chức. Chuyển vận sứ, Đề điểm hình ngục quan và Thông phán châu Kinh Tây vì không phát hiện việc này, đều phải nộp tiền để chuộc tội. Lại lệnh cho Viện Tiến Tấu thông báo khắp thiên hạ. Vua nói: “Vương Nghênh xét án này rất công minh, đáng khen ngợi.” Sau đó, Vương Nghênh được bổ làm Thôi quan phủ Khai Phong, ban áo tía. Thủ Ân tuy là người thân cận, nhưng Vua không dung túng, người đương thời đều cho rằng triều đình trị vì nghiêm minh, xử phạt không thiên vị, trong ngoài đều vui mừng.

(Du Hiến Khanh, người châu Hấp, nhưng bản truyện không ghi chép việc ông từng làm Tri châu Trịnh, cần xem xét thêm. Về Vương Nghênh, chưa rõ lai lịch.)

[70] Trước đó, các quan bàn rằng bên cạnh đền thờ khó tổ chức lễ triều kiến, muốn đợi khi trở về Hà Trung mới tổ chức hội triều và ban ân xá. Bấy giờ, Trần Nghiêu Tẩu và các quan tâu rằng trước hành cung Bảo Đỉnh có thể dựng đàn tế như lễ Đông Phong. Vua nghe theo lời tâu của Nghiêu Tẩu.

[71] Ngày Giáp Ngọ, xuống chiếu tu sửa miếu thờ ở núi Đại Bạch, phủ Phượng Tường và miếu núi Quy Sơn, châu Tứ.

[72] Ngày Đinh Dậu, xuống chiếu cho các châu trước đây cấm cung tên, từ nay trở đi chỉ cấm những cung tên không có đốt liền, còn lại không cấm.

[73] Ngày Mậu Tuất, Công tào tham quân phủ Khai Phong là Trương Quân Phòng dâng sớ nói: “Nhà Đường là Thổ đức, ngũ vận kế thừa, quốc gia ta nên kế thừa chính thống nhà Đường, dùng Kim đức làm vương. Hơn nữa, họ Chu Lương tuy nhận thiện nhượng của nhà Đường nhưng sau đó nhà Đường khôi phục, không thể coi là kế thừa chính thống. Nhà Tấn xưng Kim đức, còn ở Giang Nam, Lý Biện thời đó thực sự xưng là nhà Đường. Nhà Hán kế thừa nhà Tấn xưng Thủy đức, chỉ được 4 năm thì diệt vong. Nhà Chu kế thừa nhà Hán là Mộc đức, chỉ được 9 năm thì bốn phương chia cắt. Thái Tổ nhận thiện nhượng của nhà Chu vào năm Canh Thân, năm Khai Bảo Ất Hợi bình định Giang Nam. Đến khi Thái Tông lên ngôi, định xong đất Tịnh, Phần, từ đó thống nhất thiên hạ. Như vậy, quốc gia ta kế thừa Kim đức để nhận mệnh trời, điềm báo đã rõ ràng.” Ông cũng dâng lên bộ sách luận 4 quyển do mình soạn.

Vua nói: “Nói về việc này đã nhiều rồi. Hơn nữa, lúc đầu nước ta theo ý kiến chung lấy Hỏa đức, nay sao có thể đột ngột thay đổi được?” Quân Phòng là người Khai Phong.

[74] Ngày Kỷ Hợi, Phát vận sứ Giang, Hoài là Lý Phổ tâu: “Năm nay vận chuyển lương thực mùa xuân tổng cộng 6.790.000 thạch, các lộ đều để lại đủ dùng trong 3 năm. Giang Nam để lại 1.700.000 thạch, ngoài ra còn nộp 500.000 thạch; Hoài Nam để lại 3.300.000 thạch, ngoài ra còn nộp 570.000 thạch, số để lại dùng để cứu tế. Lưỡng Chiết có 1.500.000 thạch, ngoài số nộp, còn 910.000 thạch dùng để cứu tế Hoài Nam.”

[75] Ngày Giáp Thìn, trong cung đưa ra tờ chiếu cho các đại thần, lệnh ban xuống cho An phủ sứ Giang, Hoài Nam, dạy về 12 điều đạo lý an dân.

[76] Mùa đông, tháng 10, ngày Bính Ngọ mùng một, Trần Nghiêu Tẩu tâu rằng sông Hoàng Hà vỡ đê ở thôn Bạch Phù Đồ, đang sửa chữa thì bị gió nam thổi mạnh, nước sông lại trở về dòng cũ. Các quan tể tướng dâng biểu chúc mừng.

[77] Lệnh Trung thư mỗi ngày họp ở sảnh Vương Đán, đến giờ Thìn thì tan.

(Theo 《Vương Khuê hội yếu》, đoạn sau ghi chép việc chính sự của Trung thư bị trì trệ. Nay căn cứ theo Thực lục, phụ vào tháng 4 năm thứ 8, ngày Giáp Tý.)

[78] Dân ở phủ Hà Trung là Cự Chiểu đến gặp Trần Nghiêu Tẩu, nói rằng ông tổ năm đời của mình là Cự Thành, vào thời Đức Tông, ban đêm mơ thấy có người bảo rằng: “Ở thung lũng Thương Lăng thuộc núi Trung Điều có báu vật linh thiêng, được bọc bằng vàng, ngày mai hãy đến lấy. Đợi khi thiên thư viết bằng chữ triện đỏ xuất hiện, có thể dùng để tham khảo.” Theo lời đó, ông vào thung lũng khoảng ba bốn dặm, ban đêm thấy ánh sáng vàng dưới một tảng đá, đập vỡ ra thì được một cân vàng và một cuộn lụa có chữ[8], liền đem về cất giữ trong nhà, Cự Thành tự tay viết chữ làm dấu.

Sau hơn hai trăm năm, trải qua nhiều lần binh lửa và đói kém, nhưng gia đình ông vẫn không bị tai họa. Tấm lụa đó dài hai trượng[9], rộng chín tấc, thông phán Tào Cốc xem xét, nói rằng chữ triện rất lạ, văn tự giống như trong kinh đạo.

Ngày Canh Tuất, Trần Nghiêu Tẩu nhờ trung sứ Triệu Đôn Tín đem dâng lên. Phong cho Cự Chiểu làm Trợ giáo của phủ, ban cho y phục, đai bạc, đồ dùng và lụa. (Tào Cốc, chưa rõ. Năm đó có một người khác làm Độ phán.) Trần Nghiêu Tẩu lại tâu rằng các bô lão ở châu Giải muốn đến kinh đô nghênh đón xa giá, Vua xuống chiếu cho Nghiêu Tẩu khuyên họ thôi.

[79] Ngày Tân Hợi, châu Hùng tâu rằng châu Trác của Khiết Đan gửi thư, nói rằng nước họ sắp đánh Cao Ly, phái Hữu Giám môn Vệ tướng quân Gia Luật Ninh mang thư đến báo. Vua nói: “Trước đây đã phái Tôn Thích báo việc đông phong, Khiết Đan đón Thích ở biên giới, chỉ gửi thư trả lời. Nay sứ giả của họ đến, nên phái người tiếp đón, tỏ rõ vẫn giữ lời ước trước, nếu họ nhất định muốn vào kinh đô, cũng thuận theo ý họ.” Khi Ninh đến châu Trác, Lý Doãn Tắc giữ lại, Ninh nói rằng phụng mệnh nước để báo việc cơ mật, không dám dừng lại. Doãn Tắc liền phái sứ thần đưa ông ta đến kinh đô.

[80] Ngày Đinh Tỵ, quần thần đến cửa cáp môn dâng biểu chúc mừng việc tìm được linh bảo chân văn.

[81] Hàng năm vào ngày lễ đản thánh, hoàng thân và các quan cận thần đều được phép tâu xin cho người xuất gia theo đạo Phật hoặc đạo Lão, và được ban áo tía. Vì số lượng tâu xin quá nhiều, có người còn làm giả. Ngày Mậu Ngọ, ban chiếu rằng từ nay phải xuất gia trên 5 năm mới được tâu xin, và phải kê rõ quê quán, nơi ở, tuổi tác, hành nghiệp để tâu lên.

[82] Ngày Canh Thân, Đinh Vị và các quan dâng lên 《Đại Trung Tường Phù Phong Thiền Ký》 gồm 50 quyển. Vua viết lời tựa, cất giữ ở bí các, ban thưởng cho Đinh Vị và các quan khí vật và lụa.

[83] Ngày Đinh Mão, sai Hữu ty gián, Trực sử quán Lý Điệp làm sứ sang chúc mừng sinh thần Vua Khiết Đan, Lục trạch sứ, Hợp Châu đoàn luyện sứ Bạch Thủ Tố làm phó. Giám sát ngự sử Khất Phục Củ làm sứ chúc mừng năm mới, Cung phụng quan, Cáp môn chi hậu Trạch Kế Tư làm phó. Thủ Tố ở biên giới lâu năm, tiếng tăm lừng lẫy khiến địch e sợ. Vua lo ngại ông không muốn đi, bí mật sai nội thị đến hỏi ý kiến, Thủ Tố khóc lóc cảm động, nên đổi lấy Nội viên phó sứ Thôi Khả Đạo thay thế.

(Khả Đạo là người Vận Châu. Khất Phục Củ đã nhắc đến tháng 4. Trạch Kế Tư, chưa rõ quê quán.)

[84] Ngày Mậu Thìn, sai Tam ty sứ Đinh Vị đến Phần Âm lo việc kế hoạch lương thảo. Sau đó có chiếu rằng: Đinh Vị đến Thiểm Tây, những nơi mất mùa thì miễn thuế, lệnh cho châu huyện không được bắt nộp theo thời hạn thường lệ.

[85] Tri Hùng Châu Lý Doãn Tắc tâu rằng quân Khiết Đan từ Hiển Châu đánh sang Cao Ly, dự định tháng 12 sẽ về Trung Kinh, có lẽ là lo ngại sứ thần triều đình đến đó. Lại tâu lên số quân Khiết Đan, và nói: “Mỗi khi điều động binh lính, trước hết hạ lệnh cho họ tự chuẩn bị vũ khí, lạc đà ngựa, lương thực, nên những gì cướp bóc được không đủ bù đắp những gì mất mát. Lại thường bắt những người Hán trong nước có tội sung quân, gọi là Kiêu Vũ, mọi người đều oán hận, không chịu phục vụ. Lại cho phép về thăm nhà, gây nhiều phiền nhiễu cho làng xóm, cướp bóc của cải, trong số đó có người là hộ hai nước nộp thuế, đã gửi văn thư đến Trác Châu yêu cầu chấm dứt.”

[86] Ngày Quý Dậu, dời Tế châu Đoàn luyện sứ, Tri Bộc châu Tương Tín làm Hoạt châu Trú bạc Bộ thự, vì Tín tham lợi buông lỏng kẻ dưới, không phải là tài năng trị dân.

[87] Ngày Ất Hợi, Lễ nghi sứ Vương Khâm Nhược tâu: “Theo nghi thức, khi tế lễ Hậu Thổ Địa Kỳ xong, Thái úy phong ngọc sách vào hòm đá ở sân miếu, các quan đứng xếp hàng ở sân. Hoàng đế vào miếu, lễ xong, đến phía nam hòm đá, quay mặt về hướng bắc xem xét. Hàn lâm Thiên văn Hình Trung Hòa và các quan xin đặt hòm đá ở gian phía tây điện trước, gần phía bắc đất Nhâm, hoặc nếu không muốn động đất bên cạnh thần, thì đổi sang đất Nhâm ở điện sau. Thần xét kỹ nghi thức, vốn nói phong hòm ở sân miếu, là để gần gũi thần linh, tỏ rõ điển lễ. Nếu đặt ở đất Nhâm, dâng ở điện khác, dù tiện việc, cũng không hợp lễ. Hơn nữa, lễ dâng tế đã xong, vẫn mặc áo cổn miện, đi khắp hành lang[10], đến sân sau, đi lại xa xôi, nghi thức cũ không có. Lại xem kỹ bản vẽ miếu, chưa đến chỗ đặt hòm, xin dừng lại dưới lan can điện chính, đặt hòm đá, để trăm quan cùng trông thấy đàn linh.” Vua xuống chiếu giao Trần Nghiêu Tẩu và các quan xét định, bèn xin đặt hòm dưới điện chính, lại làm rào bảo vệ sạch sẽ, tâu xong. Khâm Nhược lại xin cấm việc tang trong ba ngày ở các phường chợ trên đường xa giá đi qua, Vua theo.

[88] Tháng đó, ty Hoàng thành tâu rằng: Phó chỉ huy sứ Lã Ngộ của viện Sát phỏng Ngự long trực ban, lúc chiều tối say rượu trở về, ngựa chạy không kiềm chế được, khiến dân làng Thạch Khiêm bị ngựa dẫm phải mà bị thương. Lại tâu rằng: Bình thường các tướng sĩ trong ban không có lý do thì không ra ngoài, nay không thể ngăn cấm được. Vua nói: “Có thể giao cho Khai Phong phủ xét hỏi.” Nhân đó bảo Vương Đán rằng: “Các tướng sĩ cấm quân, không có lý do thì không cho ra khỏi ban, nên mỗi ban đặt hai người đi chợ. Triều Thái Tổ pháp lệnh nghiêm ngặt, không ai dám phạm. Đến triều Thái Tông khoan dung hơn, nhưng cũng đâu dám say rượu cưỡi ngựa!” Vương Đán nói rằng những người này đều là kẻ kiêu dũng, nên nhân việc này mà răn bảo, Vua cho là phải.

[89] Tháng 11, ngày Bính Tý mùng một, sai ty Lưu thủ Đông Kinh và Tây Kinh, các châu Hà Dương, Thiên Hùng, Thiền, Từ v.v… các trưởng lại đề cử các châu lân cận việc tuần tra bắt giặc, các lộ Bộ thự và các châu Hà Bắc, Hà Đông, Hà Tây v.v… cũng làm như vậy, vì sắp đến lễ lớn.

[90] Ngày Canh Thìn, dời cái đồng hồn nghi do Hàn Hiển Phù ở ty Thiên đài chế tạo đến Long Đồ các, triệu các phụ thần đến cùng xem, nhân đó sai Hiển Phù chọn các quan giám hoặc con cháu có thể dạy được để truyền lại phép ấy.

[91] Ngày Canh Dần, triệu tể tướng đến Long Đồ các yết kiến tượng thánh của Tuyên Tổ và Thái Tổ, sai nội thần đem an trí ở hạ cung các lăng An Lăng và Vĩnh Xương.

[92] Ngày Nhâm Thìn, Vua triệu tập Tư chính điện Đại học sĩ Hướng Mẫn Trung, Long đồ các Học sĩ Đỗ Hạo, Trực học sĩ Trần Bành Niên, Đãi chế Trương Tri Bạch, Tôn Thích, Tra Đạo cùng các quan biên tu sự tích quân thần là Giám sát Ngự sử Trần Tòng Dịch, Đại Lý tự Thừa Bí các Hiệu lí Lưu Quân đến điện Sùng Chính, cho ngồi. Vua nhìn Mẫn Trung và các quan nói: “Tòng Dịch và các ngươi nhiều lần dâng văn chương, đều có thể xem được.” Bèn sai đem bút nghiên, bảo làm ngay tại chỗ bài thơ “Thụy Tuyết Ca”“Tự Phần Âm Thi”. Vua ra đề, Bành Niên chép lại. Khi dâng lên, Vua xem xong, nói: “Văn chương của Lưu Quân khá phong phú.” Đều ban cho áo tía và cá vàng. Lại bảo Mẫn Trung rằng: “Ngày nay học giả dễ dàng có được sách vở.” Mẫn Trung đáp: “Lúc đầu quốc gia chỉ có nhà Trương Chiêu có bộ Tam Sử. Thái Tổ bình định bốn phương, Thái Tông sùng thượng Nho học, tiếp nối bởi bệ hạ ham thích cổ học và văn chương, nay bộ Tam Sử, 《Tam Quốc Chí》, 《Tấn Thư》 đều được khắc in, sĩ đại phu không cần tốn sức mà nhà nào cũng có sách cổ, đây thực là thịnh thế ngàn năm vậy.”

[93] Chiếu rằng: “Sắp tới khi ra Tây Kinh, đi qua cửa Lệ Cảnh, Kim Diệu, Bình Đầu, sẽ đổi sang đi xe nhỏ, còn xe lớn kim ngọc đều đi ngoài thành.” Trước đó, Hữu ty tâu rằng khi đến phía tây kinh thành, chuẩn bị nghi trượng loan giá, hoàng đế đi xe lớn, nhưng cổng thành thấp hẹp không thể qua được, xin nâng cao mở rộng. Vua lo ngại làm khổ dân, nên có chiếu này.

[94] Lý Doãn Tắc nói: “Những năm gần đây, Khiết Đan đem quân đánh Nữ Chân. Quân Nữ Chân chỉ có khoảng một vạn người, nơi ở của họ có thành tro, đổ nước vào thì đóng băng cứng, không thể trèo lên được, cách thành ba trăm dặm, đốt hết kho lương thực, đặt phục binh trong rừng núi để chờ đợi. Khiết Đan không thể công thành, ngoài đồng không có gì để cướp, bèn dẫn quân kỵ rút lui, bị quân núi rừng đánh úp giết chết rất nhiều. Nay Khiết Đan tiến đánh Liêu Dương, phạt Cao Ly, lại đi qua đất Nữ Chân, Nữ Chân tuy nhỏ, nhưng Khiết Đan chắc chắn không thể thắng được.” Lại vẽ bản đồ dâng lên, lại nói: “Khiết Đan lấy Tây Lâu làm Thượng Kinh, Liêu Dương làm Đông Kinh, ở phía đông chính và hơi chếch về nam so với Trung Kinh. Tục lệ của họ là sau khi chôn cất xong thì giữ mộ, có người nói quốc chủ muốn giữ mộ mẹ, nên nói là đánh Cao Ly rồi đóng quân ở thành Liêu Dương.”

Vua nói với Vương Đán rằng: “Khiết Đan đánh Cao Ly, nếu Cao Ly cùng khốn, hoặc quy phục ta, hoặc đến xin viện binh, thì nên xử trí thế nào?” Đán nói: “Nên xét việc lớn. Khiết Đan đang giữ gìn hòa hảo, còn Cao Ly mấy năm liền không đến cống nộp.” Vua nói: “Đúng vậy. Có thể dụ bảo Thị Kỳ Húc ở Đăng Châu, nếu sứ Cao Ly đến xin viện binh, thì nói rằng mấy năm không cống nộp, không dám tâu lên triều đình; nếu có người đến quy phục, thì cứ an ủy vỗ về, không cần tâu báo.”

Ban đầu, Vua Cao Ly là Vương Tụng mất, em trai là Vương Tuân tạm quyền coi việc nước, từng xây sáu thành ở biên giới, gồm: Hưng Châu[11], Thiết Châu, Thông Châu, Long Châu, Quy Châu, Quách Châu. Người Khiết Đan cho rằng Cao Ly có ý phản bội mình, bèn sai sứ đòi sáu thành, nhưng Vương Tuân không chịu. Khiết Đan liền đem quân đánh úp dưới chân thành, đốt phá cung điện, cướp bóc dân chúng. Vương Tuân dời đến ở tại Thăng La Châu để tránh.

Khi quân Khiết Đan rút lui, Vương Tuân bèn sai sứ xin giảng hòa. Khiết Đan nhất định đòi sáu thành, Vương Tuân liền điều quân phòng thủ sáu thành. Đến lúc này, Khiết Đan lại đem quân lớn sang đánh, Vương Tuân hợp binh với Nữ Chân chống cự, quân Khiết Đan đại bại, quân lính và tướng sĩ hiếm có ai trở về, quan lại tử trận quá nửa. Khiết Đan bèn lệnh cho U Châu, Kế Châu tuyển chọn những người từng làm quan hoặc biết chữ để bổ sung vào chỗ thiếu, lại đòi lấy một vạn bộ giáp trụ, nhưng Long Khánh nghi ngờ có mưu kế nên không cấp, rút quân về. Cao Ly lại xây thành ở phía đông sông Áp Lục, đối diện với thành Lai Viễn, bắc cầu qua sông, bí mật đóng quân để củng cố sáu thành.

(Theo 《Hội yếu》, biểu của Vua Cao Ly Vương Tuân dâng lên vào tháng 12 năm Đại Trung Tường Phù thứ 7, nói rằng năm Canh Tuất, quân Khiết Đan đánh úp dưới chân thành, Vương Tuân dời đến ở tại Thăng La Châu, điều quân phòng thủ sáu thành. Lại nói năm Đại Trung Tường Phù thứ 3, Khiết Đan đem quân lớn sang đánh. Xét năm Đại Trung Tường Phù thứ 3 chính là năm Canh Tuất, không rõ vì sao biểu của Vương Tuân lại có sự sai lệch như vậy, nay theo 《Quốc sử Cao Ly truyền》. Hoặc có thể năm đó Khiết Đan hai lần đánh Cao Ly, lần đầu thắng, lần sau thua, cần xét thêm.)

[95] Ngày Ất Mùi, Khả hãn Dạ Lạc Hột của Cam Châu Hồi Cốt sai Tả Ôn Tể tướng, Hà Cư Lục Việt Xu mật sứ, Trạch Phù Thủ Vinh đến cống.

[96] Ngày Mậu Tuất, Vua làm thơ ban cho cha mẹ của Kinh Tây Chuyển vận phó sứ Vương Tùy. Vương Tùy nhân dịp vào chầu, tự trình bày rằng cha đã hơn 80 tuổi, mẹ hơn 70 tuổi, đang ở Hà Nam, nay thuộc khu vực tuần tra của mình. Vua khen ngợi cha mẹ ông tuổi cao mà vẫn dạy dỗ con cái tốt, nên ban thưởng để biểu dương. Lại ban thêm thóc, vải, dê, rượu, cho phép Vương Tùy về nhà chúc thọ cha mẹ. Người đương thời đều cho đó là vinh dự.

[97] Ngày Canh Tý, châu Thiểm báo rằng sông Hoàng Hà ở huyện Bảo Đỉnh trong vắt, Vua sai quan đến tế lễ, các quan đều chúc mừng.

[98] Ngày Nhâm Dần, nước Khiết Đan sai sứ là Tả Vũ vệ Thượng tướng quân Gia Luật Đăng Chính, Phó sứ là Bí thư Thiếu giám Mã Dực đến chúc mừng lễ Thừa Thiên.

[99] Tháng 12, ngày Ất Tỵ mùng một, Trần Nghiêu Tẩu từ Phần Âm về triều, Vua mở tiệc ở điện Trường Xuân. Theo lệ cũ, khi mở tiệc ở nội điện, Tam ty sứ không được dự, nhưng lúc đó Đinh Vị vừa đi tính toán lương thảo trở về, nên đặc cách triệu đến dự.

[100] Châu Hùng báo tình hình quân Khiết Đan thua trận, Vua nói: “Chiến tranh là việc nguy hiểm, chỉ vì bất đắc dĩ, không thể ưa thích được.”

[101] Ngày Bính Ngọ, sông Hoàng Hà ở huyện Bảo Đỉnh lại trong, Kinh độ Chế trí Phó sứ Lý Tông Ngạc tâu lên. Vua làm thơ, các quan gần đều chúc mừng.

[102] Ngày Canh Tuất, Vua triệu các quan phụ chính đến điện Trường Xuân xem các vật cúng tế mới chế tạo ở hành điện Thiên Thư.

[103] Ngày Nhâm Tý, mở tiệc lớn ở điện Hàm Quang. Các quân hiệu đóng ở ngoài thành mới đều được lệnh dự tiệc đến hết. Đến tối, sai nội thị cầm chìa khóa đến các cửa, đợi mọi người ra hết thì đóng cửa tra chìa khóa, từ đó thành lệ.

[104] Ngày Quý Sửu, xuống chiếu cho dân nghèo và người đánh cá qua đò đều không phải nộp thuế.

[105] Theo lệ cũ, khi Vua đến tế ở miếu, đi vào cửa chính, đến sân, các quan đều quay về hướng đông. Vua cho rằng đang tôn kính tổ tiên thì nên tự khiêm nhường. Ngày Giáp Dần, xuống chiếu từ nay khi đến tế miếu, đi vào cửa phía đông, đến sân, không được bắt các quan quay về hướng đông.

[106] Ngày Ất Mão, cáo tế ở Thái Miếu. Đem Thiên Thư đến, theo nghi thức như khi tế ở Đông Phong.

[107] Ngày Bính Thìn, lấy Tư chính điện Đại học sĩ Hướng Mẫn Trung làm quyền Lưu thủ Đông Kinh; Tam ty sứ Đinh Vị làm Hành tại Tam ty sứ[12], Diêm thiết Phó sứ Lâm Đặc làm Phó.

[108] Ngày Đinh Tỵ, Hàn lâm học sĩ Lý Tông Ngạc dâng lên 1.566 quyển 《Chư đạo đồ kinh》 mới tu sửa, Vua xuống chiếu khen thưởng. Từ Tông Ngạc trở xuống, ban cho khí vật và lụa có khác nhau.

[109] Ngày Canh Thân, sai Bộ quân đô ngu hậu Viên Quý đến phủ Hà Trung, kiêm quản quân mã tiên phong. Những người đến châu Thiểm, lệnh cho Bộ thự Điền Mẫn quản lý[13].

[110] Ngày Tân Dậu, đến yết kiến ở cung Ngọc Thanh Chiêu Ứng.

[111] Trước đó, có sứ giả từ đảo Sa Môn đến, nói rằng nhiều người lưu đày chết đói, xin cấp thêm lương thực. Mã Tri Tiết nói: “Người lưu đày không có lý do được cấp lương thực.” Ngày Bính Dần, ban chiếu đặc cách cấp lương thực.

[112] Lý Tuấn, tri châu Tần, tâu rằng ở Hắc Cốc có nhiều đất hoang, nay đã chiêu mộ được 300 hộ trại dân, mỗi hộ có 3 đinh, tổng cộng 900 người, đóng ở các trại Tiểu Lạc Môn để phòng thủ biên giới.

[113] Trước đây, Hồ Đán biên soạn sách “Xuân Thu” về sự tích hai triều Hán, tâu với Thái Tông, xin cho mượn quan lại trong cung để chép lại. Thái Tông nói với các quan hầu cận: “Sách ‘Xuân Thu’ của Lã Bất Vi đều do các danh sĩ dưới trướng biên soạn, còn treo nghìn vàng ở chợ Hàm Dương, nói rằng: ‘Ai có thể thêm bớt một chữ thì sẽ thưởng.’ Nghe nói sách của Hồ Đán soạn chỉ dùng sách trong nhà, khen chê đều do ý riêng, sao có thể dễ dàng lưu truyền được? Đợi khi hoàn thành, sẽ lệnh cho Sử quán tham khảo và tâu lên.” Hồ Đán sợ hãi, bèn dừng lại.

Sau đó, Hồ Đán làm Thông phán châu Tương, sách hoàn thành, tổng cộng 100 quyển. Tri châu Tạ Bí lại tâu xin, bèn ban chiếu cho quan cấp bút mực, chép bản dâng lên, đến năm Thiên Thánh thứ 2 mới dâng lên.

[114] Ngày Đinh Mão, Thiêm thự Xu mật viện sự Mã Tri Tiết làm Hành cung đô bộ thự, Chiêu tuyên sứ, Trưởng châu phòng ngự sứ Lưu Thừa Khuê quản lý công việc trong hoàng thành.

[115] Vua cho rằng lễ tế ở Phần Âm sắp đến, ban chiếu cho Thái quan dâng thức ăn chay. Tể tướng và bá quan ba lần dâng biểu xin Vua dùng bữa như thường. Vua nói: “Thái Tổ, Thái Tông mỗi khi tế giao đều kiêng thịt. Trẫm ba lần tế ở Viên Khâu đều tuân theo, chỉ là bên ngoài không biết mà thôi. Khi đi đông phong cũng tự kiêng ăn chay, không cần khăng khăng thỉnh cầu.” Ngày Kỷ Tỵ, soạn sách “Phụng Thiên Tí Dân Thuật” để khuyên dụ Vương Đán và các quan. Vương Đán thấy mọi người tha thiết xin, bèn thỉnh cầu Vua đến Tây Kinh sẽ bắt đầu dùng lại đồ mặn. Vua chấp thuận.

[116] Cấm những người tùy tùng đốt cỏ cây ven đường.

[117] Chiếu cho Thiên thư nghi vệ phó sứ Vương Khâm Nhược, Triệu An Nhân, Phù thị sứ Đinh Vị, Long đồ các trực học sĩ Trần Bành Niên cùng Thái thường lễ viện xem xét định ra nghi thức phụng sự Thiên thư để tâu lên. Sau đó, Vương Khâm Nhược và các người khác soạn thành năm quyển dâng lên.

[118] Ngày Canh Ngọ, Khiết Đan phái sứ giả là Bảo An tiết độ sứ Gia Luật Đức Thọ, Phó sứ Sùng Lộc thiếu khanh Lữ Đức Mậu đến chúc mừng năm mới.

[119] Ngày Tân Mùi, ban cho Lý Công Uẩn ở Giao Châu một trăm cuốn sách ngự bút của Thái Tông, theo lời thỉnh cầu của ông.

[120] Ngày Quý Dậu, cử Hướng Mẫn Trung làm Quyền tu Ngọc Thanh Chiêu Ứng cung sứ.

[121] Hà Đông duyên biên an phủ ty[14] tâu rằng Khiết Đan đã đặt lại chợ biên giới ở phía nam Sóc Châu, chiếu theo điều ước cũ để dụ bảo.

[122] Tri tạp ngự sử Triệu Tương xin theo 《Chu lễ》 đặt chức Thổ huấn, Tụng huấn, biên soạn ghi chép về núi sông, di tích cổ, phong tục nơi đã đi qua, để Vua xem. Chiếu cho Trực tập hiền viện Tiền Dịch, Trực sử quán Trần Việt, Bí các hiệu lý Lưu Quân, Tập hiền hiệu lý Tống Thụ đảm nhiệm việc này, mỗi lần dâng lên một quyển.

[123] Long Đồ các Đãi chế Tôn Thích, nhờ kinh thuật mà tiến thân, giữ đạo tự xử, dù có lời nói cũng chưa từng a dua để lấy lòng. Vua từng hỏi về thiên thư, Thích đáp: “Thần ngu nghe rằng, ‘Trời có nói gì đâu’, há lại có sách sao!” Vua biết Thích chất phác trung thành, nên thường khoan dung.

(Chính truyện chép: Thích nhờ kinh thuật tiến thân, giữ đạo tự xử, dù có lời nói cũng chưa từng a dua để lấy lòng. Năm Đại Trung Tường Phù đầu tiên, phát hiện sách lụa bí ngữ ở cửa Tả Thừa Thiên, có người cho là thiên thư. Vua định đón rước, triệu tập tể tướng đến dưới mái tây điện Sùng Chính, Vương Đán nói: “Trời ban phù mệnh, thực là ứng với đức lớn.” Đều lạy hai lạy, xưng vạn tuế. Lại triệu hỏi Thích, Thích đáp: “Thần ngu nghe rằng, ‘Trời có nói gì đâu’, há lại có sách sao!” Vua đã đón thiên thư, đại xá cải nguyên, bố cáo việc này khắp thiên hạ, xây cung Ngọc Thanh Chiêu Ứng.

Năm đó, thiên thư lại giáng xuống Thái Sơn, Vua vì thân nhận phù mệnh, bèn bàn việc phong thiền, soạn lễ nhạc, Vương Khâm Nhược, Trần Nghiêu Tẩu, Đinh Vị, Đỗ Hạo, Trần Bành Niên đều dùng kinh nghĩa để phụ họa. Từ đó thiên hạ tranh nhau nói về điềm lành.

Chính truyện đã chép việc xây cung Chiêu Ứng, lại chép năm đó thiên thư lại giáng xuống Thái Sơn, Vua vì thân nhận phù mệnh, bèn bàn việc phong thiền. Xét lần đầu phát hiện thiên thư ở cửa Tả Thừa Thiên, đã bàn việc phong thiền, không phải vì thiên thư lại giáng xuống Thái Sơn mới bàn việc phong thiền, chính truyện sai vậy. Chính truyện đại để chuộng văn, văn quá thì sự tất sai thực, nay chỉ lấy câu “Trời có nói gì đâu”, há lại có sách sao, còn lại đều bỏ.)

Năm đó, đặc mệnh Hướng Mẫn Trung dụ Thích, bảo trình bày được mất của triều đình. Thích dâng bốn việc: nạp gián, thứ trực, khinh dao, bạc liễm, phần nhiều dùng lời của ông.

Khi sắp có việc đi Phần Âm, gặp năm hạn hán, giá lương thực ở các quận gần kinh sư tăng cao, Thích bèn dâng sớ nói:

(Phụ truyền của Thích chép: Năm Đại Trung Tường Phù thứ ba, sai Tể tướng Hướng Mẫn Trung dụ Thích. Xét Mẫn Trung lúc đó chỉ là Đại học sĩ điện Tư chính, chưa từng vào lại Trung thư, nay bỏ chữ Tể tướng.)

“Các Vua xưa bói việc chinh phạt năm năm, mỗi năm xem điềm lành, điềm lành đủ thì hành động, không đủ thì tu sửa đức hạnh và bói lại. Bệ hạ vừa xong việc phong thiền ở phía đông, lại bàn việc đi phía tây, như thế không phải là ý cẩn trọng của các Vua xưa bói việc chinh phạt năm năm, đó là điều không thể thứ nhất. Việc tế Hậu Thổ ở Phần Âm là việc không thường thấy.

Xưa Hán Vũ Đế sắp làm lễ phong thiền, muốn thong thả việc này, nên trước phong Trung Nhạc, tế Phần Âm, rồi mới tuần thú các quận huyện, dần dần đến Thái Sơn. Nay Bệ hạ đã lên phong thiền[15], lại muốn làm việc này, đó là điều không thể thứ hai. Theo 《Chu Lễ》, Viên Khâu và Phương Trạch là nơi tế trời đất, tức là Nam Giao và Bắc Giao ngày nay. Đầu thời Hán kế thừa nhà Tần, chỉ lập Ngũ Chỉ để tế trời, còn Hậu Thổ không có nơi tế, nên Vũ Đế lập đàn tế ở Phần Âm.

Từ thời Nguyên, Thành về sau, theo ý kiến của các công khanh, dời Hậu Thổ ở Phần Âm về Bắc Giao, các Vua sau phần nhiều không tế Phần Âm. Nay Bệ hạ lại muốn bỏ Bắc Giao mà tế Phần Âm, đó là điều không thể thứ ba. Nhà Tây Hán đô ở Ung, cách Phần Âm rất gần. Nay Bệ hạ phải qua nhiều cửa ải, vượt chướng ngại hiểm trở, kinh sư là gốc rễ, không dễ xa rời, đó là điều không thể thứ tư. Hà Đông là nơi khởi nghiệp của nhà Đường, nhà Đường lại đô ở Ung, nên Minh Hoàng thỉnh thoảng đến Hà Đông, nhân đó tế Hậu Thổ, việc này khác với triều ta. Nay Bệ hạ đột nhiên muốn tế Phần Âm, đó là điều không thể thứ năm. Gặp tai họa mà biết sợ, đó là lý do Chu Tuyên Vương trung hưng. Những năm gần đây, hạn hán liên tiếp, Bệ hạ nên sửa mình tu đức để đáp lại sự trách phạt của trời, há nên theo kẻ gian tà, làm khổ dân chúng, quên đại kế xã tắc, ham mê du ngoạn, đó là điều không thể thứ sáu.

Sấm xuất hiện vào tháng hai, biến mất vào tháng tám, nuôi dưỡng vạn vật, là tượng của Vua, mất thời thì thành dị, nay sấm nổ vào mùa đông, là điều dị thường rất lớn. Trời răn dạy rõ ràng, Bệ hạ chưa tỉnh ngộ, đó là điều không thể thứ bảy. Dân là chủ của thần. Vì vậy các Vua xưa trước hết làm cho dân yên ổn rồi mới chăm lo việc thần, dâng sinh tế mà cáo rằng ‘béo tốt đầy đủ’, ý nói sức dân đầy đủ; dâng lễ vật mà cáo rằng ‘gạo trắng thơm ngon’, ý nói ba mùa không bị hại mà dân yên năm được.

Nay việc xây dựng của quốc gia nhiều năm chưa dừng, hạn hán liên tiếp, đói kém nhiều, lại muốn làm khổ dân để thờ thần, thần có hưởng không? Đó là điều không thể thứ tám. Bệ hạ nhất định làm lễ này, cũng chỉ như Hán Vũ Đế, Đường Minh Hoàng, khắc đá khen công mà thôi, đó đều là hư danh. Bệ hạ trời ban thông minh, thần phú sáng suốt, đáng lẽ phải noi theo việc của các Vua Nghiêu Thuấn, Tam Vương, há chỉ học theo hư danh này? Đó là điều không thể thứ chín. Đường Minh Hoàng sủng ái hại chính, gian thần lộng quyền, đến nỗi thân bại nước nguy, binh đao vây cung. Nay có người dẫn chuyện Khai Nguyên cho là thịnh sự, muốn khuyên Bệ hạ làm theo, thần trộm nghĩ Bệ hạ không nên, đó là điều không thể thứ mười.

Thần còn sợ lời nói chưa đủ ý, mong được Bệ hạ hỏi thêm[16], để nói hết ý kiến.”

Vua sai nội thị Hoàng Phủ Kế Minh đến dụ rằng nếu còn có điều gì muốn trình bày, hãy viết thành điều khoản dâng lên. Do đó, Thích lại dâng sớ nói:

“Bệ hạ sắp đi đến Phần Âm, nhưng lòng dân kinh sư chưa yên, dân chúng Giang, Hoài khốn khổ vì việc điều phát, lẽ ra phải trấn an và thương xót họ. Hơn nữa, công trình xây dựng chưa dừng mà bọn trộm cướp ắt sẽ nổi lên, quân Bắc Lỗ đang luyện binh, không xa biên cảnh, dù có phái sứ giả đi, làm sao đảm bảo được lòng chúng!

Xưa Hoàng Sào nổi lên từ nạn đói, Trần Thắng khởi nghĩa vì lao dịch. Tùy Dạng Đế vì chăm lo viễn chinh, Đường Cao Tổ nhân đó mà dựng nghiệp; Thiếu chủ nhà Tấn mờ mịt về biên phòng, Gia Luật Đức Quang nhân đó mà mưu tính Hạ. Nay Bệ hạ nghe theo lời gian nịnh, bỏ xa kinh sư, không nghĩ đến nỗi khổ của dân, không lo lắng về biên hoạn, đi qua vùng đất nhiều năm đói kém, tu sửa đền miếu đã lâu bỏ hoang, làm sao biết được trong đám dân đói không có kẻ gian ác như Hoàng Sào? Trong đám người lao dịch không có kẻ có chí như Trần Thắng? Dưới trướng không có anh hùng đang rình rập? Nơi biên giới không có kẻ kiêu ngạo đang chờ thời?

Bệ hạ đang tế Hậu Thổ, dừng chân ở Hà Trung, nếu quân địch ngang ngược, đột nhiên kéo đến Thiền Uyên, Bệ hạ có biết Ngụy Hàm Tín có thể vững vàng giữ cầu sông không? Chu Oánh ở Trung Sơn có thể đánh lui quân địch không? Lại nếu có tướng cướp tụ tập ngoài đồng, cướp bóc châu huyện, xâm phạm vùng ngoại ô, tin tức truyền đến xa, há chẳng kinh hãi! Bệ hạ dù có ngồi gần hỏi kế, quần thần muốn mượn mưu kỳ lạ, theo thần đoán, e rằng không kịp.

Lại thấy bọn gian thần ngày nay, vì Tiên đế kính sợ thiên tai, xuống chiếu dừng phong thiền, nên khuyên Bệ hạ gắng sức làm lễ phong thiền ở phía đông, cho là tiếp nối chí Tiên đế. Tiên đế muốn bình định phương bắc, lấy lại đất Tây Hạ, đại nghiệp chưa thành, giao phó cho Bệ hạ, thế mà chúng chưa từng dâng một kế sách nào để giúp Bệ hạ tiếp nối chí Tiên đế, lại dùng lời lẽ nhún nhường, tiền của hậu hĩ để cầu hòa với Khiết Đan, thu hẹp đất nước, ban tước lộc để dung túng Bảo Cát, coi việc chúa nhục tôi chết là lời nói suông, lấy việc lừa dối cấp dưới, bịp bợm cấp trên làm trách nhiệm của mình, bịa đặt điềm lành, giả mạo quỷ thần, vừa xong lễ phong thiền ở phía đông, liền bàn việc đi về phía tây, làm khổ thánh giá, hại dân đói khổ, mong rằng đi về vô sự, cho rằng đã thành công lớn. Đó là Bệ hạ lấy nghiệp khó nhọc của tổ tông làm vốn liếng may mắn cho bọn gian tà, thần vì thế mà than thở đau lòng!

Thần minh trời đất, thông minh chính trực, làm thiện thì giáng trăm điều lành, làm ác thì giáng trăm điều dữ, há ở nơi lễ vật mà thôi sao? 《Xuân Thu truyện》 nói: ‘Nước sắp hưng thịnh, nghe theo dân; sắp diệt vong, nghe theo thần.’ Đó không phải là lời bàn bậy của kẻ ngu thần.”

Lúc đó, các quần thần thường dâng tấu về điềm lành, Thích lại dâng sớ nói: “Năm năm tuần thú, là điển chế thường thấy trong 《Ngu thư》[17], xem xét dân tình để thiết lập giáo hóa, là điều rõ ràng trong 《Hi Dịch》; cần gì phải đợi có khí tím mây vàng mới có thể phong nhạc, có lúa tốt cỏ lạ mới xem xét phương hướng! Nay lại có chim ưng núi và hươu rừng, đều được ghi chép tấu lên, hạn hán mùa thu và sấm mùa đông, đều được xưng tụng là điềm lành. Nếu muốn lừa dối trời cao, thì trời cao không thể lừa dối; muốn làm mê muội dân chúng, thì dân chúng không thể mê muội; muốn mê hoặc hậu thế, thì hậu thế ắt không tin. Trong bụng oán trách, trong lòng cười thầm, người có học thức đều biết rõ, làm tổn hại đến sự sáng suốt của bậc thánh minh, không phải là việc nhỏ.” Sớ dâng lên, không được trả lời.

(Sớ sau chưa chắc đã là năm nay. Xét tháng 9 năm nay, ngày Bính Tuất, nội thị Sử Sùng Quý nói rằng khi Kinh độ chế trí sứ mới đến Thùy Thượng, có một con hươu từ trong miếu đi ra, như thể dẫn đường, chính là con hươu núi mà Thích đã nói trong sớ. Sớ còn nói về hạn hán mùa thu và sấm mùa đông, xét mùa thu năm đó, Giang, Hoài mất mùa, chắc là do hạn hán. Sớ trước nói về sấm sét vào mùa đông, lúc đó Vua chưa đến Phần Âm, nên sấm mùa đông ắt là chỉ năm nay, vì thế gộp vào đây[18], cần xem xét kỹ hơn.)


  1. Đãi chế Trần Bành Niên làm Trực học sĩ, bản Tống và bản Tống toát yếu có thêm câu 'Thích Luân làm Xu mật trực học sĩ' tám chữ. Xét truyện Thích Luân trong 《Tống sử》 quyển 306, Luân làm Xu mật trực học sĩ vào năm Đại Trung Tường Phù thứ ba, lại xét câu dưới có văn 'Lại chiếu rằng Long đồ các học sĩ ở trên Xu mật trực học sĩ, cấp bổng như vậy', nghi ngờ sách này thiếu tám chữ đó.
  2. Có tội đều đưa đến phủ xử lý, chữ 'khu' nguyên là 'khu', căn cứ theo 《Trường biên kỷ sự bản mạt》 quyển 19 phần Tự Phần Âm, 《Tục thông giám》 quyển 29 sửa lại.
  3. 'Đình' nguyên bản viết là 'Đình', căn cứ theo các bản khác sửa lại.
  4. Chữ 'Lư' nguyên bản viết là 'Lô', theo các bản khác và 《Biên niên cương mục》 quyển 7, 《Tống sử》 quyển 7, 《Chân Tông kỷ》 sửa lại.
  5. Chữ 'Biệt' nguyên bản viết là 'Chế', theo các bản khác và 《Trường biên kỷ sự bản mạt》 quyển 19, 《Tự Phần Âm》 sửa lại.
  6. Tướng tác giám dẫn người nâng nắp đá: chữ 'đồ' nguyên là 'tỉ', theo bản Tống, bản Tống toát yếu, bản các và sách 《Trường biên kỷ sự bản mạt》 sửa lại.
  7. Lệnh sai dân phu Thái Văn Nghĩa đi mua lừa không được, chữ 'Nghĩa' nguyên bản là 'Nghệ', theo bản Tống, bản Tống Toát Yếu và 《Tống Sử Toàn Văn》 quyển 6 sửa lại.
  8. Được một cân vàng và một cuộn lụa có chữ 'cuộn lụa có chữ', bản Tống, bản Tống toát yếu và 《Trị tích thống loại》 quyển 4, phần Chân Tông Tường Phù đều ghi là 'cuộn sách lụa'.
  9. Tấm lụa đó dài hai trượng 'hai' nguyên bản ghi là 'ba', căn cứ theo bản Tống, bản Tống toát yếu và 《Trị tích thống loại》, 《Trường biên kỷ sự bản mạt》 quyển 19, phần Tự Phần Âm sửa lại.
  10. 'Biến lịch lang vu' nguyên bản chữ 'Biến' viết là 'Biên', theo bản Tống, bản Tống toát yếu và sách 《Trường biên kỷ sự bản mạt》 quyển 19, phần Tự Phần Âm sửa lại.
  11. Các bản khác và 《Thông khảo》 quyển 325 đều chép là Hưng Hóa
  12. Chữ 'Tam ty' dưới câu 'Tam ty sứ Đinh Vị làm Hành tại Tam ty sứ' vốn bị thiếu, theo bản Tống, bản Tống toát yếu, bản hoạt tự và 《Trường biên kỷ sự bản mạt》 quyển 19 phần Âm bổ.
  13. Lệnh Bộ thự Điền Mẫn quản lý, chữ 'Bộ' nguyên bản là 'Đô', theo bản trong các sách sửa lại
  14. Hà Đông duyên biên an phủ ty, nguyên bản là 'Hà Nam', căn cứ theo 《Tống hội yếu》 phiên di nhị chi ngũ sửa lại.
  15. Nay Bệ hạ đã lên phong thiền 'Đã' nguyên là 'trước', theo bản Tống, bản Tống toát yếu và 《Trường biên kỷ sự bản mạt》 quyển 19 sửa.
  16. Mong được Bệ hạ hỏi thêm 'Hỏi' nguyên là 'nhàn', theo sách trên sửa.
  17. 'Thường' nguyên bản là 'Đế', căn cứ theo sách trên mà sửa.
  18. 'Phụ' nguyên bản là 'sơ', căn cứ theo sách trên mà sửa.

Bản quyền

Tục Tư Trị Thông Giám Trường Biên Copyright © 2025 by khosachviet.com. All Rights Reserved.