"

III. TỐNG CHÂN TÔNG

QUYỂN 75: NĂM ĐẠI TRUNG TƯỜNG PHÙ THỨ 4 (TÂN HỢI, 1011)

Từ tháng giêng đến tháng 5 năm Đại Trung Tường Phù thứ 4 đời Chân Tông.

[1] Mùa xuân, tháng giêng, ngày Bính Tý, Quách Dụng Chi, Tri châu Mậu, tâu rằng: Thủ lĩnh và kỳ lão của tộc người Di là Đổng Biều v.v. trước đây thường xâm nhiễu, nay đã cùng nhau đến phía bắc châu, tại Tam Khê, giết trâu chó để thề sẽ không làm giặc nữa.

[2] Theo chế độ cũ, nếu quan lại huyện có thể chiêu mộ thêm được hộ khẩu, huyện đó sẽ được thăng hạng, đồng thời tăng bổng lộc. Đến mức có việc tách hộ khách thành hộ chính, tuy đã đăng ký vào sổ sách nhưng thuế má không tăng thêm. Ngày Mậu Dần, ban chiếu cấm việc này.

[3] Ngày Kỷ Mão, sai Khai Phong phủ Thôi quan, Thái Thường Thừa Lý Giai mang thư sang dụ Khiết Đan, vì việc đặc biệt tế lễ ở Phần Âm, lệnh đến biên giới giao cho quan lại địa phương.

(Lý Giai, không rõ lai lịch.)

[4] Ngày Canh Thìn, ban chiếu cho các quan lại ở các châu quân biên giới phía bắc, từ nay không được lấy cớ đón tiếp mà ra khỏi thành trại để săn bắn, người vi phạm sẽ bị xử theo tội vi phạm chế độ.

[5] Ban tặng khí tệ cho Trương Dĩnh, Thị giảng các vương phủ, Quốc tử Bác sĩ, vì ông đã giảng xong sách 《Thượng Thư》.

[6] Ty Đề điểm hình ngục Thiểm Tây tâu rằng: Phó Đô bộ thự Bân Ninh Hoàn Khánh là Trần Hưng, buông lỏng quản lý, để binh lính dưới quyền đi cướp bóc, lại không trị tội. Ngày Tân Tỵ, điều Vương Tự Tông, Tri Vĩnh Hưng quân phủ, thay thế ông ta.[1]

[7] Ở phía đông thành Bân Châu có miếu Linh Ứng Công, bên cạnh có hang núi, là nơi ở của nhiều con cáo. Các phù thủy lợi dụng chúng để đoán họa phúc, dân chúng rất tin tưởng, mỗi khi gặp hạn hán, dịch bệnh đều đến cầu khấn, dân gian kiêng kỵ không dám nhắc đến từ “hồ”. Khi Vương Tự Tông đến, ông cho hun khói đuổi chúng đi, lấp kín các hang, từ đó các tục thờ cúng mê tín chấm dứt.

[8] Ban chiếu rằng: Tất cả quan lại và người phụ trách việc tế lễ ở Phần Âm, nếu ai dám lười biếng, sẽ không được hưởng ân xá.

[9] Thủ lĩnh tộc Tàng Tài Tây và Trung tộc ở phía bắc Phong Châu là Nô Di, Hoành Toàn v.v. đều cử con trai đến triều cống.

[10] Ngày Quý Mùi, châu Đại tâu rằng giá một đấu thóc hơn mười đồng tiền.

[11] Ngày Giáp Thân, Triệu Đức Minh dâng biểu tố cáo Minh Ái và những người khác xâm phạm cày cấy đất ở biên giới châu Tuy của họ, xin cử sứ giả đến xem xét. Vua xuống chiếu cho Trương Sùng Quý xem xét kỹ lưỡng, lệnh cho Minh Ái và những người khác trở về nội địa.

[12] Ngày Ất Dậu, Vua thân hành tập lễ tế Hậu Thổ ở điện Sùng Đức. Ban đầu, các quan đã bàn định chỉ tập nghi thức trên đàn. Vua coi trọng đại lễ, nên tập cả nghi thức ở sân miếu và nghi thức phong ấn hòm đá.

[13] Vua sai Xu mật trực học sĩ Chu Khởi, Cáp môn kỳ hậu Quách Thịnh, Nhập nội điện đầu Diêm Văn Khánh biên soạn thứ tự cống phẩm.

[14] Cấp sự trung Chủng Phóng từ núi Chung Nam đến triều kiến.

[15] Ngày Đinh Hợi, Vua đến viện Khải Thánh bái yết điện Thần Ngự của Thái Tông, viện Phổ An bái yết Thánh dung của Nguyên Đức thái hậu, cáo báo sắp đi.

[16] Châu Định thu thuế sừng hươu quá nhiều, Vua xuống chiếu cho chuyển vận sứ Hà Bắc giảm bớt.

[17] Ngày Kỷ Sửu, Vua xuống chiếu: “Bạc rượu dùng trong đại lễ chỉ dùng đồ bạc thường dùng, không phải là ý cung kính thanh khiết của Trẫm. Hãy lệnh cho các quan đúc 15 chiếc, giao cho quang lộc tự cất riêng, khắc chữ làm dấu, không được dùng vào việc khác.”

[18] Ngày Canh Dần, Vua xuống chiếu cho dân nghèo ở vùng sông hồ được đánh cá, hào hộ không được chiếm đoạt. Theo lời thỉnh cầu của Tri châu Hồng Châu Vương Tế.

[19] Ngày Nhâm Thìn, Vua xuống chiếu cho dân phu phát cỏ ở cửa sông Biện thuộc phủ Hà Nam, châu Mạnh, châu Trịnh, thuế hạ năm nay chỉ nộp tại địa phương.

[20] Ngày Giáp Ngọ, Khách tỉnh sứ, Thứ sử châu Thành Lý Doãn Chính được bổ làm Bộ thự lộ Phu Diên. Lúc đó, Triệu Đức Minh có nhiều hành vi quá đáng. Ban đầu, Doãn Chính bị bệnh, được bổ làm Bộ thự Hà Dương để tiện dưỡng bệnh, chưa đầy nửa tháng lại vội điều đi. Vua lại sai nội thị mang chiếu mật đến thăm hỏi. Doãn Chính chưa đến nơi, Vua đã sai tính toán đường đi đến hành cung Phần Âm, Tào Lợi Dụng tạm quyền Bộ thự lộ Phu Diên.

(Bản truyện của Doãn Chính chép: Trương Sùng Quý chết, vội điều Doãn Chính. Xét Sùng Quý chết vào tháng 8 năm đó, lúc này chưa chết. Nếu là bệnh thì không rõ, nay tạm bỏ đi, để sau xét lại.)

[21] Văn Tư sứ Cận Hoài Đức được cử làm Thứ sử châu Trường, kiêm chức Kiềm hạt châu Ích. Hoài Đức từng trải qua nhiều chức vụ, nổi tiếng là người cương nghị, nhưng hay say rượu và phạm nhiều sai lầm. Trước khi lên đường, Vua ban chiếu riêng để răn dạy và khích lệ, lại còn trực tiếp dặn dò. Hoài Đức ở vùng Kiếm Ngoại, quả nhiên làm tốt chức vụ, được quân dân kính sợ và yêu mến.

[22] Vua cho rằng linh văn nhiều lần giáng xuống, nên hết lòng kính phụng. Lại muốn để lại lời dạy cho con cháu, khiến chúng phụng sự không lười biếng[2], bèn soạn lời thề. Ngày Ất Mùi, sai khắc vào đá đặt dưới gác Bảo Phù ở cung Ngọc Thanh Chiêu Ứng.

(Theo bản chí, tháng 4 năm Đại Trung Tường Phù thứ nhất, thiên thư lại giáng xuống gác Công Đức trong cung, nhưng Thực lục và bản kỷ đều không chép. Thực lục ở đây chép lời Vua rằng “Linh văn ba lần ban xuống”, là bao gồm cả gác Công Đức. Bản chí lại đổi “ba lần ban xuống” thành “nhiều lần giáng xuống”, nay theo bản chí. Thực lục vào ngày Nhâm Tuất tháng giêng năm Thiên Hi thứ nhất, nhân chiếu thư đặt tên tiết, mới ghi rõ việc này. Không rõ trước đó vì sao không tuyên bố.)

[23] Ngày Đinh Dậu, xa giá rời kinh sư, mang theo thiên thư. Trên mặt trời có khí vàng như dải lụa, mây ngũ sắc như cái lọng, khí tím che chở nghi trượng. Tối hôm đó, nghỉ tại huyện Trung Mâu.

[24] Ngày Mậu Tuất, nghỉ tại Trịnh.

[25] Sai Long Đồ các học sĩ Trần Bành Niên và đãi chế Vương Thự cùng xét duyệt các văn thư mời giá.

[26] Ngày Kỷ Hợi, nghỉ tại huyện Huỳnh Dương.

[27] Ngày Canh Tý, nghỉ tại huyện Củng. Hữu bộc xạ, phán Hà Dương Trương Tề Hiền đến yết kiến tại trạm Dĩ Thủy, hầu Vua dùng bữa xong, liền được sai về nhiệm sở.

[28] Ngày Tân Sửu, đi qua thôn Tí, dựng điện tạm, đặt thần vị của ba lăng, Vua mặc áo bào, đi hia, lạy khóc và dâng lễ. Hôm đó, trời quang đãng, vừa đến nơi nghỉ, khói xanh và sương trắng bốc lên từ lăng, chốc lát che phủ điện thần, lễ xong thì tan đi, mọi người đều cho rằng đó là do lòng thương xót của Vua cảm động. Tối hôm đó, nghỉ tại huyện Yển Sư.

[29] Xuống chiếu cho dân châu Đồng được phép vào Sa Uyển hái củi, không cấm.

[30] Ngày Nhâm Dần, xa giá đến Tây Kinh.

[31] Ngày Giáp Thìn, rời Tây Kinh, đến trạm Từ Giản, quan Thái quan bắt đầu dâng cơm chay. Có dân đang cày ruộng bên đường, Vua gọi đến hỏi thăm, ban cho trà. Tối hôm đó, nghỉ tại huyện Tân An.

[32] Tháng hai, ngày Ất Tỵ mùng một, dừng chân ở huyện Miễn Trì, đánh trượng lại phủ Thái Bộc Tự là Hoắc Đỉnh. Trước đây, trong đội nghi trượng đều dùng quân sĩ để phục dịch, nhưng Đỉnh tự tiện tập hợp dân nghèo để kéo xe. Vua biết chuyện, sai Lễ nghi sứ hặc tội và xử phạt, còn các quan phán tự và những người biên chế đội nghi trượng thì đặc xá không hỏi tội.

[33] Cấm người dân các ấp lấy danh nghĩa tiến phụng để tự ý nhuộm vải lụa dùng cho hoàng gia và chế tạo các vật dụng dùng cho xa giá, trang trí hình rồng phượng. Việc này theo lời thỉnh cầu của Chu Khởi, người biên chế việc tiến phụng.

[34] Lệnh cho Tri phủ Hà Nam là Tiết Ánh chế tạo mười chiếc xe nhỏ chở nước, giao cho Tam ty tại hành tại. Lúc đó, suối trên đường núi sâu, người gánh nước vất vả, Vua thương xót nên sai dùng xe chở nước để thay thế việc gánh vác.

[35] Xuống chiếu cho Bộ thự ty tại hành tại rằng, những tên lính đào ngũ và dân nghèo ăn trộm vặt thì không cần bắt giữ, nếu tái phạm sẽ xử theo pháp luật.

[36] Ngày Bính Ngọ, dừng chân ở huyện Giáp Thạch.

[37] Ngày Đinh Mùi, vào châu Thiểm. Hôm đó trời mưa, Vua bảo Điện tiền đô chỉ huy sứ Tào Xán rằng: “Quần áo của các quân, khi đi đường bị bùn lầy làm bẩn, không hề tiếc rẻ, đây đều là sức dân, nên nghiêm khắc nhắc nhở.”

[38] Ngày Mậu Thân, ban tiền cho các quân hộ giá.

[39] Xuống chiếu khen thưởng Quyền Đông Kinh lưu thủ Hướng Mẫn Trung và những người khác, vì nhà ngục không có tù nhân.

[40] Ngày Kỷ Dậu, dừng chân ở huyện Linh Bảo.

[41] Xuống chiếu rằng những con ngựa bệnh dọc đường đều đưa về giám Sa Uyển ở châu Đồng để chữa trị, lệnh cho Quần mục ty lập ra phép đánh giá để thưởng phạt.

[42] Ngày Canh Tuất, dừng chân ở huyện Hồ Thành.

[43] Ngày Tân Hợi, dừng chân ở huyện Văn Hương.

[44] Ngày Nhâm Tý, ra khỏi cửa Đồng Quan, qua sông Vị, dừng chân ở kho Nghiêm Tín. Sai cận thần tế lễ ở núi Tây Nhạc.

[45] Ngày Quý Sửu, dừng chân ở phủ Hà Trung.

[46] Ngày Giáp Dần, Công bộ thị lang Phùng Khởi được cử làm Khảo chế độ sứ, Viên ngoại lang Bộ Hình kiêm Thị ngự sử tri tạp sự Triệu Tương làm phó.

[47] Ngày Bính Thìn, dừng chân ở trấn Vĩnh An, sai cận thần tế lễ ở sông Hà Độc.

[48] Ngày Đinh Tỵ, khởi hành từ trấn Vĩnh An, có đám mây vàng bay theo xe Thiên thư, pháp giá vào cung Phụng Chi ở huyện Bảo Đỉnh.

[49] Sai trung sứ đốc thúc việc đào cửa sông Biện, lại ban yến thết cho các quan thuộc.

[50] Ngày Mậu Ngọ, làm lễ trai giới. Triệu tập các quan cận thần lên đình Diên Khánh, nhìn về phía nam thấy núi Tiên Chưởng[3], phía bắc nhìn xuống Long Môn, từ cung điện đến bờ sông, trồng nhiều cây quý, sáu đạo quân đóng trại xung quanh, cờ xí và màn trướng của hành cung rực rỡ chiếu sáng nơi giao thứ, ngắm nhìn rất lâu.

[51] Triệu Đức Minh sai sứ đến cống nạp.

[52] Ngày Kỷ Mùi, ở huyện Bảo Đỉnh, suối Phún Tuyền phun lên, có ánh sáng như ngọn đèn.

[53] Ngày Canh Thân, các quan ở lại nơi tế lễ.

[54] Ngày Tân Dậu, sắp đặt pháp giá đến đàn Thùy, hai bên đường đốt lửa, ánh sáng như ban ngày, đường đi quanh co, xung quanh có quân lính cầm cờ vàng hộ vệ. Ban đầu, đường đi qua phía nam miếu, Vua chưa đến lễ bái, không muốn ngồi xe đi qua trước miếu, nên sai đào đường đi phía sau miếu. Đến lúc này, đi theo đường mới đến đàn, mặc áo cổn, đội mũ miện lên đàn, tế thần Hậu Thổ, làm đủ ba lần dâng lễ, đặt thiên thư bên trái chỗ ngồi của thần, dùng Thái Tổ, Thái Tông cùng phối hưởng, đầy đủ như lễ phong thiền. Trước đó, trên đàn Thùy thường có gió, đến khi hành lễ thì gió lặng hẳn. Ty thiên tâu rằng khí vàng bao quanh đàn, mặt trăng có quầng sáng, các ngôi sao không thấy, chỉ có sao Đại Giác sáng rõ. Một lát sau, đổi mặc áo thông thiên quan, áo tía sa, ngồi xe đến miếu, hát ca dâng lễ, xem xét hòm đá phong ấn, sai quan chia nhau tế các thần. Lên đình Quỳ Khâu, nhìn sông Phần, ngắm núi Lương, quay lại nói với tả hữu: “Đây là nơi Hán Vũ Đế đi thuyền lầu. Niềm vui một thời, lưu danh thiên cổ.” Ngay hôm đó, trở về cung Phụng Chi, tiếng trống kèn vang dậy, khí tím bốn bề, người xem đầy đường. Dân chúng có người dắt già bồng trẻ từ xa ngàn dặm đến, có người cảm động khóc nói: “Từ thời Ngũ đại đến nay, nơi này là chiến trường[4], nay mới được thấy thiên tử tuần tế, thực là may mắn ngàn năm một thuở.” Xuống chiếu đổi cung Phụng Chi thành cung Đại Ninh, tu sửa thêm điện các, đặt tượng thánh mẫu Hậu Thổ, lại sai quan tế cáo thần sông.

[55] Các nước Cam Châu Hồi Cốt, Bồ Đoan, Tam Ma Lan, Vật Tuần, Bồ Bà La[5], Đại Thực, Thổ Phồn, đều sai sứ đến cống. Bồ Đoan lại dâng một người nô lệ Côn Lôn, Vua thương họ theo phong tục khác lạ, xa quê hương, nên sai trả về.

[56] Ngày Nhâm Tuất, Vua ngự đến đàn triều cận, nhận lễ chúc mừng của quần thần, đại xá thiên hạ, ban ân tứ như lệ Đông phong. Phủ Hà Trung được miễn thuế một năm rưỡi, lập huyện Bảo Đỉnh thành quân Khánh Thành, miễn thuế hai năm. Cấm chặt củi hái rau trong phạm vi ba dặm quanh khu vực Thùy Thượng. Các quan văn võ được phong tước nếu muốn nhường lại cho ông bà thì cho phép. Các quan tứ phẩm trở lên từng phụng sự Thái Tổ, Thái Tông từ thời đầu hoặc từng trải qua nhiệm vụ biên cương mà gia đình không có bổng lộc thì cấp lộc cho con cháu. Các mộ phần của công, vương, tướng, tướng có công phò tá từ thời Kiến Long, lệnh cho nơi đó tổ chức tế lễ. Cấp một phần ba lương thực cho các quan phân ty ở Tây Kinh. Những người phạm tội ở các nơi bị áp giải về kinh đều bị xăm chữ lớn đầy mặt, hình phạt quá nặng, rất đáng thương, từ nay không được làm như vậy nữa. Các điều khoản trong luật lệnh và biên sắc nếu có chỗ quá nặng, nên lệnh cho các quan pháp đình xem xét lại và tâu lên, cố gắng theo luật nhẹ. Ban cho thiên hạ được uống rượu ba ngày. Mở tiệc lớn ở điện Mục Thanh, ban rượu thịt, áo quần và tiền cho các bậc phụ lão. Vua làm bài minh về việc thờ phối hai thánh ở Phần Âm, cùng các bài tán về Hà Độc, Tây Hải, v.v.

(Theo《Tương Sơn Dã Lục》: Khi Chân Tông trở về, dừng chân ở Hà Trung, ba nghìn phụ lão từ Trường An đến nơi ở của Vua, dâng biểu xin Vua đến thăm. Chủng Phóng can ngăn với ba điều bất tiện, Vua mới thôi. Xét quốc sử và Thực lục đều không ghi chép việc này. 《Dã Lục》 lại nói lúc đó Chủng Phóng có tang anh và xin về núi rừng, đều là sai lầm, không phù hợp với chính sử và Thực lục. Nay không chép theo.)

[57] Ngày Quý Hợi, rời quân Khánh Thành, xem suối Phần; tối đến trấn Vĩnh An.

[58] Chiếu cho các châu quân ở biên giới, nếu có dân đói từ đất Khiết Đan chạy sang kiếm ăn thì lập tức đuổi về, không được lưu lại.

[59] Lệnh cho Long Đồ các đãi chế Tra Đạo trở về Đông Kinh trước để chuẩn bị nghi trượng.

[60] Ngày Giáp Tí, dừng chân ở phủ Hà Trung, ban tiền cho các quân hộ giá. Đến thăm miếu Thuấn, ban tên giếng Thuấn là Quảng Hiếu Tuyền, tự tay làm bài tán. Qua cầu sông, xem trâu sắt, lại đến thăm miếu Hà Độc. Phía tây miếu có đàn tế Vọng Tây Hải, Vua thấy đàn tế không rộng, bảo quan hữu ty tìm hiểu điển cố rồi tăng thêm. Lên đình phía sau, thấy dân chèo thuyền đánh cá, cầm cày làm ruộng, Vua nói: “Dân chúng làm việc thật vui vẻ! Nếu quan lại không xâm phạm quấy nhiễu, thì họ sống yên ổn mà không biết vậy.” Rồi đến chùa Khai Nguyên, cung Tử Cực, lầu Tiêu Dao, làm thơ ban cho các quan theo hầu. Vời Lý Độc và Lưu Tốn ở ẩn, Độc lấy cớ bệnh từ chối, ban cho Tốn chức Đại Lý bình sự rồi cho về hưu. Độc là con của Lý Oánh, tính tình thuần hậu, ưa thích cổ xưa, Vương Đán, Lý Tông Ngạc vốn là bạn cũ, thường khuyên ra làm quan, Độc đều không trả lời[6]. Bấy giờ Tôn Miễn ở Viện Trực sử tâu lên đức tính ẩn dật của ông, Trần Nghiêu Tẩu lại tiến cử. Khi từ chối không đến, Vua sai thái giám đến thăm hỏi, lệnh cho quan địa phương thường xuyên quan tâm.

[61] Ban tiền cho Tây Kinh, phủ Hà Trung, hai châu Thiểm, Trịnh để chi phí yến tiệc khao thưởng.

[62] Ngày Ất Sửu, Vua ban chiếu dừng xe ở lầu Tuyên Ân xem lễ bộ.

[63] Thêm tôn hiệu cho Kim Thiên Vương núi Tây Nhạc là Thuận Thánh Kim Thiên Vương, sai Hồng Lư thiếu khanh Bùi Trang đến tế cáo. Lại ban chiếu tu sửa miếu Bá Di, Thúc Tề.

[64] Ngày Bính Dần, ban tiệc bộ cho thân vương, phụ thần, bách quan, yến tiệc ở Thượng thư tỉnh nơi hành tại, tổng cộng hai ngày, Vua làm thơ 《Tự Phần Âm lễ thành》[7], ban ngay tại nơi yến tiệc.

[65] Ngày Đinh Mão, ban cho Doãn phủ Hà Trung, Ninh vương Nguyên Ốc y phục, đai, ngựa, một trăm vạn tiền, một nghìn lạng bạc, cùng các chức Kinh độ chế trí sứ, phó và các quan trưởng lại ở các châu phủ đi qua các loại khí tệ khác nhau.

[66] Ngày Mậu Thìn, rời phủ Hà Trung, vì tiết Hàn thực, nghiêm cấm việc dùng lửa. Qua trấn Tân Thị, qua cầu sông Lạc, dừng chân ở kho Nghiêm Tín.

[67] Ngày Kỷ Tỵ, dừng chân ở huyện Hoa Âm, đến thăm đền Vân Đài, xem tượng vẽ tiên sinh Hi Di Trần Đoàn, miễn thuế ruộng cho đền.

[68] Ngày Canh Ngọ, đến lễ miếu Thuận Thánh Kim Thiên Vương, các quan đứng hầu, trong ngoài tường miếu bày trượng cờ vàng, sai quan chia nhau dâng lễ các vị thần trong miếu. Lại đến thăm đền Cự Linh Chân Quân, cũng miễn thuế ruộng cho đền. Mở tiệc chiêu đãi các quan theo hầu và các bậc phụ lão ở đình Tuyên Trạch trong hành cung, mây tím như rồng bay lên từ núi, Vua làm bài tán Tây Nhạc và bài thơ Tiên Chưởng. Vua cho triệu ẩn sĩ ở núi Hoa Sơn là Trịnh Ẩn và ẩn sĩ ở Phù Thủy là Lý Ninh vào yết kiến, ban cho Trịnh Ẩn hiệu là Trinh Hối tiên sinh. Trịnh Ẩn tự nói rằng ban đầu ông lấy việc nghiên cứu kinh sử làm nghề, gặp đạo sĩ truyền cho phép tịch cốc luyện khí, tu tập rất có hiệu nghiệm, bèn ở tại vách đá Vương Lực Nham[8] (Xét sách 《Hoa Nhạc chí》 không có tên Vương Lực Nham. Theo sách 《Ung Thắng lược》, ba động Vương, Điêu ở trong khe Đậu phía đông núi Hoa Sơn, nơi tiên nhân Vương Dao, Điêu Tự Nhiên đăng tiên ở ba động trên, giữa, dưới). Hơn 20 năm, mùa đông mùa hè thường mặc áo da. Lý Ninh tinh thông thuật dược, tuổi già mà không suy yếu, thường đem thuốc cho người, người ta đem vàng lụa đến tạ thì ông đều từ chối[9]. Vua ban thơ ngự chế cùng trà thuốc, lụa, Trịnh Ẩn từ chối không nhận.

[69] Ngày Tân Mùi, dừng chân ở huyện Văn Hương. Vua cho triệu đạo sĩ ở đền Thừa Thiên là Sài Thông Huyền vào, ban cho ngồi, hỏi về yếu chỉ của đạo vô vi. Ban thơ, trà thuốc, lụa, miễn thuế ruộng cho đền. Thông Huyền hơn 100 tuổi, giỏi phép phục khí, lời nói không trau chuốt, thường lấy việc tu thân cẩn hạnh làm lời răn.

[70] Ngày Nhâm Thân, dừng chân ở huyện Hồ Thành. Mở tiệc chiêu đãi các bậc phụ lão ở châu Quắc tại cửa hành cung[10].

[71] Ngày Quý Dậu, dừng chân ở huyện Linh Bảo.

[72] Tháng 3, ngày Giáp Tuất, mùng một, dừng chân ở Thiểm Châu. Vua cho triệu Ngụy Dã, người ẩn dật, nhưng ông cáo bệnh không đến. Ngụy Dã sống ở phía đông ngoại thành Thiểm Châu, không cầu danh tiếng. Triệu Xương Ngôn và Khấu Chuẩn từng đến làm quan ở châu này, đều đối đãi ông như khách quý[11]. Thơ của ông tinh tế, khổ luyện, có phong cách thơ Đường. Sứ giả nước Khiết Đan từng nói rằng nước họ có được nửa tập thơ “Thảo đường tập” của ông, xin được toàn bộ, Vua ban chiếu cho họ. Ngụy Dã từ chối lệnh triệu tập[12], Vua liền sai sứ vẽ lại nơi ông ở, lệnh cho quan lại địa phương thường xuyên thăm hỏi, an ủi.

[73] Ngày Ất Hợi, Vua đến thăm miếu Thuận Chính Vương, làm thơ “Thiết ngưu”, ban yến cho các quan theo hầu và các bậc phụ lão ở lầu Bái Trạch Huệ Dân. Lại lên lầu Bắc, ngắm sông lớn, xem xét hình thế núi sông, ban áo quần theo mùa cho quân lính vận chuyển thuyền, làm thơ đề trên xà nhà. Hôm đó trời mưa, Thạch Phổ xin Vua ở lại trong thành, đừng đi qua chỗ lầy lội, Vua làm thơ ban cho Thạch Phổ, rồi sai ông theo hầu đến Tây Kinh.

[74] Ngày Bính Tý, dừng chân ở huyện Giáp Thạch.

[75] Ngày Đinh Sửu, dừng chân ở huyện Miễn Trì.

[76] Thiểm Tây tâu rằng dân huyện Nhuế Thành là Phàn Cảnh Ôn sống riêng hơn 40 năm, cây xấu hổ trong nhà ông chia làm năm nhánh, rồi lại hợp làm một, Cảnh Ôn và gia đình cảm động, lại sống chung với nhau.

[77] Ngày Mậu Dần, dừng chân ở huyện Tân An. Trên đường trở về, vì đường xa, thương xót quân lính vác kiệu, che lọng vất vả, Vua thường cưỡi ngựa, đội mũ ô đằng.

[78] Ngày Kỷ Mão, xa giá vào Tây Kinh, ban 500 tấm lụa cho tăng đạo nghênh giá.

[79] Lệnh cho phủ Kinh Triệu cấm dân chặt củi, thả gia súc trong trang viên.

[80] Trước đó, cho phép người dân nộp tiền ở kinh đô, đến Thiểm Tây xin cấp phát. Chuyển vận sứ Lý Sĩ Long tâu rằng trong khu vực quản lý thu thuế ít, chi tiêu lại nhiều, xin tạm ngừng ba năm, Vua đồng ý.

[81] Ngày Canh Thìn, Vua nói với các quan phụ tá rằng: “Cung điện Lạc Dương tráng lệ, nhưng phía bắc thành đất hẹp, sông Cốc và sông Lạc nông và đọng, việc vận chuyển khó khăn, chắc không phải là nơi ở lâu dài, chỉ vì việc hành lễ mà tạm thời tuần du thôi.” Trên đường đi, nhiều lần có mưa thuận, đều mưa vào buổi tối và ngừng vào buổi sáng, các quan và quân lính không bị ướt áo. Lại thêm việc nông vụ đang bận rộn, dân chúng nhìn thấy xa giá đều vui mừng. Vua làm bài thơ “Hỉ Vũ Thuật Hoài Ca”, các quan đều họa theo. Lại vì biết Phủ Doãn Hà Nam là Tiết Ánh có thành tích trị nhậm tốt, nên ban thơ khen ngợi.

(Theo bản truyện.)

[82] Ra chiếu bãi bỏ các công việc không gấp ở vùng biên giới phía bắc Hà Bắc.

[83] Ngày Quý Mùi, Trương Tề Hiền từ Hà Dương đến triều, Vua triệu ông về.

[84] Ngày Giáp Thân, Vua đến chùa Ứng Thiên, ban áo quần và tiền cho các quan coi việc tu sửa điện thờ Thái Tổ, cùng thợ và quân lính. Lại đến nhà Thái tử Thái sư Lữ Mông Chính, an ủi ông, ban thuốc quý, rượu ngự, áo, đai, ngựa và tiền vàng. Vua hỏi Mông Chính trong các con ai có thể dùng được, ông đáp: “Con của thần chỉ như chó lợn thôi. Cháu là Di Giản mới là tài làm tể tướng.”

(Sách “Thiệu Thị Kiến Văn Lục” chép rằng Mông Chính nói có cháu là Di Giản, đang làm Thôi quan ở Lệ Châu. Xét Di Giản năm Đại Trung Tường Phù thứ nhất được cử Hiền lương với chức Đại Lý Tự Thừa, lúc này không thể còn làm mạc chức. Nay bỏ đi.)

[85] Trần Nghiêu Tẩu và Lý Tông Ngạc từ Phủ Hà Trung đến triều, tâu rằng từ khi bắt đầu lo việc tế lễ đến khi xong, tổng cộng dùng hơn ba trăm chín mươi vạn công thổ mộc, chỉ huy động quân lính vận chuyển lương thảo, cung ứng các việc, chưa từng làm phiền dân chúng. Vua khen ngợi.

[86] Ngày Đinh Hợi, Vua triệu tập các tể thần xem khắp các điện, đưa ra sách “Tái Hạnh Tây Kinh Ký” do Vua viết cho xem.

[87] Ra chiếu cho tu sửa tất cả các đền thờ các vị đế vương đã đi qua.

[88] Ngày Mậu Tý, Đinh Vị tâu rằng có hơn hai trăm con hạc bay trên điện Thiên Thư, lại có hơn trăm con bay đến đậu ở lầu Thái Thanh.

[89] Tri Châu Tịnh Châu là Lưu Tống dâng bức tranh “Phong Niên Đồ”.

[90] Trước đó, mỗi khi xa giá đi tuần du đến đâu thì đều đổi tên cổng. Ngày Kỷ Sửu, Vua ngự lên lầu Ngũ Phượng xem lễ bộ, các quan xin làm theo lệ cũ, Vua nói: “Đây là lầu do Thái Tổ xây dựng, để biểu thị điềm lành, không thể đổi được.”

[91] Xa giá sắp đi thăm lăng, Vua hạ chiếu từ Tây Kinh đến huyện Củng không được cử nhạc, các quan văn võ có phần mộ tổ tiên ở gần đều được cho nghỉ để đi tế bái. Cấm những người đi theo giẫm lên ruộng lúa.

[92] Châu Hùng tâu rằng phó sứ sang Khiết Đan là Thôi Khả Đạo bị bệnh chết, Khiết Đan từ U Châu đem nhạc lễ và vệ binh đưa linh cữu về. Vua hạ chiếu sai trung sứ lo việc tang lễ.

[93] Nội thị Dương Thủ Trân đi bắt giặc ở Kinh Đông, gửi văn thư đến phủ Ứng Thiên đóng cọc gỗ và giá gỗ. Phủ tâu lên, Vua cho là trái phép, bèn hạ chiếu sai sứ ra ngoài, không được chế tạo những dụng cụ tra tấn dã man để giết giặc.

(Thủ Trân lại xuất hiện vào tháng 9 năm thứ 8.)

[94] Ngày Giáp Ngọ, khởi hành từ Tây Kinh, dừng chân ở huyện Yển Sư, các nghi thức như kiệu xe, lọng che, tiếng roi, cảnh báo, tấu nhạc, Kim Ngô hô thám đều bãi bỏ.

[95] Ngày Ất Mùi, Vua mặc áo trắng cưỡi ngựa đến huyện Vĩnh An, trai giới ở hành cung.

[96] Ngày Bính Thân, Vua đến yết kiến các lăng An Lăng, Vĩnh Xương, Vĩnh Hi, Nguyên Đức Hoàng Thái Hậu, dâng lễ vật và khóc lóc thảm thiết, khiến mọi người xung quanh đều cảm động. Lúc đầu, khi đến lăng Vĩnh Xương gặp mưa, các quan xin dời vị trí bàn thờ, làm lễ từ xa ở gian cửa, Vua không cho, tự mình lội qua bùn lầy mà tiến vào, lễ xong khi trời chưa sáng. Sau đó, Vua lại đến bốn lăng để từ biệt, xem xét bàn thờ, dâng lễ như lễ ban đầu. Vua cũng đến thăm các lăng của các hoàng hậu và các phần mộ của các vương, sai trung sứ đi tế khắp các phần mộ của hoàng thân, và đến Nhữ Châu tế phần mộ của Tần Vương.

[97] Người Thổ Phồn ở phủ Tây Lương là Phan Độc, Thạch Kê đến cống.

[98] Ngày Đinh Dậu, dừng chân ở huyện Củng, Hữu bộc xạ Trương Tề Hiền từ biệt trở về Hà Dương, được ban y phục, đai lưng, đồ dùng và tiền tệ như lệ thị tế.

[99] Ngày Mậu Tuất, đến huyện Dĩ Thủy, đường qua ải Hổ Lao hiểm trở, Vua sai cầm đuốc để cảnh báo người đi đường. Hà Dương dựng lầu kết hoa, chuẩn bị nhạc để tấu, Vua cho rằng ngày kỵ của Thái Tông sắp đến, vội ngăn lại, ban thưởng như lệ. Vì Vua thường từ hạ tuần trở đi không cử nhạc.

[100] Dừng chân ở huyện Huỳnh Dương, đổi tên ải Hổ Lao thành ải Hành Khánh.

[101] Ngày Kỷ Hợi, dừng chân ở Trịnh Châu. Xuống chiếu rằng binh sĩ thuộc quản lý của ba lăng nếu phạm tội chỉ được xử phạt[13], những người đáng bị đánh trượng thì gửi về huyện Vĩnh An.

[102] Lễ nghi sứ Vương Khâm Nhược xin sau khi nhà Vua tế lễ ở Thái Miếu xong, hãy thân hành đến miếu thờ Nguyên Đức Hoàng Thái Hậu. Chiếu cho các quan Lễ bộ bàn bạc quyết định, kết quả bàn bạc theo như lời thỉnh cầu của Khâm Nhược, nhà Vua đồng ý.

[103] Ngày Canh Tý, triệu tập các quan theo hầu dự yến tiệc ở lầu Hồi Loan Khánh Tứ, mở tiệc cho các bậc phụ lão ở dưới lầu, không cử nhạc.

[104] Ngày Nhâm Dần, rời Trịnh Châu, đi qua mộ Phan Hiếu Tử, sai quan hữu ty dựng bia khen ngợi. Dừng chân ở huyện Trung Mâu.

[105] Ngày Quý Mão, dừng chân ở vườn Quỳnh Lâm, ban thưởng rượu thịt dê cho các tướng lĩnh và quân sĩ, khao thưởng tướng sĩ.

[106] Mùa hạ, tháng 4, ngày Giáp Thìn mùng một, xa giá từ Phần Âm trở về.

[107] Ngày Ất Tỵ, ban thưởng tiền lụa cho các quân sĩ theo hầu, các quân đội, binh lính đồn trú, lính trạm và các quan chức dọc đường đi, với mức độ khác nhau. Những người chết vì bệnh dọc đường đều được cấp tiền cho gia đình.

[108] Ngày Đinh Mùi, lệnh cho Ty Chuyển Vận Giang, Hoài thuê thuyền của dân để chở lương thực cứu đói cho dân chúng ở Đăng Châu và Lai Châu.

[109] Ngày Kỷ Dậu, tế lễ ở Thái Miếu. Lại tế lễ ở miếu thờ Nguyên Đức Thái Hậu, từ cổng xuống kiệu đi bộ vào, dâng rượu tế như ở Thái Miếu, bày nhạc Đăng Ca. Các quan ở Lưỡng tỉnh, Ngự sử, Cung phụng quan, tông thất từ chức Phòng ngự sứ trở lên đều đứng hàng trong miếu, còn lại đứng ở ngoài miếu. Tham tri chính sự Phùng Chửng và Triệu An Nhân phân công tế lễ ở các miếu thờ các Hoàng hậu Hiếu Huệ.

[110] Ngày Canh Tuất, xuống chiếu rằng thời tiết dần nóng bức, việc ban rượu ở kinh đô nên dời đến mùa thu. Tha cho hơn 60 người làm công việc quét dọn trong và ngoài hoàng thành Tây Kinh về làm ruộng, tăng thêm số quân sĩ để thay thế.

[111] Ngày Tân Hợi, tế lễ ở điện Thần Ngự Thái Tông tại viện Khải Thánh và tượng thánh Nguyên Đức Hoàng Thái Hậu tại viện Phổ An.

[112] Ngày Nhâm Tý, Tả Long Vũ tướng quân, Thứ sử Trừng Châu, Phò mã đô uý Lý Tuân Húc vì tội tư thông với nhũ mẫu của Trưởng công chúa, bị giáng làm Quân Châu đoàn luyện phó sứ. Ban đầu, Tuân Húc xin được đối chất để nói rõ sự việc, muốn đổ lỗi cho người khác, nhưng gặp lúc có ân xá nên không bị tra hỏi. Đến khi sự việc bại lộ, Vua sai sứ đến chất vấn, lời khai của Tuân Húc nhiều chỗ giả dối, Vua nổi giận, nhưng vì Trưởng công chúa chưa từng nói đến lỗi lầm của Tuân Húc, sợ làm tổn thương tình cảm của công chúa, nên không nỡ điều tra sâu. Sau đó, các quan phụ chính dâng tấu xin xử theo phép nước, vì thế mới có hình phạt này. Tuân Húc sau đó vì bệnh xin được dời đến ở tại Thái Châu, Vua đồng ý.

(Theo 《Nhật ký Tư Mã Quang》 ghi: Lưu Ban nói rằng Lý Tuân Húc vì tội vô lễ với nhũ mẫu của Trưởng công chúa, bị giáng làm Quân Châu đoàn luyện phó sứ. Chân Tông muốn giết ông, trước hết triệu Trưởng công chúa vào để thăm dò ý kiến, nói rằng: “Ta có một việc muốn nói với ngươi nhưng chưa dám.” Công chúa kinh hãi nói: “Lý Tuân Húc không sao chứ?” Rồi khóc lóc, ngã lăn ra đất, vì thế Chân Tông không giết Tuân Húc. Khi Lý Thục nhận chiếu soạn văn bia cho Trưởng công chúa, trước đó đã tuyên bố: “Việc ân xá cho Lý Tuân Húc rất đẹp, không thể không ghi vào.” Các con của Tuân Húc nghe tin, sợ hãi, đem hối lộ nhiều cho Lý Thục, nên việc không được ghi lại. Xét rằng Chân Tông tính nhân từ, chắc chắn không đến nỗi đột ngột muốn giết Tuân Húc, e rằng điều Tư Mã Quang nghe được có thể sai lệch, nên không chép vào đây.)

[113] Khiếp lộ Kiềm hạt Mộ Dung Đức Sâm đưa những người man làm ác là Vương Quần Thể đến kinh đô. Vua nói: “Man di không hiểu giáo hóa, việc họ làm loạn cũng là do quan lại địa phương không biết vỗ về.” Bèn tha tội chết, đày đi Giang, Chiết xa xôi.

(Đức Sâm là con của Diên Chiêu.)

[114] Triệu Đức Minh sai sứ dâng ngựa, chúc mừng lễ Phần Âm hoàn tất. Vua ban cho Đức Minh y phục, đai, ngựa, đồ dùng, tiền tệ, còn ban cho các thuộc hạ và tướng sĩ bạc, lụa, trà. Lúc đó, những người đi theo đoàn cống ngựa có đánh nhau với dân kinh thành, có người bị gãy răng. Khai Phong phủ tâu rằng nên đánh bằng gậy, nhưng Vua ra chiếu giao việc này cho Phu Diên lộ, lệnh gửi văn thư cho Đức Minh, để ông tự xử lý.

[115] Ngày Quý Sửu, ra chiếu ban thưởng tiền cho các tướng sĩ tham gia đón rước xe ngọc chở Thiên thư, ngoài lệ thường.

[116] Sai cận thần đến tế tạ Hậu Thổ, Tây Nhạc, Tây Hải, Tây Độc. Lại sai quan đi đến các lăng miếu để tế lễ.

[117] Người Hồi Cốt ở Tần Châu là An Mật dâng ngọc đai, chúc mừng lễ Phần Âm hoàn tất.

[118] Ngày Giáp Dần, Cấp sự trung Chủng Phóng trở về Chung Nam Sơn, được ban yến và làm thơ như lệ trước.

(Sách 《Tống triều yếu lục》 chép: Ngày Ất Mão, Giao Châu đến cống.)

[119] Ngày Kỷ Mùi, chiếu ban tên miếu Hậu Thổ ở Phần Âm là “Thái Ninh”, sai trung sứ tu sửa thêm miếu. Lệnh cho Tri Hà Trung Phủ là Chu Khởi mỗi tháng kiểm tra một lần. Dân chúng tế lễ chỉ được lạy ở sân, quan lại không phải việc tế lễ cũng không được lên điện.

[120] Cho Tiến sĩ ở Hà Trung Phủ là Tiết Nam làm Thí Tướng tác giám chủ bạ, vì ông là người đầu tiên đến kinh xin tế lễ Phần Âm.

[121] Cho con của Vương Kế Huân là Vĩ Đức làm Nhữ Châu quân sự suy quan.

Con của Vĩ Đức là Dụng Hòa trước đã nhập ngũ, đặc cách cho xuất ngũ về phụng dưỡng cha. Kế Huân vì tội giết nhiều người vô tội nên bị xử tử, gia đình ông lâm vào cảnh khốn cùng, Vua vì tình cảm với Hiếu Minh Hoàng Hậu nên đặc biệt chiếu cố con cháu ông.

[122] Dân ở Đồng Châu đói kém, có người phải bán con, sai quan đi nhanh đến thăm hỏi và cứu tế.

(Sách 《Tống triều yếu lục》 chép: Sai Thái thường bác sĩ là Thư Tề đi.)

[123] Chiếu cho các quân hiệu ở hai kinh và các lộ, các ty khố vụ đã nhậm chức được 20 năm, đặc cách thăng chức.

[124] Ngày Canh Thân, chiếu cấm chặt cây ở miếu thờ tướng nhà Đường là Lâu Sư Đức.

[125] Trước đây, Phó sứ Kinh Đông chuyển vận ty là Mã Nguyên Phương[14] đi tuần đến Bộc Châu, Tri châu là Tưởng Tín mở tiệc, Nguyên Phương tỏ ra kiêu ngạo, say rượu rồi đánh Tưởng Tín, nhân có đại xá nên không bị xét tội. Ngày Tân Dậu, điều Nguyên Phương làm Tri châu Túc Châu, và hạ chiếu nghiêm trách.

[126] Ngày Giáp Tí, Sở vương Nguyên Tá làm Thái úy; Ninh vương Nguyên Ốc làm Tiết độ sứ Thành Đức, An Quốc, tiến phong làm Tương vương. (Xét nguyên bản chép là “Tương” 襄 vương, sai. Tra cứu Bản kỷ của Chân Tông và sách này, tháng 8 ngày Nhâm Dần tăng cấp tiền công dụng cho các phủ vương, Tương vương, Thư vương mỗi năm 12.000 quan. Vậy nên theo Bản kỷ chép “Tương” 相 là đúng.) Thư vương Nguyên Xưng làm Tiết độ sứ Trấn Nam, Ninh Quốc. Từ Nguyên Tá trở xuống, đều kiêm Trung thư lệnh. Vinh vương Nguyên Nghiễm làm Tiết độ sứ An Tĩnh, Vũ Thắng, kiêm Thị trung.

[127] Tiết độ sứ Định Nan là Triệu Đức Minh giữ chức Trung thư lệnh.

[128] Ngày Ất Sửu, tu sửa Thượng thư tỉnh, ba tháng thì xong.

(Tháng 8 ngày Ất Tỵ hoàn thành.)

[129] Ngày Bính Dần, các quan theo chiếu xá ngày Nhâm Tuất, đều được thăng chức theo thứ tự. Khách tỉnh sứ, Thứ sử Trung Châu là Tào Lợi Dụng được làm Nội khách tỉnh sứ, kiêm chức Gia Châu Phòng ngự sứ, hàng ngày đến ăn ở Xu mật viện[15]. Trước đó, lấy sảnh đường của Nội khách tỉnh sứ làm Tam ban viện, đến nay lệnh cho Tam ban viện chia sảnh đường để xử lý công việc.

(Gần đây, cháu của Thái Diên Khánh tên là Hưng Tông[16], soạn sách 《Tổ tông quan chế cựu điển》, nói rằng Thái Tổ dùng chức Nội khách tỉnh sứ để đổi lấy chức Xu mật, dùng chức Diên Phúc cung sứ để đổi lấy chức Tuyên huy. Xét theo bản chí, Nội khách tỉnh sứ là chức đặt từ thời Đường, việc đến ăn ở Xu mật viện cũng là lệ cũ. Không rõ sách nào ghi chép việc đổi chức Xu mật mà Hưng Tông nhắc đến, cần phải tra cứu thêm. Họ Thái còn nói rằng chức Nội khách tỉnh sứ, các triều đều không đặt, từ thời Sùng Ninh về sau, chỉ phong cho Đồng Quán một người mà thôi, ân sủng gần như ngang với chức chấp chính, vì nguyên là từ chức Xu mật sứ phó đổi sang tên này. Xét thời Thái Tổ[17], Ngô Đình Tộ, Lý Xử Vân, Vương Nhân Thiệm, Lý Sùng Củ, Tào Bân, đều từng giữ chức Xu mật sứ phó, nhưng không thấy ai từ chức sứ phó đổi sang Nội khách tỉnh sứ, cần phải tra cứu thêm.)

[130] Ngày Kỷ Tỵ, lệnh cho Tịnh Châu tu sửa đền thờ Tấn, Hoành Châu tu sửa miếu thờ Thần Nông.

[131] Vua nói với tể tướng rằng: “Trẫm xem qua 《Đường lục điển》, chức Khởi cư lang, Xá nhân, Ty gián, Chánh ngôn tổng cộng mười hai người, gần đây các chức này thường bị khuyết, có thể nhân dịp lễ lớn, chọn người có tài năng, được mọi người biết đến để bổ nhiệm.” Do đó, chín người là Trực sử quán Trần Nghiêu Tá, Nhạc Hoàng Mục, Thịnh Huyền, Vương Tùy, Lộ Chấn, Thôi Tuân Độ[18], Trần Tri Vi, Lý Tư, Trần Việt đều được bổ nhiệm làm quan ở Lưỡng tỉnh. Thịnh Huyền, người Dư Hàng, sau đổi tên là Độ.

[132] Ngày Nhâm Thân, ra chiếu chỉ các châu không được cử Ty lí tham quân đi giám sát các trường vụ.

[133] Tháng đó, Trung thư lệnh, Hứa quốc Văn Mục công Lữ Mông Chính mất.

[134] Tháng 5, ngày Giáp Tuất mùng một, ra chiếu chỉ từ nay các tể tướng có chức đến Bộc xạ, đều phải đến Trung thư đô đường nhận chức, những người không kiêm chức Bình chương sự cũng phải đến bản tỉnh nhận chức, lệnh cho Thái thường lễ viện và Sùng văn viện kiểm thảo[19], xem xét và định ra nghi thức. Trước đó, Trung thư thị lang kiêm Binh bộ thượng thư, Bình chương sự Vương Đán được thăng làm Hữu bộc xạ, chỉ nhận lễ chúc mừng tại sảnh của mình. Vua yêu quý các phụ thần, nên ra lệnh khôi phục lại nghi thức cũ.

[135] Ngày Bính Tý, phong Giao Chỉ quận vương Lý Công Uẩn làm Đồng bình chương sự.

[136] Hồng Châu báo tin Tri châu, Hình bộ lang trung Vương Tế mất. Khi lâm chung, Vương Tế tự viết di biểu, đại ý khuyên tiến cử người hiền tài, loại bỏ kẻ nịnh thần, bãi bỏ những việc xây dựng không cần thiết, còn lại không đề cập đến việc riêng.

[137] Ngày Kỷ Mão, Cáp môn tâu rằng từ nay các tướng hiệu trong nội chức, xin theo lệ của quan văn võ, ngày nghỉ không được từ chối tiếp kiến, Vua đồng ý.

[138] Ngày Ất Dậu, tăng lương tháng cho các hoàng điệt trở xuống. Trước đây, khi mới nhận chức, lương là ba mươi ngàn, sau tăng thêm năm mươi ngàn, rồi bảy mươi ngàn. Sau khi tổ chức lễ mừng, mọi người đều xin cai quản quận. Vua cho rằng họ mới thăng chức, không cho phép, chỉ tăng lương mà thôi.

[139] Ngày Đinh Hợi, Vua nước Bồ Đoan lại sai sứ đến cống nạp sản vật địa phương, dùng bản vàng khắc lời biểu dâng lên.

[140] Ngày Kỷ Sửu, sai sứ kiểm tra và phân chia những binh lính làm việc bốc dỡ dọc sông Biên vào các quân hạ châu, vì trong số họ có nhiều kẻ hung bạo, hay ức hiếp dân lành.

[141] Ngày Canh Dần, Vua đến thăm Thượng Thanh cung và chùa Cảnh Đức Khai Bảo, sau đó đến yết kiến Ngọc Thanh Chiêu Ứng cung.

[142] Phủ Kinh Triệu bị hạn hán, Vua xuống chiếu cứu trợ.

[143] Xuống chiếu dụ các đạo về ý định mở khoa thi chọn nhân tài, bảo đảm công bằng, nếu có bỏ sót người tài, sẽ xem xét lại. Những trường hợp nên giải quyết mà không giải quyết, hoặc không nên giải quyết mà giải quyết, đều sẽ bị xử theo pháp luật triều đình.

[144] Ngày Quý Tỵ, lấy Nội khách tỉnh sứ Tào Lợi Dụng làm Phu Diên bộ thự, thay thế Lý Doãn Chính. Điều Doãn Chính làm Tri Vĩnh Hưng quân. Doãn Chính tính tình nghiêm khắc, thích giết chóc, vốn bị bệnh gù lưng, nên ít khi được ở gần Vua.

[145] Vương Thừa Mỹ xin lập miếu thờ Huyền Thánh Văn Tuyên Vương trong thành Phong Châu, Vua đồng ý.

[146] Ngày Ất Mùi, xuống chiếu gia phong tôn hiệu cho Ngũ Nhạc: Đông Nhạc là Thiên Tề Nhân Thánh Đế, Nam Nhạc là Tư Thiên Chiêu Thánh Đế, Tây Nhạc là Kim Thiên Thuận Thánh Đế, Bắc Nhạc là An Thiên Nguyên Thánh Đế, Trung Nhạc là Trung Thiên Sùng Thánh Đế. Sai Hàn lâm học sĩ Lý Tông Ngạc, Long đồ các trực học sĩ Trần Bành Niên cùng các quan Lễ bộ xem xét và định ra nghi thức. Lại soạn bài 《Phụng Thần Thuật》, ghi đầy đủ ý nghĩa của việc tôn sùng.

(Vương Xưng trong 《Đông Đô Sự Lược》 chép: Chiếu viết: Núi cao chót vót, thần linh ngự trị, nên gia phong tôn hiệu cho Ngũ Nhạc.)

[147] Ngày Đinh Dậu, Vua ngự tại điện Sùng Chính xét xử tù nhân, những người phạm tội chết trở xuống đều được giảm một bậc hình phạt.

[148] Ngày Kỷ Hợi, lấy Chủ khách lang trung Lý Tốn làm Độ chi lang trung, Lưỡng Chiết chuyển vận phó sứ; Tư huân lang trung Vương Củ làm Công bộ lang trung, Kinh Tây chuyển vận phó sứ. Trước đây, sai quan đề điểm hình ngục, đến nay thay về, mệnh Tư chính điện đại học sĩ Hướng Mẫn Trung cùng các quan xét công trạng, lấy những người từng cứu sống người bị oan làm hạng nhì, đều được thăng chức, triều thần làm chuyển vận sứ, sứ thần làm tri châu. Những người còn lại làm hạng ba, được bổ làm tri châu, giám, quân ở địa phương gần. Lý Tốn và Vương Củ đều được xếp vào hạng nhì.

(Lý Tốn, đã thấy vào tháng 4 năm Cảnh Đức thứ 2, cần xét lại.)

[149] Đổi tên chỉ huy Vĩnh An ở Tây Kinh thành Phụng Tiên, thăng làm cấm quân, đứng dưới quân Thanh Tắc.

[150] Ngày Nhâm Dần, chiếu rằng dân các châu Hoài Nam năm nay nếu muốn nộp tiền thay cho thuế hạ thì đều được cho phép.

[151] Chiếu rằng các quan lang trung và viên ngoại lang có chức vụ trở lên, nếu gặp đại xá ở Phần Âm mà xin bảo đảm cho con cái, thì đều được thi hành theo lệ.


  1. Chữ 'phủ' trong 'Tri Vĩnh Hưng quân phủ Vương Tự Tông' vốn bị thiếu, nay căn cứ vào 《Tống sử》 quyển 287, truyện Vương Tự Tông để bổ sung.
  2. 'Sự' nguyên bản là 'Thị', theo Tống bản, Tống toát yếu bản và các bản khác sửa lại.
  3. 'Nam vọng' hai chữ nguyên bản đảo ngược, căn cứ theo bản Tống, bản Tống Toát Yếu và 《Trường Biên Kỷ Sự Bản Mạt》 quyển 19, phần Tự Phần Âm ất chính.
  4. Nơi này là chiến trường, chữ 'nơi này' trên nguyên bản có thêm hai chữ 'đều là', theo bản Tống, bản Tống toát yếu, bản các và sách 《Trường biên kỷ sự bổn mạt》, 《Trị tích thống loại》 quyển 4 Chân Tông Tường Phù bỏ.
  5. Bồ Bà La, 《Tống sử》 quyển 8 Chân Tông kỷ chép là 'Bồ Bà', 《Tống hội yếu》 phần Phiên Di 7 chép là 'Bồ Bà chúng'.
  6. 'Đáp' nguyên là 'Đắc', theo bản Tống, bản Tống toát yếu và 《Tống sử》 quyển 457 《Lý Độc truyền》 sửa lại.
  7. Chữ 'Tự' nguyên bản thiếu, theo bản Tống, bản Tống toát yếu và 《Trường biên kỷ sự bản mạt》 quyển 19 《Tự Phần Âm》 bổ sung.
  8. Vách đá Vương Lực Nham, sách 《Tống sử》 quyển 462, truyện Sài Thông Huyền phụ truyện Trịnh Ẩn chép là Vương Điêu Nham.
  9. Chữ 'nhân' nguyên bản thiếu, căn cứ vào bản Tống, bản Tống toát yếu, bản các và sách 《Tống sử》 dẫn trên để bổ sung.
  10. Hai chữ 'hành cung' nguyên bản đảo ngược, căn cứ vào bản các và sách 《Trường biên kỷ sự bản mạt》 quyển 19, phần Tự Phần Âm ất để sửa.
  11. 'Yên' nguyên bản là 'Dã', theo bản Tống, bản Tống toát yếu và bản các mà sửa
  12. 'Dã' nguyên bản là 'thời', theo sách trên mà sửa
  13. 'xử phạt' nguyên văn là 'đánh đòn', theo bản trong các kho lưu trữ sửa lại
  14. Phó sứ Kinh Đông chuyển vận ty Mã Nguyên Phương, chữ 'ty' nguyên bản viết là 'sứ', theo bản khác sửa lại. Xem 《Tống sử》 quyển 301, truyện Mã Nguyên Phương chép rằng Nguyên Phương 'làm Phó sứ Kinh Đông chuyển vận, thăng Chuyển vận sứ, đi tuần đến Bộc Châu'.
  15. 'Viện' nguyên bản là 'sứ', căn cứ theo Tống bản, Tống toát yếu bản, các bản khác sửa lại.
  16. 'Diên' nguyên bản là 'Đình', căn cứ theo Tống bản, Tống toát yếu bản sửa lại. Xem Thái Diên Khánh, 《Tống sử》 quyển 286 có truyện.
  17. 'Triều' nguyên bản là 'Miếu', căn cứ theo Tống bản, Tống toát yếu bản, các bản khác sửa lại.
  18. Thôi Tuân Độ nguyên bản là 'Thôi Tuân Khánh', căn cứ theo Tống bản, Tống toát yếu bản và 《Biên niên cương mục》 quyển 7, 《Tống sử toàn văn》 quyển 6 sửa lại. Xem Thôi Tuân Độ, 《Tống sử》 quyển 441 có truyện.
  19. 'Sùng văn viện' ba chữ nguyên bản bị thiếu, căn cứ theo Tống bản, Tống toát yếu bản và 《Trị tích thống loại》 quyển 29 về quan chế duyên cách thượng bổ sung.

Bản quyền

Tục Tư Trị Thông Giám Trường Biên Copyright © 2025 by khosachviet.com. All Rights Reserved.