"

III. TỐNG CHÂN TÔNG

QUYỂN 77: NĂM ĐẠI TRUNG TƯỜNG PHÙ THỨ 5 (NHÂM TÝ, 1012)

Từ tháng giêng đến tháng 5 năm Đại Trung Tường Phù thứ 5 đời Chân Tông.

[1] Tháng giêng mùa xuân, ngày Quý Dậu, Vua sai Hàn lâm học sĩ Triều Huýnh, Xu mật trực học sĩ Lưu Tống, Tri chế cáo Lý Duy, Long đồ các đãi chế Tôn Thích cùng coi việc thi cử. Vua làm thơ khuyên bảo ý chọn nhân tài, bắt đầu sai hai viên nội thần nhận và báo cáo tấu chương.

[2] Tô Châu báo cáo về nạn lụt, Vua xuống chiếu miễn thuế thu cho dân.

[3] Hàng Châu báo cáo bờ sông Chiết Giang bị sạt lở, dần dần tiến gần thành châu, xin sai sứ từ kinh đô đưa thợ đắp đê và thợ đào hào đến châu để làm việc, Vua đồng ý. Lại lệnh cho đi ngựa trạm, chuyển vận sứ thay nhau kiểm tra.

[4] Ngày Ất Hợi, Tả bộc xạ Tống Bạch mất, các quan bàn thụy hiệu là Văn Hiến. Trong cung có mật tấu nói rằng Bạch vốn không có phẩm hạnh, không nên được thụy hiệu này, nên đổi thành Văn An.

[5] Vua ban thóc lụa cho xử sĩ Châu Khải Minh ở Châu Xử. Lúc đầu khi Vua đi phong thiện ở phía đông, Khải Minh được tiến cử hiền lương, nhưng sau đó từ chức về quê, không còn ý định làm quan nữa, dạy học cho hơn trăm học trò[1], được người đời gọi là xử sĩ. Lúc đó, chuyển vận sứ Trần Nghiêu Tá tâu lên triều đình về đức hạnh của ông, nên được ban thưởng.

[6] Ngày Kỷ Mão, lệnh cho dân thuê nhà quan trong ba ngày không phải trả tiền, vì trời lạnh có tuyết.

[7] Tam ty tâu rằng ba kho Tả tàng trước đây mỗi kho đều có quan lại riêng, nay xin hợp làm một, chỉ đặt hai viên giám quan, Vua đồng ý.

(《Vi thị hội yếu》 chép: Gần đây đã bỏ một kho, nay lại hợp ba kho làm một, sau vì quan ít việc nhiều, nên đổi như chế độ hiện nay. Cần xem xét.)

[8] Đô đại tuần kiểm Kinh Đông Hồ Thủ Tiết tâu rằng dân trong vùng là Vương Cát biết chỗ ẩn náu của bọn cướp, bí mật báo với quan, xin đợi bắt được thì lấy của cướp ban thưởng cho hắn. Vua nói: “Như vậy thì nhà bị cướp chẳng phải càng thêm thiệt hại sao? Nên ban ba vạn quan tiền, của cướp trả lại cho chủ.”

(Hồ Thủ Tiết, chưa rõ lai lịch.)

[9] Hà Bắc chuyển vận sứ tâu rằng Trấn Định đô bố trí Chu Oánh buông lỏng, không đảm đương được chức vụ. Ngày Nhâm Ngọ, dời Oánh làm Tri châu Thiền, lệnh cho Bộ quân phó đô chỉ huy sứ Vương Năng thay thế. Oánh ở Thiền Châu, bên cạnh dinh thự châu thường xuyên có trộm cướp, tể tướng cho rằng Oánh ở cương vị tướng soái mà không thể dùng uy vọng để trấn tĩnh, xin dời ông ta đến quận khác. Vua nói: “Đặt ông ta ở nơi nhàn tịch càng tiện cho việc hưởng thụ của ông ta.” Bèn hạ chiếu trách cứ, lệnh cho ông ta bắt giữ bọn cướp. Lúc đó phát binh sửa đê điều, nhưng lương thực cấp cho quân đội phần nhiều hư hỏng không thể ăn được, lại việc sai dịch không đều, Oánh không thể quan tâm, vì thế số người bỏ trốn rất nhiều.

[10] Chiếu rằng: “Nghe nói Bảo Châu phái binh đánh giặc, tự ý vượt qua biên giới phía bắc. Việc biên cương càng phải giữ yên ổn, hãy lệnh cho châu đó xét tội và trừng trị nghiêm khắc.”

[11] Phái sứ thần đến các châu quân dọc sông Hoàng Hà, Biện, Ngự Hà, truyền lệnh cho các quan giữ đê phải cẩn thận bảo vệ đê điều. Lệ Châu tâu rằng sông Hoàng Hà vỡ đê ở cửa Niếp Gia, xin dời thành châu. Vua nói: “Thành cách chỗ vỡ đê còn hơn mười dặm, dân cư một phương rất đông, chưa thể vội dời được.” Sai Nội điện sùng ban Sử Sùng Quý, Nội cung phụng quan Vương Văn Khánh cùng với chuyển vận sứ bản lộ quy hoạch việc đắp đê, lại tâu rõ lợi hại.

[12] Tam ty mượn 50 vạn quan tiền từ kho Nội tàng.

[13] Ngày Quý Mùi, lệnh cho ruộng lúa ở Bảo An quân mỗi tuần phải tâu lên tình hình khai khẩn. Quân này giáp với địa giới phiên, nhiều lần có chiếu tu sửa mở rộng đồn điền, từ khi Cao Doãn đến nhậm chức, việc ít khi tâu lên, vì thế trách cứ.

[14] Ngày Giáp Thân, phái Nội cung phụng quan Vương Hoài Tín, Thị cấm Lý Yến đến Tiểu Lạc Môn ở Tần Châu đặt trại chặt gỗ, lệnh cho Tần Châu phái 100 kỵ binh, 500 bộ binh hộ tống, không được huy động nhiều binh lính để tránh làm nghi ngờ người Nhung.

[15] Ty thiên tâu rằng mặt trăng lẽ ra phải khuyết mà không khuyết, tể thần dâng biểu chúc mừng.

[16] Ngày Ất Dậu, châu Tịnh báo số lượng cỏ và thóc có thể cung cấp được trong bốn đến năm năm. Vua nói: “Hà Đông năm nào cũng được mùa, dự trữ lương thực rất nhiều. Từ nay về sau, các nơi được mùa nên tích trữ lương thực kịp thời để phòng khi mất mùa.” Nhân đó nói về việc dự trữ ở Thục Trung rất ít[2]. Trần Nghiêu Tẩu nói: “Hai xuyên đất đai màu mỡ, nhưng dân không chú trọng dự trữ, nếu gặp mất mùa nhỏ thì phải dùng rau củ để ăn.” Vua nói: “Hà Đông và phương Bắc không thể thiếu thóc, việc coi trọng nông nghiệp và tích trữ lương thực là đạo nuôi dân của quốc gia.”

[17] Trong cửa Xương Hạp có người mỗi đêm thân thể phát sáng, có thể đi lại qua các khe hở mà không bị cản trở. Vua bảo các tể thần: “Đây chắc chắn là yêu nhân mê hoặc dân chúng.” Liền lệnh cho Khai Phong phủ bắt giữ và cấm chỉ.

[18] Chiếu rằng từ nay về sau, khi văn võ quan qua đời cần định thụy hiệu, gia đình xin phép thì cứ theo lệ cũ mà thi hành, không cần tấu lên chờ chỉ.

[19] Chiếu rằng quân Điện tiền Mã Bộ tuyển bổ cấm quân, quân Phụng Nhật Thượng Tam mỗi chỉ huy đủ 300 người, quân Long Vệ Thượng Tứ mỗi chỉ huy đủ 250 người, các quân Củng Thánh, Kiêu Kị, Kiêu Dũng, Ninh Sóc, Thần Kị, Vân Kị, Vũ Kị mỗi chỉ huy đủ 350 người, đều chọn từ quân dưới để bổ sung. Vua nói: “Yên ổn không quên chiến tranh, là đạo xưa.” Lại lệnh chọn người tài giỏi dũng cảm để dẫn vào đối đáp rồi bổ nhiệm.

[20] Khiết Đan thường cử người đến Ninh Hóa quân, chiếu rằng ở phố Hoành Lĩnh xây dựng quán xá để đón tiếp. Theo lời thỉnh cầu của An phủ sứ vùng biên giới Hà Đông.

[21] Ngày Kỷ Sửu, chiếu rằng do mưa lớn làm hại mùa màng, miễn thuế thu của dân Khai Phong phủ.

[22] Ngày Nhâm Thìn, lệnh cho Hà Dương xuất một vạn hộc thóc trong kho bán giảm giá để giúp đỡ dân nghèo.

[23] Có người dâng thư nói rằng sau khi Cống viện đóng cửa, gia nhân của Triều Huýnh và Lý Duy đã đến trước tỉnh cầu xin tiền bạc, xin lệnh cho Khai Phong phủ bắt giữ. Vua sai trung sứ đến dụ Triều Huýnh và Lý Duy ngăn chặn việc này. Sứ giả trở về, tâu rõ tình trạng lo sợ của Triều Huýnh và Lý Duy. Ngày Giáp Ngọ, Vua ban chiếu thư an ủi hai người.

[24] Kinh thành lập bảy trường ở kho Thường Bình để bán gạo, người đến mua rất đông, có lúc còn tắc nghẽn. Vua ra chiếu chia thành mười bốn trường để thuận tiện cho dân.

[25] Lệnh cho Hoa Châu xuất thóc từ kho Thường Bình bán rẻ để cứu tế người nghèo.

[26] Ngày Bính Thân, Vua ra chiếu miễn thuế lực thắng tiền cho thuyền qua sông Hán Giang ở các châu quân.

[27] Chiếu rằng kho lúa ở Bảo Châu nhiều năm chưa dùng đến, sợ lâu ngày hư hỏng, lệnh cho Tam ty quyết định cách xử lý.

[28] Quan tuần hạt mã đệ phố ở Hoàn Khánh lộ tâu rằng người Phiên say rượu cướp dây cương ngựa, đã giao cho giám áp xử lý. Vua nói: “Người Phiên thuộc hộ dám can thiệp vào sứ mệnh, lệnh cho bản lộ bộ thự điều tra, xử phạt nặng.”

[29] Ngày Đinh Dậu, Doanh Châu tâu rằng thương nhân phương Bắc mang hàng hóa đến châu buôn bán, bị dân chúng đe dọa, phải đút lót nhiều mới thoát. Vua ra chiếu cho an phủ sứ biên giới thu lại số tiền đút lót, trả lại cho phương Bắc, và ra lệnh khắp nơi bảo dân chúng, nếu muốn buôn bán thì đến chợ quan, không được lén đến biên quận.

[30] Ngày Mậu Tuất, Trứ tác tá lang Liêu Thành Lý Thùy dâng sách 《Đạo Hà Hình Thế》 ba thiên cùng bản đồ, đại lược nói rằng:

“Thần xin từ phía đông quận Cấp, theo dòng sông cũ của Vua Vũ, dựa vào sông Ngự, giảm bớt thế nước, chảy ra giữa ba ngọn núi Đại Phi, Thượng Dương, Thái Hành, khôi phục dòng cũ của sông Tây Hà, chảy về phía bắc đến phía tây Đại Danh, phía nam Quán Đào, hợp với sông Xích Hà ở phía đông bắc rồi đổ ra biển. Nhân đó, ở phía bắc huyện Ngụy đào một con kênh, hướng chính bắc hơi lệch về phía tây, đi qua sông Hoành Chương, chảy ra Hình, Minh, như sách 《Hạ Thư》 chép về sông Giáng, hơi lệch về phía đông, đổ vào sông Dịch, hợp với sông Bách Tế, gặp sông Triều rồi đổ ra biển. Từ Đại Phi trở xuống, sông Hoàng Hà và sông Ngự chảy lẫn vào nhau, dựa vào núi và đê, thế nước không thể chảy xa. Như vậy thì dẫn nước lên vùng cao mà chảy về phía bắc, trăm họ được lợi, quân Hung Nô từ phía nam xâm lược sẽ không có đường vào. 《Vũ Cống》 chép “bên phải là núi Kiệt Thạch, đổ ra biển” [3], Khổng An Quốc nói: “Sông chảy ngược lên giới hạn của châu này.”

Ban đầu, từ phía tây Đại Phi 80 dặm, phía đông kênh đào do Tào công khai thông 30 dặm, dẫn nước sông chính bắc hơi đông 10 dặm, phá đê cổ của Bá Vũ[4], qua bãi chăn ngựa[5], theo đường cũ của Vũ, lại đi về phía đông 30 dặm, rẽ về phía tây Đại Phi, phía bắc quân Thông Lợi, dọc theo Bạch Câu, lại về phía tây sông lớn, phía bắc qua Thanh Phong, phía tây Đại Danh, qua phía đông huyện Nguyên Thủy, huyện Ngụy, đến phía nam huyện Quán Đào, vào lòng sông cũ của Đồn Thị, hợp với Xích Hà rồi chảy về phía bắc ra biển.

Sau đó, từ phía tây Đại Phi, khơi thông bờ tây lòng sông cũ, đào một nhánh kênh, chính bắc hơi tây 5 dặm, rộng sâu bằng kênh Biện, hợp với đường Ngự Hà, thông về phía bắc Đại Phi, tức là đất cứng đào một nhánh kênh, đông tây 20 dặm, rộng sâu bằng kênh Biện, lại về phía đông sông lớn. Hai nhánh kênh chia dòng, thì phía tây chia ba phần nước, vẫn có thể chảy vào kênh cũ Thiền Uyên. Phần lớn nước sông từ lòng sông cũ phía tây bắc sông lớn chảy về đông bắc[6], hợp với Xích Hà rồi ra biển, sau đó ở phía bắc huyện Ngụy, khơi thông bờ tây Ngự Hà, đào một nhánh kênh, chính bắc hơi tây 60 dặm, rộng sâu bằng Ngự Hà, hợp với sông Hoành Chương.

Lại ở phía bắc châu Ký, phía tây nam châu Thâm 30 dặm, đào bờ tây sông Hoành Chương, chặn nước làm cửa, chảy về tây bắc vào sông Hô Đà, khi lũ thì chặn lại, khiến nước chảy dần về phía đông ra biển Bột Hải, khi hạn thì mở ra, khiến nước chảy về phía tây tưới ruộng đồn điền, có thể thấy việc phòng thủ biên giới, hình thế lợi hại đều xuất phát từ Trung Quốc vậy.

Từ thời Hán trở về sau, những người bàn về thủy lợi nhiều lần muốn tìm lại dòng sông cũ của Cửu Hà để khơi thông. Nay xem xét bản đồ, Cửu Hà đều nằm ở phía bắc Bình Nguyên, và sông đã làm vỡ đê ở Thiền, Hoạt, chưa đến Bình Nguyên thì đã vỡ rồi, vậy thì Cửu Hà có lợi gì? Hán Vũ Đế bỏ con đường cũ ở Đại Phi, khơi dòng nước mạnh ở Đốn Khâu, khiến nước tràn vào Duyễn, Tế, tiếng tăm vang khắp thiên hạ. Phía bắc Bình Nguyên địa thế thấp, thoát nước rất dễ, nên các đê cũ ở giữa Thương, Đức đều còn nguyên vẹn. Phía đông Hoạt Đài địa thế cao bằng, nước chảy ra biển hơi khó, nên giữa Tề, Lệ thường có sóng lớn. Nếu cho sông chảy về phía bắc, thì lợi ích rất rõ ràng. Đáng tiếc thay, ruộng đất bằng phẳng ở Hà Sóc, đất đai màu mỡ trải dài ngàn dặm, lại để cho quân địch cưỡi ngựa cướp bóc, không có núi sông hiểm trở để phòng thủ, không có địa thế thuận lợi để quan sát, dù tướng tài binh mạnh cũng không thể tiến xa, có thể nói là trao đất tốt cho Hung Nô, mượn quân giặc làm cánh hổ. Giả Nghị, Triều Thác thời Hán không bàn đến việc này vì sông chưa chảy về phía đông; Đái Trụ, Mã Chu thời Đường không bàn đến việc này vì phòng thủ ở phía bắc U Châu. Nay sông lớn đều chảy về phía đông, toàn bộ Yên Châu lọt vào tay phương bắc, thì kế sách chống giặc không gì lớn hơn việc trị sông. Nếu không, thì trăm thành của Triệu, Ngụy, dân giàu muôn vạn[7], chính là dạy giặc cướp và mời giặc đến vậy. Một ngày nào đó, chúng thừa cơ biên giới ta thiếu lương thực, nhân lúc hư yếu mà xâm phạm, lúc đó mới tính kế thì thật khó, chi bằng nhân lúc dân đủ ăn, của cải dồi dào, huy động sức dân nhẹ nhàng mà làm, thật là việc lớn hưng lợi trừ hại.

Vua xuống chiếu cho Xu mật trực học sĩ Nhiệm Trung Chánh, Long đồ các trực học sĩ Trần Bành Niên, Tri chế cáo Vương Tăng bàn kỹ. Trung Chánh tâu rằng: “Xem xét kỹ lời tâu, rất là chu đáo. Lời tâu nói từ Hoạt Đài trở xuống, chia làm sáu nhánh, thì dòng chảy xuôi dốc, nước xiết khó kiểm soát, e rằng nước sẽ dồn lại thành một, không thể theo hướng dẫn. Nếu nhất định chia thành sáu nhánh, thì lại thêm sáu cửa sông, lâu dài khó đắp đê phòng; cũng lo rằng nước sẽ chảy vào Hô Đà, Chương Hà, dần dần làm hai con sông này bị bồi lấp, càng thêm hại cho dân. Lại đắp đê bảy trăm dặm, huy động hai mươi mốt vạn bảy ngàn dân phu, lại tốn nhiều thời gian, chiếm đất dân, rất phiền phí. Sách và bản đồ tuy khó thực hiện, nhưng kiến thức uyên bác đáng khen, xin gửi vào Sử quán.” Vua nghe theo.

[31] Tháng đó, Vua xuống chiếu dùng gạch xây thành hoàng thành.

[32] Tháng 2, ngày Canh Tý, châu Hoàn tâu rằng con trai của Lệnh Hồ Khiêm, nguyên là Chỉ huy sứ bộ Phiên châu Linh, từ châu Linh trở về. Vua cho rằng Khiêm trước đây ở châu Linh từng có công đánh nhau với quân Tây Nhung, nên được bổ nhiệm chức vụ quân sự. Nay con trai ông lại có thể hướng về giáo hóa, Vua xuống chiếu cho châu ấy cấp lương thực đầy đủ, rồi sai đến kinh đô.

[33] Ngày Tân Sửu, Tào Lợi Dụng, Bộ thự châu Diên xin xây dựng thành con. Vua cho rằng làm thế sẽ làm khổ dân, nên không cho phép.

[34] Ngày Giáp Thìn, Trần Nghiêu Tá, Chuyển vận sứ Lưỡng Chiết tâu rằng: “Trong các châu thuộc quyền, dân chúng thường phạm pháp vì cờ bạc, các ty đã ghi tên họ, mỗi khi có tranh chấp, không xét đúng sai, liền xử phạt nặng, khiến dân không có cơ hội sửa đổi. Từ nay mong lệnh cho các châu xét những người dễ cải tạo, xử lý theo lý, nếu phạm ba lần trở lên, tình tiết nặng thì tâu xin xử lý.” Vua đồng ý.

[35] Ngày Ất Tỵ, Tiền Chiêu Hậu, Nội điện Sùng ban, Các môn Chi hậu tâu rằng: “Lính Hà Thanh có kẻ lười biếng, dùng liềm rìu tự chặt ngón chân, để được chuyển đến lao thành châu lân cận. Từ nay mong xử xong rồi cho về quân cũ.” Vua đồng ý.

[36] Trước đây, nước Chiêm Thành cống sư tử, có hai người Man ở lại nuôi dưỡng trong vườn thượng uyển. Vua lo họ nhớ quê hương, ngày Bính Ngọ, sai cấp đủ lương thực rồi cho về.

[37] Ngày Đinh Mùi, ty Quần mục được cấp mỗi tháng năm vạn tiền để chi dùng công việc.

[38] Dời một chỉ huy kỵ binh Tiệp của châu Mạc và quân Thuận An đến đóng ở châu Doanh. Trước đây, có người dâng thư nói rằng khi mới chiêu mộ quân này, toàn là những thanh niên hư hỏng ở biên giới, xin dời đến Cao Dương Quan. Vua không muốn khiến họ sinh nghi ngờ, nên sai Bộ thự Cao Dương Quan mỗi quý lấy hai chỉ huy để tập võ nghệ. Lại nghe nói họ mệt mỏi vì đi lại, nên có lệnh này.

[39] Thủ lĩnh người Man ở động Lạc Phố, Ma Bính là Điền Sĩ Quỳnh cống vải.

[40] Ngày Mậu Thân, Lý Địch, An phủ sứ Giang, Hoài dâng số tiền thuế hạ thu của các châu Giang Nam, Vua xuống chiếu những nơi bị thiên tai đều được miễn, còn lại thì nới rộng thời hạn.

[41] Lệnh cho châu Định xuất thóc từ kho Thường bình, bán rẻ để làm lợi cho dân.

[42] Ban đầu, Vua sai Vương Đán soạn bài tụng đàn tế ở Phần Âm, Vương Khâm Nhược soạn bài tụng đàn triều cận, Trần Nghiêu Tẩu soạn bài tụng miếu Hậu Thổ. Ngày Canh Tuất, Vương Đán và các người khác dâng bài tụng đã hoàn thành, đều được thăng chức Đặc tiến và phong ấp. Vương Đán từ chức Tập hiền điện Đại học sĩ được đổi làm Chiêu văn quán Đại học sĩ. Vua định theo lệ như khi đi phong thiện ở phía đông, thăng chức cho tất cả, nhưng Vương Đán và các người khác cố từ chối nên được miễn.

[43] Chiếu rằng những người dự thi ở Nam tỉnh, nếu phạm tội công thì được chuộc tội.

[44] Ngày Nhâm Tý, Vua ban chiếu khen ngợi Tri châu Lễ Châu[8] Lưu Nhân Bá, cho ông tiếp tục tại nhiệm. Khi ông mãn nhiệm, quan lại và dân chúng đều xin ông ở lại. Lưu Nhân Bá nói rằng gần đây ông đã làm mười bài ca, miêu tả phong tục của châu mình, với ý khuyến khích nông tang, nông dân hát ở ngoài đồng. Bài ca truyền đến các động, Thứ sử Cẩm Châu là Hướng Quang Thuấn tiếp tục làm thêm mười bài dâng lên, Vua rất hài lòng.

[45] Các tán viên ở Quân đầu ty đều được xét theo lệnh ân xá, sai Xu mật tham chước tội trạng, phân bổ đến các châu ngoài; các quân hiệu có hiểu biết về thủy sự thì bổ nhiệm đến các châu ven sông. Từ nay, những người đã từng được sai phái mà không phạm lỗi, sẽ được ghi tên báo lên, để xét thăng chức.

[46] Ngày Quý Sửu, Vua nói với các tể thần: “Nghe nói ở Cống viện khi thi các khoa, đều bắt thí sinh cởi áo để kiểm tra, sợ họ giấu sách, như thế làm mất thể thống của việc tuyển chọn nhân tài, nên bãi bỏ.” Trước đó, Trực sử quán Lưu Hài xin rằng những người giấu sách và người bảo lãnh cùng bị đánh trượt một khoa. Năm đó, có mười tám người bị đuổi ra vì giấu sách, cùng chín mươi ba người bảo lãnh, trong đó có mười hai người đáng lẽ được đề danh. Các quan báo lên, Vua đặc cách cho họ dự thi điện, rồi hạ chiếu cho Lễ bộ xem xét lại, bãi bỏ chế độ đánh trượt người bảo lãnh.

[47] Chiếu rằng ở Khai Phong phủ, nếu dân và quân đánh nhau kiện tụng, thì lệnh cho Tri huyện và Đô giám cùng xét xử. Vì có người dâng thư nói rằng huyện và quân thường bao che cho bộ hạ của mình, nên nhiều việc bị oan ức.

[48] Ở các châu phía tây kinh thành, nơi nào dân và quân đói khổ, lệnh cho Chuyển vận sứ dụ bảo các nhà có tích trữ, nếu ai có thể cứu tế hoặc bán thóc gạo với giá giảm một nửa, đều ghi tên báo lên, để xét ban ân thưởng.

[49] Chiếu rằng từ nay các quân ở Phúc Châu được cấp bổng lộc, tất cả đều dùng tiền đồng, không được dùng tiền sắt xen vào.

[50] Ngày Bính Thìn, chiếu rằng: “Nghe nói người đi cống phụng ở Hạ Châu trên đường mua bán vật phẩm, có phần nào gây nhiễu dân. Nên lệnh cho các cơ quan tại chỗ nghiêm khắc răn bảo.”

[51] Dân lưu vong ở Hoài Châu có người chết đói, lệnh cấp tiền cho từng nhà để cứu tế.

[52] Chiếu rằng dân ở Kinh Đông, Kinh Tây, Hà Bắc, Thiểm Tây, Giang, Hoài Nam chở củi qua các bến sông, không thu thuế; dân ở Tân Châu, Lệ Châu đem vật phẩm vào thành thị, được miễn thuế một năm.

[53] Chiếu cho Tam Ban viện chọn sứ thần làm Đồng đô tuần kiểm các châu. Trước đây, thường dùng những người được bổ nhiệm do ấm tước mà chưa từng trải việc, nên nay nghiêm khắc răn bảo.

[54] Chiếu rằng các tư dịch do Khai Phong phủ phái đi tuần tra kênh rạch, nhiều kẻ nhân cơ hội gây nhiễu dân, nên đặt thành điều lệ, kẻ phạm tội sẽ bị trừng trị.

[55] Ngày Kỷ Mùi, chiếu rằng các quan từ Hàn lâm học sĩ trở xuống, theo chiếu cử 171 người là quan kinh triều, nên ghi rõ người tiến cử và sổ sách lịch sử làm quan của bản thân để dâng lên.

[56] Tam ty mượn 30 vạn quan tiền từ Nội tàng khố, được chấp thuận.

[57] Ngày Nhâm Tuất, lệnh Lễ bộ Cống viện chép các đề thi phát giải của các châu dâng lên, vì Vua sẽ thân chính khảo thí các cống sĩ, lo ngại có sự trùng lặp. Từ đó, lấy làm lệ thường.

[58] Ngày Quý Hợi, chiếu rằng các châu quân ở Hà Bắc thường nộp thuế thị chính bằng bột mì và các vật phẩm khác, đặc biệt được miễn một năm.

[59] Ngày Giáp Tí, lấy Thị ngự sử Triệu Chẩn làm Binh bộ viên ngoại lang, Ích châu lộ chuyển vận sứ. Vua bảo Chẩn rằng: “Thục xa cách triều đình, việc dân gian có gì cần thay đổi, hãy tâu lên hết.” Chẩn đến nơi, việc lớn nhỏ đều tận tâm tra xét, có ngày dâng tới mấy tờ tấu. Huyện Bồ Giang bắt không được bọn cướp, mà quan phủ lại bắt giam mấy chục người dân vô tội, đánh đập ép nhận tội, rồi khớp lời khai như không có gì đáng ngờ. Chẩn đi tuần, nghi có oan, bèn vào ngay nhà ngục huyện, nhân đó biết hết tình trạng oan khuất, liền thả họ ra.

[60] Tri phủ Hà Nam Phùng Chửng tâu: “Thánh thượng ban ơn cho phép nghỉ dưỡng bệnh, xin miễn ký duyệt các văn thư tiền lương của lưu thủ và phủ ty.” Vua ra chiếu chỉ cho ký duyệt sổ sách, nhân đó lấy lệ của Khấu Chuẩn để dụ.

(Lệ của Khấu Chuẩn, cần tra cứu.)

[61] Ngày Bính Dần, ra chiếu rằng do sông Hoàng Hà vỡ đê ở châu Tân, châu Lệ, ruộng đồng ngập nước, dân không yên ổn, giao cho chuyển vận sứ và trưởng lại bản lộ hết lòng an ủi.

[62] Bộ quân đô ngu hậu, Anh châu phòng ngự sứ Viên Quý bị bệnh, Vua sai thái y đến khám, sáng tâu bệnh đỡ, chiều thì mất. Vua trách thái y không làm tròn việc, đều cách chức.

[63] Nhập nội nội thị tỉnh tâu rằng tiền hành Phí Tốn xin theo lệ của Trần Oánh chuyển chức, Vua nói: “Trần Oánh là tiền hành trạch khố từ khi Thái tông làm doãn Kinh thành, nên đặc cách bổ làm Điện trực. Nhập nội nội thị tỉnh chỉ có danh mục tiền hành, hậu hành tào ty, từ nay không được đặt thêm chức câu áp quan, còn lại đều bãi bỏ.”

[64] Tháng 3, ngày Mậu Thìn, mùng một, ban chiếu rằng: “Từ nay, các án tấu lên từ Thẩm hình viện và Đại Lý tự, nếu tình trạng đã rõ ràng, điều khoản chưa đầy đủ nhưng không gây trở ngại, thì đều cho phép xét xử ngay. Nếu sự việc chưa đầy đủ, thì chỉ ra ngay việc đó, giao cho quan nguyên suy xét lại và thông báo với Đề điểm hình ngục ty. Nếu Pháp tự phát hiện sai sót thì tiến hành xét lại, cần xem xét kỹ lưỡng, có thể kết thúc mà không gây phiền nhiễu thêm. Quan nguyên suy, nếu sự việc không thay đổi mà chưa đầy đủ, cũng không cần hỏi tội. Cần dứt khoát để thể hiện ý quan tâm thương xót.”

[65] Ngày Kỷ Tỵ, Tam ty tâu rằng dân Bác Châu là Đoàn Luân chiếm dụng ruộng đất, nên thu lại số tơ thuế tích lũy nhiều năm, xin cho hạn 10 năm nộp vào quan. Chiếu theo, và miễn giảm một nửa.

[66] Ngày Đinh Sửu, ban chiếu rằng các châu ở Hà Sóc còn nợ thuế mùa thu năm ngoái, nên tạm ngừng thu. Dân nào mang thuế bỏ trốn, giao cho quan trưởng lại chiêu dụ trở về làm ăn, thêm sự an ủi.

[67] Ngày Tân Tỵ, ban chiếu cho Đại Lý tự rằng từ nay các nơi tấu án nếu có sai sót trong việc xử tội đồ nửa năm, thì các quan nguyên khám, lục vấn, kiểm đoán không cần hỏi tội.

[68] Tam ty tâu xin mượn 24.000 tấm lụa từ nội tàng, được chấp thuận.

[69] Ngày Quý Mùi, ban chiếu cho Lễ bộ rằng những người tấu danh mà giấu giếm tang phục, đều phải tự khai báo, không được tự ý tham gia điện thí.

[70] Tam ty tâu rằng các ty đưa sứ giả Khiết Đan đi, trên đường gặp tuyết lạnh, có mất mát đồ đạc và lừa ngựa chết. Chiếu tha tội, miễn trừ.

[71] Ngày Bính Tuất, lệnh cho Xu mật viện lấy danh sách các quân nhân từng tham gia chiến trận, có mũi tên cắm trong người, để báo lên. Trước đây, các quân nhân lấy được mũi tên đều được thưởng. Mã Tri Tiết tâu: “Thần từng nhiều lần bị trúng tên, nếu trúng xương thì chết ngay, không trúng xương thì lập tức lấy ra, làm gì có chuyện mũi tên còn trong người nhiều năm. Chỉ vì gần đây có lệ lấy được mũi tên thì được bổ làm tiểu hiệu, nên họ tham thăng tiến mà làm giả. Nay nếu không muốn truy cứu, xin chỉ thưởng bằng vàng lụa, không thăng chức, thì việc gian lận sẽ tự hết.” Vua nói: “Việc này cần kiểm tra, nếu không phải gian lận thì vẫn nên thưởng như trước, chỉ cần không để lạm dụng là được.”

(Tháng 2 năm thứ 2, phái các lộ cử thầy thuốc lấy mũi tên về kinh.)

[72] Ngày Kỷ Sửu, Vua ngự điện Sùng Chính thân hành khảo thí các cống sĩ đỗ kỳ thi Hội do Lễ bộ tổ chức. Ở hành lang điện bố trí chỗ ngồi, ghi tên họ, rồi dán bảng để không được đổi chỗ. Lần đầu in đề thi thơ, phú, luận để ban cho thí sinh, cấp giấy để làm nháp. Lấy đỗ tiến sĩ từ Từ Thích ở Kiến An trở xuống 100 người, đồng tiến sĩ xuất thân 26 người, các khoa khác đỗ 324 người, đồng xuất thân 52 người. Trước đó, chấm quyển tiến sĩ vào hạng tứ đẳng chỉ có 90 người, lệnh lấy những người đã thi 5 khoa trở lên chấm lại, mới đủ số như trên. Chiếu rằng những người vào hạng tứ đẳng thì xếp phú, luận trước, thơ sau. Lại lấy 10 quyển hạng cao, giao cho các đại thần chấm lại, rồi mới ban chiếu cho đỗ.

[73] Sai Cáp môn chỉ hậu Quách Thịnh đi trạm đến Lệ châu, cùng Chuyển vận sứ và sứ thần được phái trước đó bàn việc tu sửa sông ngòi. Vì việc sửa chữa đê điều chậm trễ trong việc tấu báo.

[74] Ngày Canh Dần, Vua làm bài tựa tập thơ xướng họa của các vương cho tể tướng xem, rồi lệnh đưa tập thơ vào Bí các.

[75] Ngày Quý Tỵ, chiếu rằng ngày Thiên Khánh tiết cấm hành hình 7 ngày, ngày Thiên Huống tiết cấm 1 ngày, ghi vào lệnh.

[76] Lấy đường hậu quan, Thái thường bác sĩ Lưu Minh Thứ làm đề điểm ngũ phòng công sự[9], ban thưởng 30 vạn tiền. Vua triệu dụ rằng: “Việc ngũ phòng nhiều, nhờ ngươi siêng năng cần mẫn, nên càng hết lòng.”

[77] Ngày Giáp Ngọ, ra chiếu cho phép sĩ dân vui chơi ở Kim Minh Trì và Quỳnh Lâm Uyển, nếu có xích mích nhỏ, không đến mức đánh nhau gây thương tích, thì quan ty không được bắt giữ.

[78] Ngày Đinh Dậu, có người dâng thư nói rằng tiến sĩ Tiêu Lập Chi, vốn tên là Lưu, từng vì đánh bạc bị phạt trượng, nay đổi tên đi thi đỗ đạt. Vua ra chiếu cho quan ty triệu Lập Chi đến tra hỏi, Lập Chi nhận tội. Vua ra lệnh tước bỏ sắc chỉ, phạt 40 cân đồng, rồi đuổi về.

[79] Theo chế độ gần đây, quân viên có người lâu năm công cao thì được phong làm Ngự tiền Trung tá Quân đầu, cấp nhà ở, nhưng các chư ty sứ phó thường cưỡng chiếm. Vua ngầm điều tra biết được hơn 20 chỗ, bèn ra chiếu cho Vương Khâm Nhược dụ bảo Quân đầu ty, lệnh tất cả phải dọn ra trả lại.

(Theo 《Hội yếu》 là việc tháng 3, nhưng 《Thực lục》 không chép, nay phụ chép.)

[80] Mùa hạ, tháng 4, ngày Kỷ Hợi, ra chiếu sai quan xét xử công việc, những người được cử làm suy điển, nếu qua 7 lần không bị pháp ty bác bỏ, thì được thăng một cấp.

[81] Ngày Tân Sửu, lấy Thái thường thiếu khanh, Tri Đàm châu Lưu Sư Đạo làm Tả ty lang trung, Xu mật trực học sĩ, vẫn giữ chức Tri Đàm châu. Sư Đạo giỏi việc quan, đi đến đâu cũng có tiếng tốt, quan dân vừa sợ vừa yêu. Trường Sa là nơi hội tụ của Hồ, Lĩnh, giải quyết việc rắc rối, không để tồn đọng, nên được tăng lương và tiếp tục giữ chức.

[82] Chiếu rằng: “Trước đây đã sai sứ lựa chọn những người già yếu trong quân đội trong và ngoài kinh thành, đều cấp một nửa bổng lương, cho thuộc vào hàng thặng viên, nay có thể xem xét để cho họ trở về làm nông nghiệp. Những người hợp lệ được lưu lại, cũng căn cứ vào số lượng phục dịch của từng doanh, ngoài ra lập riêng doanh xá để sắp xếp. Những người Khiết Đan, Bột Hải, Nữ Chân vốn là người ngoại quốc, nếu dừng lại thì lo họ không có nơi quy thuận, có thể giữ nguyên như cũ. Vẫn lệnh cho các châu quận nơi họ đến, cùng với bộ thự, kiềm hạt xem xét, liên danh ký tên vào tờ trình, ghi rõ số lượng nên bỏ hay giữ lại, cùng dẫn xem xét các quân hiệu không đủ năng lực, lập tức báo lên qua dịch trạm. Những người phải chuyển sang quân ngạch khác, thì phối ngay vào các châu quận gần thuận tiện. Những người ở biên giới thì chuyển vào nội địa, cùng với quan lại bản châu chuyển văn thư gửi đi. Những người phải dừng lại thì cấp giấy công nhận, chỉ cho phép ở lại bản châu, hàng năm nộp sổ tịch, cùng cấp bổng lương tháng sau, tiền trang bị, lương thực hàng ngày rồi cho về. Những ngựa được lựa chọn, chỉ những con gân yếu, răng yếu, già bệnh không thể chữa trị được, đều phân tích rõ ràng rồi báo lên. Ở kinh thành, các ty điện tiền, mã bộ quân có người được thăng hay giáng, lập tức ghi rõ danh tịch trình lên Xu mật viện, nếu có gì chưa hợp lệ thì đều sửa lại. Những người phải chuyển đi thì cấp tiền trang bị, lương thực trên đường, không cần tâu xin quyết định. Những quân sĩ ngoại châu phải giáng xuống quân phân thứ yếu, thì châu quận nơi họ thuộc về cho phép họ tự chọn nơi thuận tiện.”

[83] Ngày Nhâm Dần, châu Từ báo rằng dân đói, huyện Hương Ninh có đá thạch chi mọc ra như bột, dân hái làm bánh.

[84] Ngày Quý Mão, lệnh cho Lễ bộ Cống viện lấy các chiếu sắc trước sau có thể thi hành lâu dài, biên soạn thành điều lệ.

[85] Ngày Giáp Thìn, Tu nội ty tâu rằng tường thành hoàng thành bị sụp đổ do đất đá, khiến 12 người lính làm việc bị chết vì bị đè. Triều đình ra chiếu cấp tiền và vải lụa cho gia đình họ, đồng thời xét tội người phụ trách. Từ đó, các công trình xây dựng ngày càng nhiều, lại thêm thời tiết nắng nóng, nên tạm dừng.

[86] Ngày Mậu Thân, phong Tư chính điện Đại học sĩ, Hình bộ Thượng thư Hướng Mẫn Trung giữ nguyên chức, kiêm chức Bình chương sự. (Sách 《Thập triều cương yếu》 của Lý Đức có thêm sáu chữ “Tập hiền viện Đại học sĩ”.) Mẫn Trung lại được giao nhiệm vụ ở lại triều đình, do tính cách trầm tĩnh, được mọi người tin tưởng, Vua càng khen ngợi nên lại phong làm Tể tướng.

[87] Tam ty xin cho phép gia đình tố cáo những người buôn bán trái phép. Vua nói: “Đây là việc trái đạo lý, không phải điều triều đình nên nói.” Không chấp thuận.

(Sách 《Bản kỷ》 chép rằng vì lợi mà làm hỏng phong tục, không phải quốc thể, nên không cho phép. Nay theo 《Thực lục》.)

[88] Giao châu Lý Công Uẩn sai sứ đến cống nạp. Sứ giả được thăng chức, những người theo hầu bị bệnh chết dọc đường, vật phẩm ban tặng được gửi về cho gia đình.

[89] Ra chiếu tha cho những người dân ở Giang Nam, Hoài Nam không bị xăm mặt phải đi lao dịch, theo lời tâu của An phủ sứ Lý Địch.

[90] Hùng châu tâu rằng dân biên giới vượt sang phương Bắc đánh bạc, xử theo pháp luật rồi đưa vào quân ngũ ở Hà Nam[10]. Triều đình chấp thuận.

[91] Dân ở Hùng châu, Bá châu do nước lụt phá hủy ruộng đồng, nhiều người khó kiếm ăn nên đánh cá tự cung cấp, quan lại lại thu thuế chợ. Triều đình ra chiếu miễn thuế cho họ.

[92] Ngày Tân Hợi, ra chiếu cho quân lính kéo thuyền chở lương ở các đập nước Hoài Nam, vốn phải làm việc quanh năm rất vất vả, từ nay về sau vào mùa đông được nghỉ ngơi.

[93] Ngày Nhâm Tý, miễn cho các hộ làm muối ở Thông châu, Thái châu, Sở châu khoản nợ muối theo định mức là 14 vạn thạch.

[94] Hàng châu tâu rằng mùa đông năm trước sóng lớn đánh vào bờ sông, làm sụp đổ hơn 300 trượng. Sau khi Cao phẩm Bạch Sùng Khánh làm lễ cầu đảo, sóng yên. Triều đình phong thần sóng là Anh Liệt Vương, lại lệnh cho châu này vào mùa xuân và mùa thu tổ chức đạo trường ba ngày đêm tại miếu, dùng đồ chay tế thần.

[95] Ngày Quý Sửu, lệnh cho Thăng châu tu sửa cung quán ở Mao Sơn.

[96] Ngày Giáp Dần, Kinh Nguyên lộ Kiềm hạt Tào Vĩ tâu rằng: “Các chỉ huy phiên lạc ở các châu biên giới đều là người địa phương, quen biết địa hình núi sông, đường sá và tình hình các bộ tộc phiên. Mỗi khi có việc bắt giặc, thường làm tiên phong. Xin từ nay các quân hiệu chỉ được thăng tiến trong bản chỉ huy của mình.” Triều đình đồng ý.

[97] Ngày Ất Mão, ban chiếu rằng: “Các quan văn võ bị tố cáo, cơ quan chức năng phải báo cáo lên Cáp môn để cấm họ vào triều yết kiến.” Lúc đó, các quan thường tham gia xét hỏi án kiện, nhưng khi lên điện tấu sự, Cáp môn lại không biết.

[98] Tân khoa tiến sĩ Bành Thừa cùng các đồng khoa lên lầu chùa Tướng Quốc, đều ngắm nhìn quê hương, vui mừng vì được làm quan. Riêng Bành Thừa buồn bã nhìn về phía tây, nói: “Cha mẹ đã già, sao có thể bỏ việc phụng dưỡng sớm tối để mưu cầu vinh hiển cho bản thân?” Hôm sau, ông dâng sớ xin được ở lại quê nhà phụng dưỡng cha mẹ. Vua khen ngợi ý tốt của ông, ra lệnh cho ông được bổ nhiệm theo lệ và trở về quê. Bành Thừa là người Hoa Dương.

[99] Ngày Mậu Ngọ, sai trung sứ đi kiểm tra việc chăn nuôi ngựa của các ban, các quân.

[100] Ngày Kỷ Mùi, ban chiếu cho các châu quân biên giới: “Việc thu cỏ nuôi trâu để phòng hỏa hoạn, cấm nghiêm ngặt việc bắt dân đóng góp.”

[101] Ngày Tân Dậu, ban chiếu bãi bỏ thuế mua đồng ở các trường mỏ thuộc Nhiêu Châu, Tín Châu và tiền công mở gói trà ở Hải Châu. Lại theo lệ cũ ở Nhiêu Châu, tập hợp dân thành giáp, bắt họ mua trà ở quan trường. Từ nay cho phép dân được tự do mua bán.

[102] Ban chiếu rằng: “Gần đây, những người bị xét xử vì công vụ, qua năm gặp đại xá, nhiều người đến kinh đô kêu oan. Từ nay nên lệnh cho các quan khám án, mỗi khi xử xong án thì mời quan khác đến ghi chép hỏi cung, có được lời khai nhận tội mới bàn việc xử phạt. Nếu có việc oan sai, cho phép đến quan ghi chép hỏi cung để trình bày, tức thì chọn quan khác xét lại. Nếu quan khám án thiên vị, tức thì hặc tội tâu lên; nếu quan ghi chép hỏi cung không trình bày, cho phép đến Chuyển vận ty, Đề điểm hình ngục ty, không được đến kinh đô kêu oan.”

[103] Ngày Nhâm Tuất, Triệu Đức Minh xin cắt đất đai và nhân khẩu của Châu Tuy để sáp nhập vào địa phận của mình. Triều đình ra chiếu cho Chuyển vận sứ Thiểm Tây lấy bản thệ thư trước đây, cùng với các quan biên giới bàn bạc kỹ rồi báo lại. Ban đầu, Đức Minh đã xin việc này, các quan biên giới nói nên sáp nhập vào Diên Châu, Đức Minh lại cử sứ đến triều đình khiếu nại, nên mới có mệnh lệnh này. Đức Minh còn nói rằng bộ lạc Phiên ở Diên Châu xâm chiếm đất Hắc Lâm Bình của mình, triều đình hạ chiếu điều tra. Chuyển vận sứ Tiết Khuê xem sổ sách của quận, tìm được văn thư trước đây Đức Minh thường xin đi qua Hắc Lâm Bình, liền sao chép lại cho Đức Minh xem, Đức Minh bèn chịu thua.

(Việc Hắc Lâm Bình, căn cứ theo 《Tiết Khuê truyền》, ghi chép thêm ở đây. Tiết Khuê làm Chuyển vận sứ Thiểm Tây là vào tháng 2 năm nay.)

[104] Quan sát sứ Đồng Châu Vương Tự Tông nhậm chức Tri Châu Trấn Châu, thay thế Xu mật trực học sĩ, Cấp sự trung Biên Túc. Hai người vốn không ưa nhau, Túc thường dùng tiền công để buôn bán kiếm lời, lại sai thuộc hạ ép dân mua dê và mua thiếp. Tự Tông bèn bảo Thông phán Đông Phương Khánh và các quan khác làm tờ tấu tố cáo. Tự Tông tâu lên, các quan xin bắt giam Túc, Vua nói: “Túc đang giữ chức gần gũi, Trẫm không muốn để ông ta bị giao cho quan lại xét xử.” Lại nghĩ đến công lao giữ vững thành trì khi Túc trấn thủ Hình Châu trước đây, bèn sai Xu mật trực học sĩ Lưu Tống, Nhiệm Trung Chánh đem tờ tấu của Tự Tông cho Túc xem, Túc đành nhận tội. Ngày Ất Sửu, Túc bị tước ba chức, giáng làm Đoàn luyện phó sứ Nhạc Châu, không được tham gia việc châu. Tự Tông thường tự nhận rằng việc dời Chủng Phóng, đào mộ cáo ở Bân Châu và xét án Biên Túc là trừ được ba mối hại.

[105] Vua bảo Vương Đán và các quan rằng: “Năm ngoái sai quan ở Hà Trung phủ, Thiểm Châu đến triệu Lý Độc, Ngụy Dã, cả hai đều lấy cớ bệnh từ chối, có người nói họ trèo tường đào vách để tránh việc tìm kiếm. Gần đây nhân có trung sứ đi qua đó, đã sai đến thăm hỏi, Độc và Dã lại tự bày tỏ ý muốn lui về ở ẩn.” Đán nói: “Độc, Dã đều là bậc nho nhã, dù có bệnh không thể làm quan, nhưng nếu triều đình lấy lễ mà mời, sao có thể bỏ trốn được.”

[106] Tam ty xin mượn 30 vạn quan tiền trong kho nội phủ, Vua đồng ý.

[107] Tháng 5, ngày Mậu Thìn, mùng một, ra chiếu cho Lễ bộ tạm ngừng việc thi cử năm nay.

[108] Thượng thấy rằng ở các lộ Giang, Hoài, Lưỡng Chiết, chỉ cần hơi hạn hán là ruộng nước không thu hoạch được, bèn sai sứ đến Phúc Kiến lấy ba vạn hộc lúa Chiêm Thành chia cho ba lộ, lệnh cho dân chọn ruộng cao mà gieo trồng, vì đó là lúa chịu hạn. Lại ban bố phương pháp gieo trồng cho các chuyển vận sứ, dán bảng cáo thị cho dân biết. Sau đó lại lấy giống lúa ở điện Ngọc Thần, Thượng cùng các cận thần cùng xem, làm thơ xong thì họa lại, lại sai nội thị đem lúa ra cho bách quan xem ở đô đường.

[109] Ngày Nhâm Thân, xuống chiếu cho dân Thiểm Tây năm nay nộp thuế hạ thu, nếu thuộc về châu quân xa xôi thì cho phép nộp ở quận lân cận.

[110] Ngày Quý Dậu, Thượng đem bài thơ về con rùa lông xanh do tông thất họa lại cho các tể thần xem, nhân đó nói: “Các vương lúc rảnh rỗi, không gì bằng đọc sách viết văn. Có người xin đọc sử, Trẫm bảo rằng học cổ không gì bằng đọc Ngũ Kinh[11], đều là lời của thánh nhân.”

[111] Ngày Ất Hợi, xuống chiếu cho quân sĩ ở Hà Bắc, Hà Đông từ nay thay phiên nhau canh giữ hai vùng biên giới.

[112] Vua nước Hồi Cốt Cam Châu là Dạ Lạc Hột và công chúa Bảo Vật sai sứ đến cống.

[113] Ngày Bính Tý, xuống chiếu từ nay các quan ngũ phẩm ở Lưỡng tỉnh, tứ phẩm ở Trung thư tỉnh, tam phẩm ở các ty nếu cùng đồng liệt đi sứ, đều cho phép tiễn đưa ở ngoài thành, lại cho nghỉ một ngày. Các quan khác nếu thân thuộc, bạn bè đi xa, tùy ý tiễn đưa vào ngày nghỉ.

[114] Ty Bát Tác xin ở phía đông kinh thành làm cầu treo để thay thế cầu Biện[12]. Xuống chiếu cho phủ Khai Phong quy hoạch, lại nói về lợi ích lâu dài, những binh tượng hiến kế thì thăng một bậc. Cầu làm chưa đầy nửa năm, đã có mấy chục thuyền bị lật, lệnh phá bỏ, lại xét tội những người hiến kế, làm cầu theo chế độ cũ.

[115] Ngày Đinh Sửu, xuống chiếu cho dân ở các châu Tân, Lệ, thuê nhà công và thuế nhà, tiền muối đều giảm một nửa, đợi khi nước rút lại như cũ.

[116] Chiếu cho chuyển vận sứ Hà Bắc, từ nay thu mua cỏ và lương thực, nên đến các châu quận gần sông để tiện vận chuyển.

[117] Ngày Mậu Dần, ban chế phong Tu nghi Lưu thị làm Đức phi, lệnh cho các cơ quan chọn ngày chuẩn bị lễ để sách phong[13].

[118] Ngày Canh Thìn, Vua ngự điện Sùng Chính xét án tù, những người phạm tội chết nhưng tình tiết đáng thương, đều được tha.

[119] Chiếu rằng: “Các châu ở Thiểm có quân đồn trú[14], thường dùng cỏ tranh lợp nhà, gần kề các công sở, dễ gây cháy lan. Nên lệnh từ nay những nhà hư hỏng dần thay bằng ngói, không được nhân cơ hội quấy nhiễu dân.”

[120] Ngày Tân Tỵ, châu Vạn An tâu rằng người Di ở động Lê giết hại lẫn nhau, Tuần kiểm sứ phát binh đánh úp, có binh sĩ bị thương. Vua nghe tin liền quở trách nặng nề, nói: “Man Di đánh nhau, chỉ cho phép quan lại biên giới hòa giải, sao có thể tự ý phát binh, khiến dân bị xáo trộn!” Lập tức lệnh cho các cơ quan chọn người có thể thay thế.

[121] Ngày Quý Mùi, nhập nội cung phụng quan Giang Đức Minh tâu rằng khi giám tu miếu Đông Nhạc, dân gian nói núi có mỏ đồng, khai thác và luyện được đồng thật, xin cho lập xưởng luyện kim. Chiếu không cho phép.

[122] Ngày Bính Tuất, lệnh cho phát vận ty Giang, Hoài Nam lưu lại hai trăm vạn hộc gạo cung cấp cho triều đình để phòng cứu đói.

[123] Ngày Đinh Hợi, miễn cho châu Lệ ba phần mười thuế thu.

[124] Lệnh cho Giang, Hoài Nam từ nay miễn thu tiền đinh thân và tiền muối gạo (trước đã miễn tiền đinh thân, nay lại miễn thuế chiết khoa, không rõ vì sao. Cần xem xét).

[125] Ngày Mậu Tý, ban cho các quan cận thần lúa mạch trồng ở điện Kim Hoa.

[126] Ngày Kỷ Sửu, chiếu cho các lộ bộ thự ty, xử tội chết với quân nhân, trước đây đều không tâu lên, chỉ ghi án gửi Hình bộ, từ nay phải ghi rõ tên tội phạm gửi Xu mật viện, tâu lại để xem xét.

[127] Ngày Nhâm Thìn, viên ngoại lang Từ bộ, trực tập hiền viện Tiền Dịch và những người khác, vì để lọt mười người không đạt yêu cầu trong kỳ thi cử nhân Quốc tử giám, bị giáng chức làm giám thuế các châu.

[128] Ngày Giáp Ngọ, ban chiếu rằng từ nay các quan văn chuyển sang chức võ phải được xét hỏi về võ nghệ.

[129] Lệnh cho các châu ở Hà Bắc tuyển chọn binh sĩ trong thành đưa về kinh sư, bổ sung vào chỗ thiếu của cấm quân.

[130] Quan Tri châu Viên Châu là Hà Mông tâu rằng: “Xin cho hai loại thuế của bản châu được nộp bằng vàng.” Vua nói: “Nếu làm thế thì sẽ bỏ hết việc cày cấy.” Không cho phép.


  1. Chữ 'đệ tử' trong 'giáo thụ đệ tử bách dư nhân' nguyên bản đảo ngược, theo bản Tống, bản tóm tắt Tống, bản các và 《Tống sử》 quyển 458 truyện Châu Khải Minh sửa lại.
  2. Nguyên bản chép 'Thục Châu', căn cứ theo bản Tống, bản Tống toát yếu và bản các, sửa lại. Vì thời Tống không có 'Thục Châu'.
  3. 《Vũ Cống》 chép 'bên phải là núi Kiệt Thạch, đổ ra biển', 《Thượng Thư - Vũ Cống》 viết là 'bên phải là núi Kiệt Thạch, đổ vào sông'.
  4. Phá đê cổ của Bá Vũ, chữ 'phá' nguyên là 'bị', theo 《Tống sử》 quyển 91, 《Hà cừ chí》 sửa lại. 《Lịch đại danh thần tấu nghị》 quyển 249 chép sớ của Lý Thùy năm Thiên Hi thứ 4 cũng nói: 'Phá đê cổ của Bá Vũ, chảy vào đầm Bùi Gia, qua bãi chăn ngựa' v.v.
  5. Qua bãi chăn ngựa, chữ 'bãi' nguyên là 'dốc', theo bản Tống, bản tóm tắt Tống và sách trên sửa lại.
  6. Phần lớn nước sông từ lòng sông cũ phía tây bắc sông lớn chảy về đông bắc, trên dẫn 《Tống sử》 phía tây bắc sông lớn viết là phía tây sông lớn.
  7. Các bản đều ghi là 'phú thứ vạn ức'. Trong 《Tống sử》 dẫn trên, chữ 'phú' viết là 'phú'.
  8. Lễ Châu nguyên bản viết là 'Phong Châu', căn cứ theo Tống bản, Tống toát yếu bản và các bản khác sửa lại.
  9. Lấy đường hậu quan Thái thường bác sĩ Lưu Minh Thứ làm đề điểm ngũ phòng công sự, 'Ngũ phòng công sự' nguyên bản là 'phân ngũ phòng sự', căn cứ theo các bản và 《Tống hội yếu》 chức quan 3-23 sửa lại.
  10. 'Hà nam', bản khác chép là 'hướng nam'.
  11. Trẫm bảo rằng học cổ không gì bằng đọc Ngũ Kinh 'Ngũ Kinh', bản Tống, bản Tống toát yếu, bản các đều chép là 'Chính Kinh'.
  12. Cầu Biện nguyên chép là 'Tiểu Kiều', theo bản các mà sửa. Xem 《Tống hội yếu》 phương vực 13-20 chép năm Đại Trung Tường Phù thứ 5 tháng 9, 'mới làm cầu phao sông Biện, chưa đầy nửa năm, nhiều lần làm hư hại thuyền công tư', tức là chỉ việc này.
  13. Lệnh cho các cơ quan chọn ngày chuẩn bị lễ để sách phong, chữ 'sở' nguyên là 'hữu', theo bản Tống, Tống toát yếu và Tống hội yếu hậu phi 3-13 sửa lại
  14. Các châu ở Thiểm có quân đồn trú, chữ 'phàm thiểm' trong các bản và bản hoạt tự đều viết là 'Xuyên Thiểm', có lẽ đúng.

Bản quyền

Tục Tư Trị Thông Giám Trường Biên Copyright © 2025 by khosachviet.com. All Rights Reserved.